Thứ ba, ngày 19 tháng 09 năm 2017 | 11:34 PM - Giới thiệu | Ý nghĩa logo

Kết quả hình ảnh cho "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy

VÁC THẬP GIÁ 

Truyền thông

LÃNH ĐẠO TINH THẦN

(8/8/2017)

DẪN NHẬP  

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy:

“Mọi sự tăng trưởng hay sa sút, tiến hay lùi, lên hay xuống,

thành công hay thất bại...đều tuỳ thuộc lãnh đạo”[1].

Có thể nhiều người không tin điều đó, nhưng quả thực là như vậy.

Càng sống, càng cảm thấy lãnh đạo làm nên sự khác biệt.

Lãnh đạo quyết định thành công của cộng đồng.

Học tập lãnh đạo không chỉ cho riêng mình.

Nhưng cho người theo chúng ta. 

 

Sửa Đức - Lập Uy[2]

Vua nước Tần là Mục Công hỏi Kiến Thúc:

- Tiên sinh là người hiền, vậy xin Tiên sinh chỉ bảo cho biết,

muốn làm nên sự nghiệp phải thế nào?

Kiến Thúc thưa:

- Nước Tần ta thiếu Uy và Đức. Không có Uy thì thiên hạ không sợ, không có Đức thì thiên hạ không phục. Thiên hạ không sợ, không phục thì làm nên sự nghiệp thế nào được?

Tần Mục Công hỏi:

- Vậy nên lập Uy trước hay sửa Đức trước?

Kiến Thúc thưa:

- Cả hai nên làm cùng một lúc, vì Đức là gốc, Uy là ngọn để giúp cho Đức. Có Đức mà thiếu Uy thì không giữ được nước. Có Uy mà thiếu Đức thì không thu phục được lòng dân.

Mục Công hỏi:

- Nay quả nhân muốn sửa Đức, lập Uy thì phải làm thế nào?

Kiến Thúc thưa:

- Dân nước Tần ta vì tật nhiễm phong tục mọi rợ, quên hết lễ nghĩa. Nay muốn cho biết tôn kính người trên thì phải dùng giáo hoá và hình phạt. Có giáo hoá thì dân biết ơn. Có hình phạt thì dân biết sợ. Phải có như thế, thì toàn thể dân chúng trong nước, mới chẳng khác nào như các bộ phận trong cơ thể một người.

Tần Mục Công lại hỏi:

- Cứ theo chỉ giáo của Tiên sinh, có thể đã đủ dựng nghiệp chưa?

Kiến Thúc thưa:

- Thế cũng chưa đủ. Muốn dựng nghiệp thì có ba điều nên tránh:

      1.  Chớ tham lam: Tham lam thì có nhiều lầm lỗi.

      2.  Chớ tức giận: Tức giận thì có nhiều khó khăn.

      3.  Chớ vội vàng: Vội vàng thì có nhiều thất bại.  

Chúa Công biết tránh ba điều ấy thì mới có thể làm nên nghiệp lớn.

Tần Mục Công khen phải, nghe theo.

Quả về sau làm nên Đại Nghiệp.

 

Sau Công Đồng Vat.II, Giáo Hội cơ cấu chuyển thành Giáo Hội Hiệp Thông. Sự thay đổi này, đã khiến thay đổi về cách thức lãnh đạo. Lãnh đạo cơ cấu chuyển sang lãnh đạo hiệp thông.

Lãnh đạo cơ cấu, dựa trên chức vụ và quyền hành. Người có chức vụ phải chu toàn trách nhiệm của mình bằng cách ra lệnh, điều khiển và sai khiến. Người đứng đầu trong hệ thống này gọi là người chỉ huy.

Lãnh đạo hiệp thông, là một thứ quyền vô hình, thực sự do uy tín tạo nên. Người có quyền uy hay uy đức chính là người lãnh đạo (leader/leadership) nhờ khả năng ảnh hưởng tới người khác bằng những gì mình có, nơi mình, do người khác nhìn thấy rồi tự nguyện chấp nhận, không bị ép buộc theo. Cho nên, người lãnh đạo tinh thần không lãnh đạo bằng chức vụ mà lãnh đạo bằng khả năng thu hút người khác qua hành động và bằng sự hiểu biết của mình. Nói khác, đó là phương thức lãnh đạo bằng uy đức hay quyền uy[3]. Giáo Hội hôm nay cần những người lãnh đạo như thế.

NHẬN THỨC

Theo Kinh Thánh, người lãnh đạo là người thực sự được Thiên Chúa tuyển chọn. Đó là một ơn gọi. Ơn gọi trở thành người phục vụ, người đầy tớ. Đặc điểm của phương thức lãnh đạo tinh thần theo ý Thiên Chúa, là Ngài dùng đời sống của họ như dụng cụ của Ngài để xây dựng Nước Trời và thay đổi thế giới.

1.      Ý nghĩa

Lãnh đạo tinh thần là gì?

Có hàng ngàn định nghĩa khác nhau về lãnh đạo. Một định nghĩa mới về lãnh đạotinh thần: “Lãnh đạo tinh thần là dẫn dắt Dân Chúa đạt tới chương trình của Ngài.”[4]Đây là một định nghĩa ngắn nhưng mô tả cốt lõi về lãnh đạotinh thần.

Nó hàm chứa năm sự thật.

Một là bổn phận của người lãnh đạo là dẫn dắt Dân Chúa từ nơi mà họ đang ở tới nơi mà Thiên Chúa muốn họ tới. Hai là họ phải tin vào Chúa Thánh Linh, vì Thiên Chúa kêu gọi họ, nhưng Chính Thánh Linh của Ngài mới có thể thực hiện được điều mà Thiên Chúa muốn. Ba là họ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về việc dẫn dắt Dân Chúa tới nơi theo ý định của Ngài. Bốn là họ có thể ảnh hưởng tới toàn dân chứ không chỉ là Dân Thiên Chúa, như trường hợp Giuse, thủ tướng Ai Cập trong thời Cựu Ước. Năm là họ làm việc xuất phát từ chương trình của Chúa: “Đây là Con Ta, Người Ta tuyển chọn; hãy nghe Lời Người”[5].

2.      Mục đích: Xây dựng Nước Trời và thay đổi thế giới.

2.1.Xây dựng Nước Trời

Tìm kiếm và khám phá chương trình của Chúa

Thiên Chúa dùng đời sống của người lãnh đạo như dụng cụ của Ngài để xây dựng Nước Trời. Vì thế người lãnh đạo tinh thần tiên vàn phải tìm kiếmvà khám phá ra chương trình của Chúa để dẫn dắt Dân Chúa tới mục tiêu của Ngài.

Dẫn dắt Dân Chúa:

Phải hiểu chương trình của Thiên Chúa và biết làm thế nào để dẫn Dân Chúa tới con đường của Ngài. Dân Chúa chỉ tin vào người lãnh đạo khi họ thấy người lãnh đạo tin vào Thiên Chúavà làm điều Thiên Chúa dạy[6].

2.2.Thay ĐổiThế giới.

Người lãnh đạo được Chúa đào luyện cùng với sự cộng tác của con người, để đáp ứng sứ vụ hành động then chốt của người lãnh đạo: “Thay đổi, đổi mới.”

Thực ra “Thay đổi” là Lời chung trong Kinh Thánh. Thay đổi bắt nguồn từ lý tưởng Kinh Thánh “Tiến tới trời mới đất mới.” Hơn nữa, thay đổi còn là qui luật cuộc sống: “Sống là thay đổi.” Và “ Một là thay đổi hay là chết.” Người lãnh đạo cần đào sâu thêm về những yếu tố, giúp thay đổi đúng ý Chúa và mưu ích cho con người[7].

3. Đặc điểm

3.1. Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo: “Hoàng Thiên Hữu Nhãn.”

“Là vì Thiên Chúa có mắt rảo quanh khắp cả thiên hạ, để làm cho những kẻ thành tâm với Ngài được vững mạnh”[8]. Mắt biểu tượng của sự chăm sóc. Mắt của Thiên Chúa chính là những người lãnh đạo.

Ngài có cái nhìn của Ngài về điều Ngài muốn làm. Ngài không đòi hỏi những nhà lãnh đạo mơ những ước mơ lớn cho Ngài hay giải quyết những vấn đề trước mắt. Ngài chỉ xin các nhà lãnh đạo đồng hành một cách khắng khít với Ngài. Hầu khi Ngài mạc khải chương trình của Ngài, thì họ cảm thấy ngay, phải thay đổi cuộc sống theo ý muốn của Ngài. Và kết quả sẽ mang lại vinh quang cho Thiên Chúa.

