Áp Dụng Trong Môi Trường

 

Văn Hóa Việt Nam

 

Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam [1]

 

Nhận diện thế giới ngày nay, trước hết, chúng ta thấy đầy dẫy những sự kiện tương phản. Như trạng thái thừa thãi và đói khát. Khát vọng tự do và nhiều thứ nô nệ. Khát vọng hiệp nhất và vô số chia rẽ, hỗn độn. Tiến bộ kỹ thuật, văn hoá và tinh thần không tương hợp với nhau. Thứ đến, là đầy dẫy những thay đổi. Thay đổi về cơ cấu và trí tuệ. Vì ảnh hưởng của khoa học và kỹ thuật, gây nên quan niệm “Tĩnh” ngày xưa, chuyển thành quan niệm Động ngày nay. Thay đổi về cơ cấu xã hội. Nếp sống cổ điển biến mất. Có những hiện tượng mới, như kỹ nghệ hóa, thành thị hóa, bùng nổ các phương tiện truyền thông, những cuộc di dân, xã hội hóa.

 

Trong bối cảnh đó, con người và tôn giáo có những chuyển biến gì? Nhất là về mặt linh đạo và mục vụ, phải đáp ứng ra sao? Đặc biệt là trong môi trường văn hóa Việt Nam.

 

Bản sắc văn hóa và tính cách con người Việt nam

 

Bản sắc văn hóa Việt Nam

 

Là dung mạo, tính chất đặc biệt, tạo thành phẩm cách riêng Việt Nam. Tiến trình văn hoá Việt Nam, gồm ba giai đoạn, tạo thành ba lớp văn hóa chồng lên nhau. Lớp văn hóa bản địa, gọi là lớp văn hóa gốc. [2] Lớp văn hóa này được diễn tả trong truyền thuyết huyền sử về nguồn gốc Dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết kể rằng, “Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, đẻ ra một bọc trứng, nở ra một trăm con. Năm mươi con theo Mẹ lên núi; bốn mươi chín con theo Cha xuống biển. Còn một người con ở lại đồng bằng, dựng Nước, lên ngôi, xưng là Vua Hùng.” Qua truyền thuyết trên, bộc lộ hai đặc trưng cơ bản văn hóa Việt Nam. Đó là tính “Cộng Đồng” (bọc). Tính này dẫn tới lối tư duy tổng hợp, vì thế người Việt thường hay nói “Tổng hợp, kết luận, nguyên tắc trước.” Ví dụ, “Nói chung là…” Trái với người Tây Phương thường hay trình bày “Phân tích, yếu tố, thực tiễn” trước. Ví dụ, “Cụ thể là…” Thứ đến là tính “Tự Trị” (trăm con). Tính này dẫn đến cách ứng xử linh hoạt, vì thế người Việt thường trọng Chủ Quyền: “Phép vua thua lệ làng; đất có Thổ Công, sông có Hà Bá; nhà có Chủ…”

 

Tiếp đến là lớp văn hoá giao lưu khu vực, nhất là với Trung Hoa. [3] Ảnh hưởng của Tam Giáo đồng qui: “Phật, Khổng, Lão.” Chủ trương: “Dĩ hoà vi quí; tương hoà sinh hoá.” Tạo nên triết lý truyền thống người Việt sống “Hài Hoà.” Lớp văn hoá này đã lên tới đỉnh cao của Dân Tộc, khi Dân Tộc ta lấy Nho Giáo làm Quốc Giáo.

 

Sau cùng là lớp văn hoá giao lưu Tây Phương.[4] Ảnh hưởng văn minh, trọng thực tiễn và tự do cá nhân. Lớp văn hoá này rất mạnh, ví như lửa đang bốc. Và theo dự báo, với thời gian có thể sẽ lên tới đỉnh cao.

 

Ba lớp văn hóa trên, đặc biệt là lớp văn hóa bản địa với hai đặc trưng gốc rễ là tính “Cộng Đồng và Tự Trị”sẽ chi phối xuyên suốt trong văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử. Chúng chính là nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt những ưu điểm và khuyết điểm trong tính cách của người Việt Nam.

 

Biên soạn: Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)

 



[1]
Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam.

[2]Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. “Tiến trình văn hóa Việt Nam.” T.p. H.C.M. 1996: 82- 97.

[3]Ibid., 97-102.

[4]Ibid., 102-105.

Bài viết khác