Vậy hành động, lời nói của người lãnh đạo đều do Thiên Chúa?

 

 

 

 

Vâng[9].

Đúng theo lời kinh mà Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ:

“Xin cho Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”[10].

3.2. “Tuyệt đối vâng theo Ý Chúa Cha”[11]

Chính Chúa Giêsu đã xác minh Mẫu Gương cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo:

“Tuyệt đối vâng theo Ý Chúa Cha”[12].

Người lãnh đạo hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo của mình. Vì thế, bí quyết lãnh đạo tinh thần mà Chúa Giêsu cung cấp cho chúng ta: “Ngài vâng lời và tuân giữ mọi điều mà Chúa Cha mạc khải.”

“Lãnh đạo là một ơn gọi, Thiên Chúa là người lãnh đạo, và không thể trở thành lãnh đạo tinh thần nếu không có Chúa Thánh Thần.” Điều nhấn này, khiến tất cả những nhà lãnh đạo tinh thần phải xem xét lại tính chất, sự chính trực và tính khả tín trong đời sống lãnh đạo của mình.

Lãnh đạo tinh thần phải thường xuyên kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Cầu nguyện đốivới nhà lãnh đạo tinh thần phải là một trong những điều phải làm thường xuyên và lâu giờ. Bây giờ tôi mới hiểu rằng tại sao ĐứcThánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, là khuôn mặt lãnh đạo tinh thần lớn trong thời đại. Ngài đã là một nhà cầu nguyện thường xuyên và lâu giờ trước Thánh Thể, vì Thiên Chúa là Đấng  lãnh đạo.

Điều này khiến tất cả các nhà lãnh đạo tinh thần tránh được tính kiêu căng tự phụ. Kiêu căng gắn liền với tính xác thịt. Hai điều phá đổ người lãnh đạo một cách phũ phàng và nhanh chóng. Kinh nghiệm Kinh Thánh chứng minh điều ấy: Gương Sôlômôn trong Cựu Ước.

ĐÀO LUYỆN

Vậy, nếu Thiên Chúa kêu gọi bạn lãnh đạo, bạn hãy lãnh nhận đặc ân này cho việc phục vụ Chúa và Dân Chúa. Bằng tất cả nguồn tài lực và thời cơ Chúa ban. Hầu dẫn Dân Chúa vào Vinh Quang của Ngài. Như người đầy tớ tốt lành và trung tín[13].

Người lãnh đạo Kitô giáo là người được Thiên Chúa kêu gọi lãnh đạo. Lãnh đạo với và qua các đức tính “Nhân Bản-Phúc Âm” và năng lực lãnh đạo hiệu quả[14].

Đức tính “Nhân Bản-Phúc Âm” là các đặc tính của Chúa Kitô. Phản ánh bản tính Thiên Chúa qua lời nói và thái độ. Trung tâm chức năng của lãnh đạo là làm cho Dân Chúa nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa với tất cả tâm, trí, linh hồn và sức lực.

Còn năng lực lãnh đạo hiệu quả là khả năng thi hành bổn phận và hướng dẫn Dân Chúa tới mục tiêu tối hậu, bằng việc truyền cảm hứng. Hướng dẫn nghị lực và nguồn lực, gieo rắc tầm nhìn. Xây dựng đội ngũ lãnh đạo. Ca ngợi vinh quang, chia sẻ quyền hành, ra quyết định, phát huy chiến lược, tinh thần trách nhiệm.

Nhận thức lãnh đạo là một ơn gọi. “Người lãnh đạo phải làm gì?” Kenneth O. Gangel cho biết. Cần thực hiện sáu lãnh vực hành động hàng đầu sau đây.

Một là xây dựng mối quan hệ con người. Hai là tổ chức. Ba là hoàn thành mục tiêu. Bốn là suy tư cùng nhau và với nhau để sáng tạo. Năm là phát huy tầm nhìn. Sáu là nhẫn nại, vì đối với tất cả các vị lãnh đạo Kitô giáo, khả năng chịu đựng là cốt yếu.

Trong sáu điều trên, tôi nhận thấy hai điều đặc biệt cần quan tâm, là quan hệ và tổ chức. Các chuyên viên không phải là lãnh đạo, vì họ chú ý tới sự việc hơn là con người. Người lãnh đạo tập trung vào nguồn nhân lực, qua việc đối xử, phát triển mối quan hệ với con người[15].

Thánh Phaolô dùng ẩn dụ “Người Thuyền Trưởng” để mô tả “ Tổ Chức”[16]. Trong Giáo Hội: “Anh em là thân mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể. Và Thiên Chúa đã sắp đặt trong Hội Thánh. Trước hết là các tông đồ, tiếp đến là tiên tri, tiến sĩ, ơn làm phép lạ, chữa bệnh, từ thiện, tổ chức, ơn ngôn ngữ”[17].

Như thế việc của người lãnh đạo là quan tâm tới con người.

Tập hợp, nối kết, cùng nhau hướng về tầm nhìn[18].

Nhưng “Tầm Nhìn” là gì?

George Barna cho biết: “Tầm nhìn là ý niệm chân dung rõ ràng về tương lai.” Nó không phải do nhà lãnh đạo mà do Thiên Chúa ban. Qua sự hiệp thông, hiểu biết của “Người Lãnh Đạo - Tôi Tớ” với Thiên Chúa, với chính mình và với tình huống. Tầm nhìn, đem chúng ta tới gần lý tưởng hơn. Vua Solomon khẳng định: “Ở đâu không có tầm nhìn, ở đó Dân Chúa sẽ bị diệt vong[19].

Người lãnh đạo là nô bộc. Và nhiệm vụ đầu tiên của họ là dẫn Dân Chúa nên giống Chúa Kitô hơn. Vì thế, những người tìm kiếm vị trí lãnh đạo, vì những lý do khác hơn là thực hiện tầm nhìn của Chúa ban, thì không phải là những nhà lãnh đạo chân chính. Tầm nhìn Chúa ban là “Dẫn Dân Chúa vào Vinh Quang của Ngài, qua việc đáp trả lời mời gọi nên thánh, theo gương Chúa Giêsu.”

Như thế, tầm nhìn là một tất yếu phải có đối với các nhà lãnh đạo đích thực. Hãy tôn thờ Thiên Chúa và kính trọng Dân Ngài. Hầu khám phá ra tầm nhìn và gắn bó đời mình cho tầm nhìn đó[20].

Qua phần nhận thức trên, chúng ta biết: “Lãnh đạo hết sức quan trọng và cần thiết. Người lãnh đạo Kitô giáo được Thiên Chúa chọn, được đào luyện, cùng với đội ngũ lãnh đạo. Được tầm nhìn Chúa ban, để dẫn đưa Dân Chúa vào Vinh Quang của Ngài.”

Từ nhận thức tới tổ chức, chúng ta đề cập tới bốn vấn đề. Có liên quan tới nghệ thuật lãnh đạo. Đó là: Tố chất, chương trình đào tạo, sứ mệnh hành động, và phương thế.

-          Tố chất

Người lãnh đạo cần những tố chất đặc trưng nào?

Jack W. Hayford cho biết, điều chủ yếu là có “Tấm Lòng.” Ngày nay người ta đòi hỏi người lãnh đạo phải có “Tâm” và có “Tầm.”

Theo gương Chúa Giêsu: “Phần con, con đã ban cho chúng Vinh Quang mà Cha đã ban cho con, để chúng nên một như Chúng Ta là một. Con trong chúng và Cha trong con. Hầu chúng hoàn toàn nên một. Ngõ hầu thế gian biết Cha đã sai con”[21].

Người lãnh đạo có “Tâm - tấm lòng,” chưa đủ. Kinh Thánh cảnh giác về “Lòng nhiệt thành mà thiếu hiểu biết.” (Prov. 19:2). Gene Getz so sánh: “Một người thiếu hiểu biết , kỹ năng, tài lực sẽ là người lãnh đạo vụng về, lúng túng. Thiên tài mà thiếu nghị lực, vẫn có thể gây chết người. Cũng như sắm xe mà thiếu ngựa. Có năng lực mà thiếu chí khí. Chúng có thể phá hoại Giáo Hội hay bất kỳ tổ chức Kitô giáo nào.”

Vì thế, cần quan tâm rèn cả “Tâm” lẫn “Trí”, như thánh Phaolô dạy: “Nếu anh em muốn trở thành người lãnh đạo tinh thần, điều đó tốt. Nhưng phải chắc chắn anh em là những người trưởng thành,” trong Đức Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần[22].

Đến tố chất thứ ba, tôi còn nhớ mãi câu châm ngôn về lãnh đạo: “Người lãnh đạo có bàn tay sắt bọc găng nhung.” Ý nghĩa bao hàm “Tâm, Trí” và cả “Ý Chí” quân bình. Như H.B. London Jr. cho biết: “Là một người lãnh đạo mạnh mẽ nhưng êm dịu.”

Sau đây là sáu bước thực tập theo gương Chúa Giêsu, người êm dịu hoà giải. Một là đặt mình vào hoàn cảnh để hiểu biết. Hai là tích cực hoà giải ngay từ đầu. Ba là tái lập sự hoà hợp của tâm hồn. Bốn là chấp nhận thực tế của nhau. Năm là tin vào Thánh Thần của Chúa Kitô, Ngài luôn có cách hành động của Ngài. Sau cùng là chúng ta cần thinh lặng cầu nguyện, kiên nhẫn và thiện chí muốn trở nên người lãnh đạo êm dịu. Theo gương Đấng kêu gọi chúng ta, luôn tìm kiếm con đường tốt nhất cho Nước Chúa và cho những người thuộc về Ngài[23].

“Tâm, Tầm và Chí” là ba tố chất có liên quan đặc biệt tới người lãnh đạo. Tố chất có thể do bẩm sinh, nhưng cũng còn do rèn luyện, vì thế, người lãnh đạo cần được đào tạo.

Leighton Ford nhận xét rằng: “Thế giới mới, cần người lãnh đạo mới. Người lãnh đạo hôm nay, phải biết làm điều đúng và phải biết đọc và thấy trước điều đúng, để làm.” Chắc chắn nhất là hãy học Chúa Giêsu và hãy để Ngài tạo dáng chúng ta theo mô hình của Ngài: “Hãy theo Ta. Và Ta sẽ làm cho các con trở thành những người đánh cá người”[24]. Có nghĩa là Ngài sẽ làm cho họ trở thành những người lãnh đạo Dân Người.

Có thể tóm tắt quan điểm về vấn đề này như sau: “Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở thành người lãnh đạo Nước Trời. Được Chúa Giêsu mạc khải cho biết Thiên Chúa và hiểu Thánh Ý Người. Rồi Theo gương Chúa Giêsu, hoà giải Dân Chúa. Hầu dẫn Dân Chúa tới gần Chúa Giêsu, phục vụ mục đích cứu chuộc của Ngài, trong thế hệ của chúng ta.”

Điển hình là trường hợp của các môn đồ. Chúa Giêsu đã chọn họ, đặt tên, làm cho họ thành đội ngũ. Ngài tin họ. Ngài thử thách họ. Chính Ngài chọn lọc riêng nhóm mười hai, nhóm ba, để chia sẻ sâu hơn. Ngài đã làm cho họ trở thành bạn hữu. Ngài cảnh báo và phục hồi họ. Sau cùng, Ngài đã làm cho họ trở nên những người hiểu rằng Ngài đã chọn, cầu nguyện và chết cho họ và bây giờ Ngài tin họ. Ngài đã hứa ở cùng và tin cậy sai họ đi tìm kiếm chiên và săn sóc Dân của Ngài[25].

-          Chương trình đào tạo

Mặc dầu Thiên Chúa đào luyện người lãnh đạo, nhưng cần có: “Chu trình đời sống của một người lãnh đạo,” J. Robert Clinton và Richard W. Clinton phân tích một số kinh nghiệm, để từ đó vạch ra một số sơ đồ gợi ý, giúp đào luyện người lãnh đạo. Tuy nhiên, nguyên tắc căn bản vẫn là phải biết con đường của Thiên Chúa vạch ra cho mình và mình phải đáp trả theo ý Chúa[26].

-          Sứ mệnh hành động

Người lãnh đạo được Chúa đào luyện cùng với sự cộng tác của con người, để đáp ứng sứ vụ hành động then chốt của người lãnh đạo: “Đổi Mới.” Elmer L.Towns nhận định rằng, “Trước hết phải đổi mới bản thân. Thứ đến là ước muốn những người theo mình được thay đổi. Sau cùng là ước muốn đối diện với những vấn đề đổi thay.”

Sự thay đổi trước hết là người lãnh đạo phải lớn lên trong sự hiểu biết và trong đời sống tinh thần. Muốn được như vậy, người lãnh đạo phải là người luôn học tập và học tập suốt đời, phải lớn lên suốt đời[27].

Nhưng cần phân biệt những gì cần thay và những gì không bao giờ được đổi. Chúng ta không bao giờ được thay đổi đạo lý, vì đạo lý đến từ Lời Chúa và là sự thật đời đời. Những nguyên tắc Kinh Thánh đến từ sự thật, chúng ta không bao giờ thay đổi nguyên tắc.

Như thế, phương pháp áp dụng có thể thay, còn nguyên tắc không bao giờ đổi. Phương pháp lệ thuộc văn hoá. Khi văn hoá thay đổi, chúng ta cần thay đổi phương pháp, để áp dụng nguyên tắc có hiệu quả hơn.

Khi đổi mới, cần lưu ý tới hai yếu tố chìa khoá: “Luật thời điểm” và “Luật can đảm”[28]. Theo một nghĩa nào đó, thì đổi mới có nghĩa là thay đổi. Doug Murren rất thích câu nói: “Lãnh đạo - người thay đổi.”

-          Phương thế

Theo quan điểm hành động Phương Đông, muốn thành công, người ta phải chú ý tới ba yếu tố tương tác, hoà quyện này: “Thời, Thế, Cơ.” Sứ mệnh của lãnh đạo là “Đổi Mới và Thay Đổi,” nhưng cần có “Thời” (Luật thời điểm nói trên) và “Thế” (phương thế.)

Phương thế thứ nhất, “Xây dựng một đội ngũ để làm việc,” Tom Phillips cho biết, “Lãnh đạo theo Kinh Thánh bao giờ cũng có một đội ngũ đi theo lãnh đạo.” Quả thực, bất cứ người lãnh đạo nào muốn thành công, đều phải nghĩ tới việc xây dựng quanh mình một tập thể lãnh đạo. Thông qua tập thể lãnh đạo này, cùng nỗ lực và quyết sách để hoàn thành một loạt mục tiêu.

Vậy làm thế nào để xây dựng một đội ngũ lãnh đạo và duy trì đội ngũ đó?

Trước hết cần một người có tố chất lãnh đạo xuất sắc. Người đó biết chia sẻ mục đích chung và biết tôn trọng bổn phận riêng; biết tham gia và hoàn tất nhiệm vụ chung. Họ nhận biết và tôn trọng kỷ luật tập thể. Sau đó, họ phải có nghệ thuật và biện pháp vận hành, phát huy và kiểm tra, suy nghĩ để tìm phương hướng thích hợp hơn mãi[29].

Phương thế thứ hai: “Xung đột.” Một tổ chức mà không có xung đột, đó là một tổ chức không có sức sống. Là người lãnh đạo, nên dám đối mặt với xung đột và mâu thuẫn. Jim Van Yperen cho biết xung độ là điều cần thiết và có trong Kinh Thánh. Người lãnh đạo không sợ đối mặt với xung đột, vì không có xung đột nào mà không có cách giải quyết. Điều then chốt là chúng ta có tìm ra con đường ngắn nhất để giải quyết xung đột đó hay không. Người lãnh đạo theo Chúa Kitô có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến anh dũng, tôi đã hoàn tất, và tôi vẫn giữ được đức tin”[30].

Sau cùng là “Cơ.” Lịch sử thời đại chúng ta tập trung vào con người. Lãnh đạo chú tâm tới quan hệ con người. Văn hoá chính là con người. Hans Finzel đưa ra năm nguyên tắc có liên quan tới văn hoá.

Một là không bao giờ được đánh giá thấp sức mạnh của văn hoá hợp tác, vì văn hoá hợp tác có thể làm hay chống lại sự thành công của bạn. Hai là người lãnh đạo phải chú ý tới việc vun trồng văn hoá, vì bổn phận của người lãnh đạo phải hiểu biết giá trị về văn hoá hợp tác và nuôi dưỡng bầu khí văn hoá nơi những người mình phục vụ. Thứ đến, nên biết rằng, chỉ những người lãnh đạo có thể thay đổi văn hoá, vì văn hoá là con người, mà lãnh đạo là ảnh hưởng và cảm hoá con người. Tiếp theo, nhiều người tốt đã bị tiêu diệt trong văn hoá sai lầm. Đó là văn hoá của sự chết.

Sau cùng là những người lãnh đạo xuất sắc hiện nay, đều có hiểu biết văn hoá của họ và sắp đặt chúng cho sự thành công tuyệt đỉnh[31]. Chúng ta nên lưu ý tới văn hoá “Lãnh đạo phục vụ,” như một thứ văn hoá Phúc Âm thời đại[32]. Nắm bắt được “Thời, Thế, Cơ,” là dành được thắng lợi thành công.

Nhưng dẫu sao thì sự thành công sau cùng bao giờ cũng còn tuỳ thuộc vào ơn Chúa, như Lời Chúa đã dậy: “Không có Thầy các con không làm được gì.” C. Peter Wagner cho rằng, “Xây dựng một đội ngũ cầu nguyện, là lời khuyên cần thiết cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo.”

Theo thiển ý, lãnh đạo là một nghệ thuật liên quan tới con người, nhưng mang dấu ấn thiêng liêng, nên có thể nói: “Người lãnh đạo là người say mê Cầu Nguyện.” Kinh nghiệm lịch sử trong đạo ngoài đời, những vị lãnh đạo uy tín bao giờ họ cũng có đức tin.

Sau cùng, theo nguyên tắc: “Lãnh đạo là đào tạo lãnh đạo.” Wallace Erickson đề cập tới gương chuyển tiếp từ Môisê cho Joshua, gồm các bước sau đây. Một là cần cầu nguyện. Hai là chọn lựa. Ba là phát huy. Bốn là nâng đỡ. Năm là trao phó nhiệm vụ.

Người được chọn để chuyển tiếp lãnh đạo, cần có hai đặc điểm là giống chúa Kitô, người tôi tớ phục vụ. Có các đức tính, như: luân lý lành mạnh, đáng tin, (cả lời nói lẫn việc giữ lời hứa,) chính trực và trọng danh dự. Thực ra, khi của cải mất, không mất gì; khi sức khỏe mất, một vài điều mất; nhưng khi nhân đức mất, mất tất cả.[33]. Người lãnh đạo Kitô giáo thực sự phải chú trọng tới việc cầu nguyện và chú tâm trau dồi đức độ.

Kết luận

Lãnh đạo tinh thần, dựa theo kinh nghiệm Kinh Thánh, đó là một ơn gọi do Thiên Chúa chủ động. Ngài ban cho người lãnh đạo Tầm Nhìn. Ngài đào luyện họ với một đội ngũ lãnh đạo, theo mô hình Đức Kitô. Phục vụ, dẫn đưa Dân Chúa vào Vinh Quang của Ngài.

Người lãnh đạo nhận thức ơn gọi. Tích cực cộng tác với ơn Chúa qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trưởng thành trong tố chất, và tiến tới Chúa Giêsu, phục vụ mục đích cứu chuộc của Người, trong sứ mệnh “Đổi Mới.”

Người lãnh đạo hành động theo “Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hoà”. Nắm bắt “Thời, thế, Cơ.” Hầu chương trình, thánh ý Thiên Chúa được thể hiện. Con người được sống và sống dồi dào[34]. Người lãnh đạo Kitô giáo là người dẫn Dân Chúa đi vào Vinh Quang của Người.

Làm sao có thể? Nếu không được kêu gọi, không được mạc khải tầm nhìn? Mà đối tượng phục vụ là con người và mục tiêu là Nước Trời, Vinh Quang Thiên Chúa.

Suy nghĩ đến đây, tôi càng xác tín: “Không có ơn Chúa chúng con không không thể làm được gì.” Vì thế, là người lãnh đạo, tôi cần xác tín vào ơn gọi lãnh đạo. Và hằng cảm tạ Chúa. Cảm nghiệm tầm nhìn nhiều hơn về Vinh Quang Nước Trời. Theo gương phục vụ của Đức Kitô, chấp nhận hy sinh, cử hành lễ “Vượt Qua” trong đời. Nhất là khi đứng trước những thách đố.

Đào Luyện Lãnh Đạo Tinh Thần Trong Môi Trường Văn Hóa Việt Nam

Quan điểm văn hóa Việt Nam về lãnh đạo: “Trọng Dân”

Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa Việt Nam, lớp văn hóa Bản Địa là Tính Cộng Đồng. Lớp thứ hai, giao lưu với văn hóa khu vực, nhất là với Trung Hoa, chịu ảnh hưởng Nho Giáo. 

Theo quan điểm Nho Giáo về “Trọng Dân,” Đức Khổng Tử viết trong Kinh Thi rằng: “Dân duy Bang bản.” Có nghĩa là: “Dân là gốc của Nước.” 

Khi nhìn thấy sức mạnh như nước lũ của “Người Nông Dân” lật đổ nhà Tùy, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) đã dậy con mình rằng: “Thuyền ví với Vua, nước ví với Dân. Nước có thể chở thuyền, mà cũng có thể lật thuyền.” 

Sách Mạnh Tử dậy: “Dân vi quí, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh.” Có nghĩa là: “Dân là quí nhất, rồi đến Quốc Gia, Vua được xem nhẹ.” Quan niệm như thế vì hai lẽ. Thứ nhất, nếu không có Dân và Quốc Gia, thì cũng chẳng có Vua. Thứ hai, Dân và Quốc Gia tồn tại muôn đời, còn Vua chỉ tồn tại nhất thời. 

Những tư tưởng “Trọng Dân” này đã ảnh hưởng tới quan điểm lãnh đạo “Trọng Dân” của Việt Nam. Nguyễn Trãi, một danh nhân văn hoá Việt Nam, khi tiễn Cha là Nguyễn Phi Khanh qua Tàu, đến Ải Nam Quan, ông có làm bài thơ tựa đề là “Quan Hải,” trong đó có câu: “Phúc thủy tín Dân do thủy.” Có nghĩa là “Thuyền bị lật mới tin câu nói Dân như nước.” Hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam sau này, đều có chủ trương trọng Dân: “Dĩ Dân chi tiên hay lấy Dân làm gốc.”

Vì thế, nếu muốn phát triển Giáo Hội và Dân Tộc, người làm mục vụ không nên bỏ qua quan điểm “Trọng Dân.” Hơn nữa quan điểm này cũng là hướng đi của Công Đồng Vat.II, khi định nghĩa “Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.” 

Nhận thức được như thế, chúng ta sẽ không ngần ngại đầu tư vào việc đào tạo “Dân.” Nguồn nhân lực cho tương lai lâu dài của Đất Nước và Giáo Hội.

Đào Tạo Lãnh Đạo tinh thần trong Môi Trường Văn Hóa Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, tính “Cộng Đồng” và tính “Trọng Dân” trong Văn hóa Việt Nam rất phù hợp với tinh thần Công Đồng Vat.II, khi định nghĩa: “Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.” Trọng Dân cũng chính là trọng Anh Tài trong Dân, vì Dân tin vào Anh Tài. Người ta thường coi Anh Tài là “Nguyên Khí dựng Nước.” Anh Tài trong Giáo Hội ví như “Tông Đồ Giáo Dân;” như “Người Giáo Dân Lãnh Đạo.” Vì thế, chúng ta có thể nói: “Tông Đồ Giáo Dân, Người Giáo Dân Lãnh Đạo là Nguyên-Khí-Thiêng cùng góp phần dựng nên Mùa Xuân Hội Thánh.”

Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X, trong buổi triều yết, Ngài đã hỏi các Hồng Y: “Hiện nay, điều gì là cần thiết hơn cả, để cứu vãn tình trạng suy sụp của Hội Thánh và thế giới? Lần lượt các Hồng Y trả lời, người thì nói là cần xây dựng nhiều trường học; xây thêm thánh đường; khuyến khích công việc tuyển trạch hàng giáo sĩ…” Đức Thánh Cha trả lời: “Tấtcả đều không đúng.” Và Ngài nói: “Điều cần thiết nhất trong lúc này, là mỗi xứ đạo, phải có một nhóm giáo dân, vừa đạo đức vừa khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng, cương quyết và có tinh thần tông đồ thực thụ”[35].

Hơn nữa, “Giáo hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó ngay từ khi thiết lập Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành[36].

Mục vụ hôm nay là quan tâm săn sóc phục vụ con người cả hồn cả tinh thần cả xác và môi trường thế giới, như mục tử chăm sóc bảo vệ đàn chiên. 

Mục vụ ấy chính là lãnh đạo tinh thần. Lãnh đạo tinh thần Kitô giáo là nghệ thuật dẫn Dân Chúa đạt tới ý định của Ngài. Người lãnh đạo ý thức những thách đố, cạm bẫy thời đại và bản thân. Định nghĩa lại về vai trò, chức năng của người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu: “Ta đến để phục vụ, không để được phục vụ”[37]. Và Công Cồng Vat.II xác định: “Giáo Hội chỉ xin được phục vụ”[38].

Ngoài ơn Chúa Thánh Thần, con người là yếu tố then chốt và quyết định trong mục vụ. Muốn phát triển Giáo Hội và xã hội, trước hết cần có con người phát triển. Phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để phát triển chiến lược, và sống còn, như ông Alvi Toffler, nhà tương lai học, đã nhận định: “Con người nào không được đào tạo, con người ấy sẽ bị xã hội loại bỏ; Dân Tộc nào không được đào tạo, Dân Tộc ấy sẽ bị đào thải.” 

ĐÀO LUYỆN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO

Dẫn nhập

John C. Maxwell đã đào luyện hàng trăm ngàn người về lãnh đạo trong nhiều năm. Ông quả quyết, “Mọi sự lên hay xuống tùy thuộc lãnh đạo”[39]. Và “Bạn hãy học tập các qui luật lãnh đạo và người ta sẽ theo bạn”[40].

Mười Luật lãnh đạo

1. Luật lắng nghe.

  - Nguyên tắc

Solomôn, vị Vua khôn ngoan trổi vượt, đã chỉ cầu khẩn Chúa: “Xin Người ban cho tôi tớ Người tấm lòng biết lắng nghe, để phân xử việc Dân Người. Hầu biết biện minh điều phải điều trái”[41].

  - Thực hành

Nghe bằng cả hai tai, bằng cả hai mắt. Nghe bằng cả khối óc con tim. Nghe bằng cả thao thức suy tư. Nghe nhiều hơn nói. Phần lớn thời giờ của lãnh đạo là nghe. Nghe nhiều sẽ giải quyết vấn đề dễ dàng, ít phải suy nghĩ hơn. Thích nghe nói thẳng, nói thật. Nghe cả kẻ đối đầu chỉ trích. Sợ nghe tâng bốc.

2. Luật điềm tĩnh

  - Nguyên tắc

“Cây càng cao, gió càng lay.”

“Sóng cả, phải vững tay chèo.” 

“Dù ai nói ngả nói nghiêng, thì ta vẫn vững như kiềng ba chân.” 

  - Thực hành

Càng nguy hiểm rối reng, càng điềm tĩnh. 

Người ta thường chết vì hoảng loạn.

Biết chuyển bại thành thắng.

3. Luật ra quyết định

  - Nguyên tắc

“Sản phẩm của lãnh đạo là ra quyết định.”

“Thành ư quả quyết, bại ư do dự.”

“Đã quyết thì hành, đã đẵn thì vác cả cành lẫn cây.” 

   - Thực hành

Xem: tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích. 

Xét: so sánh, đắn đo lợi hại, hơn thiệt, dự thảo các phương án. 

Kết luận: lựa chọn phương án tối ưu. 

Ra quyết định: rõ ràng và dứt khoát.

4. Luật tổ chức

  - Nguyên tắc

“Lãnh đạo là tổ chức.” Tổ là nối kết, đan dệt. 

  - Thực hành

Sắp xếp qui trình khép kín từ A đến Z. 

Soạn thảo kế hoạch: chiến lược, chiến thuật, phương án 1,2,3. 

Kiểm điểm: Chân thành tự phê và phê bình. 

Rút ưu khuyết điểm. Tìm ra bài học kinh nghiệm.

5. Luật phân công

  - Nguyên tắc

“Lãnh đạo là phân công.” 

  - Thực hành

Triệt để áp dụng nguyên tắc: “Phân công đồng trách nhiệm.” 

Phân công khôn ngoan: Khép kín

Phân công khoa học: “Đúng người, đúng việc, đúng nơi, đúng lúc, đúng cách.”

Đôn đốc, kiểm tra, uốn nắn kịp thời.

6. Luật dùng người và nắm người.

  - Nguyên tắc

“Dụng nhân như dụng mộc.”

Không nên vì lỗ mọt mà bỏ phí cả cây. 

“Không thể cầu toàn,” vì núi cao thường có hang sâu.

“Ngựa chứng thường là ngựa hay.” 

  - Thực hành

Biết người. Người có thiện chí và khả năng. 

Thiện chí: có lòng nhân và ý chí. 

Khả năng: tài, đức, sức. 

Tuyển chọn và huấn luyện: đoản kỳ và trường kỳ. 

Biết việc: trao trách nhiệm, xác định chức năng nhiệm vụ, mục tiêu, phương hướng. 

Cảnh giác những nguy hiểm. 

Nắm người: bằng cách quan tâm bản thân, gia đình; hòa mình, chia sẻ, phục vụ.

7. Luật đãi người.

  - Nguyên tắc

“Dùng người phải biết đãi người.” 

   - Thực hành

Tin tưởng, yêu mến, trọng kính, biết ơn. 

Ápdụng chế độ: khen thưởng công tâm.

8. Luật trách nhiệm.

  - Nguyên tắc

“Tội qui vu trưởng.” 

  - Thực hành

Can đảm, dám nhận trách nhiệm, dù thành công hay thất bại. 

Không đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác. 

Nhận khó về mình, dành dễ cho cộng sự viên. 

Không làm tổn thương tình huynh đệ, gây mất đoàn kết.

9. Luật đào tạo lãnh đạo

  - Nguyên tắc

“Lãnh đạo tạo lãnh đạo.” 

  - Thực hành

Chọn người: có lòng nhân, ý chí, tài đức, sức. 

Huấn luyện: truyền đạt lý tưởng, phương pháp lãnh đạo, trao tầm nhìn. 

Thử thách: trao cho họ điều khiển. 

Đừng buồn và sợ họ tài giỏi hơn mình, vì “Con hơn cha nhà có phúc.” 

Cố vấn cho lớp sau: cần khôn khéo và cập nhật hoá kinh nghiệm, thức thời. 

Thường nên thán phục, khích lệ hơn là chê bai chỉ trích.

10. Triết lý lãnh đạo.

    - Nguyên tắc

“Lãnh đạo vừa là nghệ thuật vừa là khoa học, mang dấu ấn thiêng liêng.”

    - Thực hành

Cầu nguyện.

Khôn ngoan. 

Tầm nhìn chiến lược. 

Trẻ trung, học hỏi, vui tươi. 

Hy vọng: dù trong thất bại, ta thấy mẹ thành công. 

Kỹ năng lãnh đạo

Kỹ năng là năng lực khéo léo, biết vận dụng những kiến thức thu thập được đem áp dụng vào thực tế. Lãnh đạo là khả năng qui tụ , tổ chức, điểu khiển, dẫn dắt, lèo lái, theo một đường lối cụ thể đã vạch ra cho lợi ích chung. 

Vậy, kỹ năng lãnh đạo là “tri thức-thực hành” thể hiện qua việc tổ chức, đạt mục đích, ví như người thuyền trưởng lèo lái con tàu hay nhạc trưởng điều khiển buổi hòa nhạc. Đặc điểm kỹ năng là rèn luyện, đưa lý thuyết vào thực hành, như người bơi lội, hay người tập lái xe. Kinh nghiệm những năm phục vụ trong chủng viện và trong môi trường xứ đạo, tôi thấy hai kỹ năng lãnh đạo sau đây cần rèn luyện trường kỳ.

1. Rèn luyện kỹ năng khôn ngoan.

1.1. Nguyên tắc

“Khôn nên quan, gan nên giàu.” 

Lãnh đạo ngày nay, cần cả hai. 

Trước hết cần Khôn Ngoan. Khôn ngoan là khao khát “Chân, Thiện, Mỹ.” Người lãnh đạo rất cần khôn ngoan như cá cần nước. Phải coi khôn ngoan hơn tất cả địa vị, danh lợi, tiền của. 

Thứ đến cần Giàu về tài chánh: “Vô Văn bất nhóc nhách.” 

Giàu còn là kết quảcủa trí thông minh, ý chí cao thượng và lòng can đảm, gan dạ: “Có gan làm giàu.” Nên Giàu còn hiểu là người kiên tâm bền chí, không sợ bất cứ một thử thách nào, vì không có thách đố nào mà không có cách giải quyết. Thách đố còn là dấu hiệu tiên báo thành công. Theo triết lý âm dương: “Bĩ cực thái lai; Cái khó ló cái khôn; Thất bại là mẹ thành công.” Theo Khổng Tử: “Khi Ông Trời muốn trao cho ai một sứ mạng cao cả, truớc hết, Ngài đổ cay đắng vào tâm hồn họ; đưa họ đến chỗ tận cùng của đau khổ. Có như vậy mới làm sống lại trong con người họ những tâm tình tốt đẹp; và củng cố đức kiên nhẫn để mang lại cho con người những gì còn thiếu sót." 

1.2. Thực hành. 

Người khôn ngoan luôn cần tầm nhìn chiến lược. Biết nhìn xa trông rộng; trông trước trông sau; nghĩ trước nghĩ sau; chuyên cần cầu nguyện, vì Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo, chính Ngài chọn người lãnh đạo và ban cho họ tầm nhìn của Thánh Linh để thực hiện chương trình của Ngài.

Trong Cựu Ước, Ngài đã chọn Môisê và một nhóm cộng tác.

Trong Tân Ước, Đức Kitô đã chọn mười hai tông đồ và đặt Phêrô lãnh đạo. 

Đội ngũ lãnh đạo cần bàn bạc, so sánh, cân nhắc, lựa chọn phương án tối ưu, luôn kèm phương án phụ dự phòng. Rồi lập chương trình khép kín, dự phòng bất trắc. 

Chọn người cộng tác. 

Phân công. 

Đôn đốc. Kiểm tra. Uốn nắn kịp thời. 

Bám sát thực tiễn, rút bài học kinh nghiệm và đổi mới. 

Trong ứng xử, người lãnh đạo cần xử thế khéo léo: “Bàn tay sắt bọc nhung.” 

Biết dùng đúng phương tiện để đạt mục đích. 

Sử dụng cách xử trí tối ưu và xử lý cách tốt nhất, tránh bất lợi không cần thiết. 

Trước khi đưa ra đường lối hay quyết định cần thận trọng, lắng nghe, nghĩ trước nghĩ sau, lựa chọn đúng “Đường”, sử dụng đúng “Người”, và đúng “Phương Tiện” để đạt mục đích, theo các tiêu chuẩn Phúc Âm, Công Đồng Vat. II, văn hóa Hiện Đại, văn hóa Việt Nam.

2. Rèn luyện kỹ năng hiệp thông, hiệp nhất, đoàn kết

2.1. Nguyên tắc

“Đoàn kết thì sống”

“Đại đoàn kết, đại thành công.”

“Hiệp thông tới đâu, thành công tới đó.”

Lãnh đạo tài, đoàn kết cao.

Thống nhất trong đa dạng, dị biệt. 

Xây dựng Hiệp Thông là chức năng bản chất của lãnh đạo. 

Phải giữ gìn như con ngươi trong mắt mình. Phải mua với bất cứ giá nào. 

Thành lập ban theo dõi, xử lý và bảo vệ đoàn kết nội bộ. Kinh nghiệm cổ nhân: “Người cốt đồng lòng, đồng lòng cốt ở lý” (Nhân đồng thử tâm, tâm đồng thử lý). Muốn đoàn kết, người lãnh đạo phải có lý tưởng, đường lối, có đạo lý, hợp lý. Ngay cả những người cộng sự, không chỉ đồng lòng đồng ý, nhất trí, nhưng cũng phải biết tham luận hợp lý, tôn trọng và dám nói chân lý. 

2.2. Thực hành

Người lãnh đạo và ban bảo vệ đoàn kết nên lưu ý một số việc sau đây.

Không thể đoàn kết rộng rãi nếu không có đoàn kết nội bộ. 

Tối kỵ óc bè phái, cục bộ, địa phương. 

Nếu có những người đó đang lãnh đạo, dứt khoát cũng đành phải đưa xuống. 

Luôn nghĩ tới toàn cục, mọi việc phải xuất phát từ lợi ích chung. Không tranh quyền, háo danh. Tránh va chạm tự ái. Đề phòng thói ích kỷ, ỷ lại, nhất là thói bì tị. Nên vận dụng vũ khí phê bình và tự phê bình. 

Việc nhỏ phải coi trọng phong cách đạo đức. 

Việc lớn phải coi trọng nguyên tắc, không nên tranh luận vô nguyên tắc. 

Luôn sống theo kỷ cương, nhưng được bao bọc bởi tình thương và trách nhiệm. 

Chú ý tới lòng chân thành, hiểu biết (đa số do hiểu lầm) và bổ xung cho nhau.

 

Kỹ năng tham luận

- Ý nghĩa mục đích

Kỹ năng tham luận là năng lực khéo léo vận dụng tri thức vào thực tế. Nó bao gồm các kỹ năng phân tích, suy luận, đánh giá, dự báo. 

Mục đích để góp phần đề ra các quyết định đúng đắn và đem lại hiệu quả có chất lượng cao.

- Thực hành

1. Kỹ năng phân tích và suy luận. 

Người lãnh đạo nắm bắt sự kiện. Chia tách vấn đề để dễ dàng xem xét, nghiên cứu. Tạo điều kiện cho kỹ năng đánh giá. 

Sơ đồ phân tích gồm có: mặt mạnh là thời, thế, cơ; mặt yếu là nguy cơ. 

Tất cả đều có mối quan hệ với nhau. 

Sau khi suy luận nhận ra các mặt, người lãnh đạo bắt đầu đánh giá. 

2. Kỹ năng đánh giá

Kỹ năng đánh giágiữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Muốn có quyết định đúng, cần đánh giá đúng. 

Đánh giá về giá trị khả thi, phải dựa trên tính “Toàn diện Lịch sử cụ thể.” 

Tính “Thông tin Khoa học Kỹ thuật và Kinh nghiệm của nhân sự đáng tin.” 

Sau đó là dự kiến phương án khả thi, có dự trù phương án phụ. 

3. Kỹ năng tham luận. 

    Có bốn lược đồ tham luận. 

3.1. Lược đồ một

      Trước hết cần nắm bắt thông tin. Tiếp theo là xử lý thông tin: phân tích, đánh giá, dự báo. Sau cùng là định hướng thông tin: Đề ra giải pháp. 

3.2. Lược đồ hai

Trước hết là nhận thức: phát hiện ra điều gì mới mẻ, gây cảm xúc, ngạc nhiên. Sau đó đánh giá: đúng, tốt, đẹp; hay lợi, hại; thích hợp, tiện lợi. Sau cùng nêu lên cách ứng xử, bao gồm lưu ý tiếp thu cái tích cực và đồng thời cảnh giác đề phòng, loại trừ cái tiêu cực. 

3.3. Lược đồ ba

Trước hết nêu vấn đề. 

Sau đó lý giải: lý do tại sao nêu vấn đề và nội dung bao gồm những gì? 

Tiếp theo trình bày từng nội dung, kèm theo chứng cứ minh họa để có sức thuyết phục. 

Sau cùng đề ra giải pháp tối ưu. 

3.4. Lược đồ bốn, có tính cao cấp

Trước hết, nêu luận đề: căn cứ vào thực trạng, nêu luận đề. 

Rồi xác định những luận điểm tham luận. 

Tiếp theo khi trình bày các luận điểm, cần đưa ra hai luận cứ để chứng minh, sau đó là tiểu kết. Cứ thế tiếp tục trình bày hết các luận điểm. 

Sau cùng là đại kết: tóm tắt ý chính. Định hướng mở rộng. Đề ra giải pháp.

Kết luận

Người lãnh đạo cân nhắc các tham luận. 

Ra quyết định và phân công khép kín thực thi dự án. 

Có Uỷ Ban tổng kết, rút bài học kinh nghiệm, để đổi mới, sâu sắc hơn.

Kỹ năng văn hóa ứng xử

1. Nguyên tắc

Bất cứ hiện tượng văn hóa nào cũng được qui định bởi một số yếu tố. 

Ứng xử là một hiện tượng văn hóa.

Ứng xử của Người Việt Nam, ngoài văn hóa gốc bản địa, còn chịu ảnh hưởng sâu đậm hai lớp văn hóa khu vực và Tây Phương. Lớp văn hóa khu vực, đặc biệt là Phật Giáo và Nho Giáo. Lớp văn hóa Tây Phương, đặc biệt là Kitô Giáo. 

Mỗi lớp văn hóa có thể dùng biểu tượng để diễn tả. 

Phật Giáo dùng Bông Hoa

Nho Giáo dùng Tảng Đá đè trên hai Mầm Sống.

Kitô Giáo dùng Trái Tim.

Ý nghĩa bông hoa: Niềm an vui, lòng yêu mến, sự thuận theo. Nó được biểu hiệu qua nụ cười.

Ý nghĩa tảng đá và hai mầm sống: Diễn tả nguyên tắc tuỳ cơ ứng biến. Một mầm sống cố chấp đâm thẳng, nhưng đụng vào tảng đá, chết. Còn mầm thứ hai thì lách qua một bên, chồi lên, gặp ánh sáng mặt trời, nó lớn mạnh và cuối cùng đẩy hòn đá qua một bên, trở thành cây cao bóng cả. 

Ý nghĩa trái tim: Diễn tả tình thương, lòng nhân ái, tâm hồn giàu lòng thương xót.

2. Thực hành

2.1. Người lãnh đạo - phục vụ

Gặp bất cứ chuyện gì hoặc người nào

cũng tỏ ra niềm nở, vui tươi. 

Tỏ ra tay bắt mặt mừng.

Biểu lộ tốt nhất là qua nụ cười trìu mến. 

2.2. Người lãnh đạo - phục vụ

Bám sát thực tế.

Rồi lắng nghe, tìm hiểu, xem xét…

Suy nghĩ, phân định, dự báo, lựa chọn cách ứng xử tối ưu. 

Lựa chọn tối ưu bao giờ cũng gần với thực tế. Gần với sự sống, sự tự do, độc lập chủ quyền.

Rồi “Tuỳ cơ Ứng biến”.

2.3. Người lãnh đạo - phục vụ

Dù chọn lựa ứng xử cách nào, bao giờ cũng mang bản chất yêu thương.

Nơi họ, toàn thân toát ra, từ lời nói đến hành động, tỏa ra tràn đầy tình yêu thương. 

Và quyết định hành động chỉ vì yêu thương và lợi ích chung.

3. Kết luận

Kỹ năng đòi hỏi thực hành. 

Thực hành nhiều sẽ trở thành thói quen. 

Nên khi lãnh đạo, người lãnh đạo không cần suy nghĩ nhiều. Điều này giảm bớt thời gian. Họ sẽ có những quyết định nhanh chóng, kịp thời là điều tối cần trong thời đại khoa học kỹ thuật của chúng ta hôm nay. 

Học tập mười luật lãnh đạo. 

Thực hành kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tham luận, và kỹ năng văn hóa ứng xử. 

Hãy ấp ủ chúng trong trái tim và áp dụng chúng trong cuộc sống. 

Nếu chúng ta theo luật lãnh đạo, người ta sẽ theo chúng ta[42].

Khi đạt tới mức cao nhất, đừng quên tạo những người khác cùng với chúng ta trở thành những nhà lãnh đạo tương lai[43].

 

KẾT LUẬN

NHỮNG TẤM GƯƠNG LÃNH ĐẠO TINH THẦN

Abraham

Một con người bình thường, nhưng ông đã biết từ bỏ chương trình của mình để theo ý Thiên Chúa, nên ông đã được Thiên Chúa chúc phúc.

Đào luyện

Nhân Bản và Đạo Đức

Ngài đào luyện Abraham trưởng thành về các đức tính tốt trong sự tương quan với Ngài, như: sự khôn ngoan, chính trực, lương thiện và thanh khiết. Mối tương quan cần phải tin vào Thiên Chúa, vâng phục Ngài và tình yêu dành cho Ngài. Và “Abraham tin Thiên Chúa nên ông đã được kể là người công chính và ông đã được gọi là bạn của Thiên Chúa”[44].

Tâm

Mặc dầu Abraham còn xa sự thánh thiện, vì Ông có nhiều lỗi lầm, nhưng Thiên Chúa chọn ông vì ông có “Tâm”: tấm lòng. Điều cốt lõi ở đây là ông hiểu biết Thiên Chúa và ông đã để cho Thiên Chúa biến đổi ông trở thành người lãnh đạo nhờ vâng phục Ngài: “Tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và vâng phục Thánh Ý Ngài.”

Thiên Chúa dùng mọi biến cố hàng ngày, cả tốt cả xấu để hình thành người lãnh đạo. Thường những biến cố này là những tình huống ngoài sự kiểm soát của con người vì những biến cố ấy đòi hỏi con người đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa[45].

Tầm

Điều quan trọng đòi hỏi người lãnh đạo: phải có “Tầm.

Cái “Tầm.” Theo nhận xét của Vua Salômon: “Ở đâu không có Tầm Nhìn (linh thị) thì dân Chúa sẽ bị diệt vong”[46]. Ngài có ý nói đến “Tầm Nhìn” của người lãnh đạo.

Tầm nhìn có liên quan tới cộng đồng. Căn nguyên của tầm nhìn là do mạc khải của Thiên Chúa. Người lãnh đạo thành công là khi truyền đạt tầm nhìn cho dân mà người dân hiểu rằng đó là chương trình của Chúa cho cộng đồng chứ không phải cho người lãnh đạo[47].

Người lãnh đạo tinh thần phải kể lại những điều Thiên Chúa đã làm, đang làm và sẽ làm. Qua đó Dân Chúa sẽ nhìn thấy Ngài là Đấng đã dẫn dắt họ, đang lãnh đạo họ và Ngài đã có một chương trình cho tương lai[48].

 

Môsê  

1. Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo (Xh 3, 13-20)

“Ta sẽ dẫn đưa các ngươi khỏi cảnh khốn khó ở Ai-cập, mà đem vào …

đất chảy đầy sữa và mật.”

2. Thiên Chúa tuyển chọn Môsê làm Lãnh Đạo (Xh 2, 1-15a)

Trong những ngày ấy, có một người đàn ông thuộc nhà Lêvi đi cưới vợ cũng trong chi tộc mình. Nàng mang thai và sinh hạ một con trai. Thấy con trẻ khôi ngô tuấn tú, nàng giấu kín trong ba tháng. Khi thấy không thể nào giấu kín được nữa, nàng liền lấy chiếc thúng trét nhựa thông, rồi bỏ đứa trẻ vào trong, đem thả trong đám sậy ở bờ sông. Chị đứa bé đứng xa xa để quan sát sự việc xảy ra thế nào.

Bấy giờ có công chúa con Pharaon xuống tắm dưới sông, còn các nữ tỳ đi bách bộ theo bờ sông. Khi thấy cái thúng mây ở giữa bụi sậy, nàng sai một nữ tỳ xuống vớt lên, vừa mở ra, thấy một trẻ nam nằm khóc trong đó, nàng thương hại và nói: "Đây là đứa trẻ Do-thái". Bấy giờ chị đứa trẻ thưa với công chúa rằng: "Bà có muốn tôi đi tìm cho bà một phụ nữ Do-thái có thể nuôi đứa trẻ này không?" Công chúa đáp: "Đi tìm đi". Chị đứa trẻ liền đi kêu mẹ nó. Công chúa Pharaon nói với mẹ đứa trẻ rằng: "Chị hãy lãnh nuôi đứa trẻ này giùm tôi, tôi sẽ trả công cho chị". Chị ta liền nhận nuôi đứa trẻ, và khi nó lớn lên, thì đem đến cho công chúa Pharaon. Công chúa nhận đứa trẻ làm con nuôi, đặt tên cho nó là Môsê và nói: "Vì tôi đã vớt nó dưới nước lên".

Trong những ngày ấy, Môsê đã khôn lớn, liền đi thăm anh em mình, người thấy họ cơ cực, và thấy một người Ai-cập đang hành hung một người Do-thái là anh em của mình. Sau khi đã nhìn qua nhìn lại, không thấy ai, Người liền hạ sát tên Ai-cập và vùi thây dưới cát. Hôm sau, người đi ra, thấy hai người Do-thái đang đánh lộn với nhau, người bảo kẻ có lỗi rằng: "Tại sao anh đánh người bạn của anh?" Anh ta trả lời: "Ai đã đặt anh làm lãnh tụ và quan án xét xử chúng tôi? Anh cũng muốn giết tôi như anh đã giết người Ai-cập hôm qua sao?" Môsê lo sợ và nói: "Việc này người ta đã hay biết rồi sao?"

Pharaon nghe biết câu chuyện, liền tìm giết Môsê. Nhưng Môsê đã lánh mặt nhà vua, trốn sang xứ Mađian.

3. Thiên Chúa trao nhiệm vụ và hứa: “Ta sẽ ở cùng ngươi.” (Xh 3, 1-6. 9-12)

"Chúa hiện ra trong ngọn lửa cháy từ giữa bụi gai".

Thiên Chúa hiện ra với ông trong ngọn lửa cháy từ giữa bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai bốc lửa, nhưng không bị thiêu rụi. Môsê nói: "Ta hãy lại xem cảnh tượng kỳ lạ này, vì sao bụi gai không bị thiêu rụi?"

Thiên Chúa thấy ông lại xem, từ giữa bụi gai Người gọi ông: "Môsê, Môsê!" Ông thưa: "Dạ con đây!" Chúa nói: "Ngươi đừng đến gần đây. Hãy cởi dép ở chân ra, vì chỗ ngươi đang đứng là nơi thánh". Chúa lại nói: "Ta là Thiên Chúa của Tổ phụ ngươi. Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp". Môsê che mặt, vì không dám nhìn Thiên Chúa.

Chúa phán với ông: "Tiếng kêu van của con cái Israel đã thấu đến Ta; Ta đã thấy họ bị người Ai-cập hà hiếp khổ cực. Bây giờ ngươi hãy lại đây, và Ta sai ngươi đến Pharaon, để ngươi dẫn đưa dân Ta là con cái Israel ra khỏi Ai-cập".

Môsê thưa cùng Thiên Chúa rằng: "Con là ai mà dám ra trước mặt Pharaon và dẫn đưa con cái Israel ra khỏi Ai-cập?"

Chúa bảo ông: "Ta sẽ ở cùng ngươi.”

Xh 14, 5-18

Lúc Pharaon đến gần, con cái Israel ngước mắt lên thấy quân Ai-cập đuổi theo mình. Họ quá khiếp sợ, kêu lên cùng Chúa, và nói cùng Môsê rằng: "Có lẽ ở Ai-cập không đủ đất để chôn chúng tôi hay sao, mà ông đem chúng tôi lên chết trong sa mạc này? Ông dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập với mục đích gì? Chẳng phải khi ở Ai-cập chúng tôi đã nói với ông lời này sao?, là: "Ông hãy mặc chúng tôi làm nô lệ cho người Ai-cập, còn hơn là chết trong sa mạc". Môsê liền nói với dân chúng rằng: "Xin anh em đừng sợ, hãy vững lòng, và anh em sẽ thấy Thiên Chúa hôm nay của chúng ta thế nào?

Chúa phán cùng Môsê rằng: "Còn ngươi đưa gậy lên và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy".

Gương lãnh đạo tinh thần của Môisê trong Cựu Ước là rất thực tế cho hoàn cảnh lịch sử hôm nay. Vì thế, tôi xin bàn sâu hơn, như một chứng minh cho sự tâm đắc của tôi về người “Lãnh đạo tinh thần.”

Kinh Thánh kể rằng, một hôm bố vợ của Môisê là tư tế Gitrô đến thăm, đúng vào lúc Môisê đang xử kiện. Gitrô quan sát kỹ lưỡng cách làm việc của Môisê. Sau đó ông đã trao đổi góp ý với Môisê.

Qua cuộc trao đổi giữa hai người, chúng ta thấy những yếu tố quan trọng này: “Dân đến với Môisê để thỉnh Ý Thiên Chúa. Ông phân xử đôi bên và cho biết những thánh chỉ và lề luật của Chúa. Gitrô cầu chúc Thiên Chúa ở với Môisê, và khuyên rằng, anh hãy đứng ra thay mặt dân trước nhan Chúa, chính anh sẽ trình các việc lên Thiên Chúa, sẽ dạy cho họ thánh chỉ, các lề luật, đường lối phải đi và cách xử sự.

Rồi biết dùng người, phân chia lãnh đạo trong các tổ chức. Nếu anh làm điều đó, thì Thiên Chúa sẽ chỉ bảo cho anh, anh có thể đứng vững. Và hơn thế nữa cả đám dân này có thể về nhà bình an”[49].

Qua đó, chúng ta xác tín hơn nữa về ơn gọi lãnh đạo tinh thần. Nhà lãnh đạo tinh thần tài giỏi không còn phải do tài lực của mình nữa, nhưng chủ yếu là do Thần Lực của Chúa. Muốn được như thế, nhà lãnh đạo phải thường xuyên nối kết với Chúa, bàn hỏi với Ngài và kín múc sức mạnh, sự khôn ngoan, tầm nhìn từ nơi Ngài.

Tương lai gia đình, Giáo Hội và thế giới tuỳ thuộc vào những nhà lãnh đạo tinh thần như Môisê: “Dẫn dắt Dân Chúa đạt tới chương trình của Ngài.” Cùng với gương “Yêu thương phục vụ” của Chúa Kitô, vâng phục Thánh ý Chúa Cha trong mọi sự và hoàn tất trong sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng xót thương.

Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo. Ngài tuyển chọn người lãnh đạo.

Ngài chọn con và ở cùng con.

Người lãnh đạo tinh thần như thế ắt hẳn phải có nét đặc trưng nào? Hay một đời sống khả dĩ có thể đẫn dắt người khác theo. Vì người lãnh đạo mà không có người theo không phải là người lãnh đạo.

Những nét đặc trưng khác

Trước hết, phải là người được Thiên Chúa xác nhận, như Môisê, Joshua, Samuel trong Cựu Ước hay Chúa Giêsu trong Tân Ước: “Đây là con Ta, Người Ta tuyển chọn; hãy nghe Người”[50]. Khi được xác nhận bởi Thiên Chúa, người đó sẽ được hướng dẫn bởi Thánh Thần và nhất là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi người lãnh đạo sẽ làm thay đổi cuộc đời của họ. Họ cảm thấy kinh nghiệm về Thiên Chúa trong một chiều kích mới. Họ tin tưởng tuyệt đối vào Chúa sẽ thực hiện điều mà Ngài hứa. Một người lãnh đạo tinh thần thật sự khi những người khác được dẫn dắt trở nên giống Chúa Kitô hơn[51].

Thứ đến, phải là người gặp gỡ Thiên Chúa một cách thân mật và được biến đổi, như Môsê gặp Thiên Chúa. Ngoài ra người lãnh đạo tinh thần phải tỏa ra một số đức tính nhân bản, đặc biệt là chính trực và đáng tin. Ngày nay hầu hết các nhà lãnh đạo xuất sắc đều đồng ý rằng“chính trực, đáng tin,” là những nền tảng cho sự thành công trong thương nghiệp và lãnh đạo[52].

Sự thành công trong tinh thần lãnh đạo phải được ghi dấu bởi Thiên Chúa: “Tốt! Người đầy tớ chính trực và trung tín; ngươi trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi coi sóc nhiều sự”[53]. Tuy nhiên, tất cả những điều này không phải ngẫu nhiên mà có, chúng phải được đào luyện.

Người lãnh đạo tốt cũng cần chuyên cần tập luyện để phục vụ Thiên Chúa. Tắt một lời, lãnh đạo tinh thần có thế lực hay không, tùy thuộc vào sự hiện diện của Chúa. Và Thiên Chúa có xuất hiện trong người đó hay không[54].

 

Chúa Giêsu đào luyện Phêrô “Người Lãnh Đạo Tinh Thần.”

1. Lời Chúa (Jn. 21: 15-19)

15Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô:

"Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy."

Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy."

16 Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biếtcon yêu mến Thầy."

Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy."

17 Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?"

Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy."

Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.

18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."

19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."

2. Áp dụng

TÍNH HỆ THỐNG

Hai giới răn “Mến Chúa - Yêu Người”không thể tách rời nhau, như hai mái chèo của một con thuyền:

 “YÊU MẾN THIÊN CHÚA – CHĂM SÓC CON NGƯỜI”

 

TÍNH SƯ PHẠM và KỸ NĂNG

Chúa Giêsu, nhà Đào Luyện. Ngài đã đào luyện Phêrô với tinh thần “Khoa học-Hội thánh.” (Khoa học là phương pháp. Hội Thánh là Ơn Chúa.)

Hai yếu tố khoa học được lưu ý: Sư phạm và kỹ năng.

- Sư phạm:

Có đặc điểm là kiên trì, tiệm tiến, lặp đi lặp lại.

Cổ nhân dạy: “Quá tam ba bận.”

Cũng giống như nhân đức là một tập quán hành thiện, thói quen làm điều tốt. Muốn có tập quán, thói quen, chúng ta phải làm đi làm lại nhiều lần. Tập quán là một bản năng thứ hai.

- Kỹ năng:

Tập trung tác động kỹ vào ba cơ năng quan yếu:

“Tâm, Trí và Ý Chí.”

Khi “Tâm –Trí” hòa quyện với nhau, sẽ biến thành “Ý Chí.”

Ý chí quyết tâm, với Ơn Chúa, thực hành bền vững, sẽ trở thành nhân đức.

Chúa Giêsu, “Đấng Sư Phạm” đại tài. Khi đào luyện Phêrô, Người Lãnh Đạo Hội Thánh, Chúa đã lặp đi lặp lại 3 lần. Ngài bắt đầu từ Tâm: “Con có yêu…”; rồi Trí: “Thầy biết… Thầy biết con yêu…” Sau đó, khi thấy “Tâm-Trí” của Phêrô đã quyện lại với nhau, Ngài kêu gọi Ý Chí : “Hãy theo Thầy.” Quyết tâm theo, thì phải từ bỏ ý riêng, thuận theo Ý Chúa.

Quyết tâm thi hành bền vững, với Ơn Chúa, sẽ trở thành nhân đức. Người có nhân đức là người nên giống Chúa. Nên giống Chúa là nên Thánh. Nên Thánh là được nên Một trong Chúa.

MỤC TIÊU: Chúa Giêsu

NHỮNG THÁCH ĐỐ THỜI ĐẠI

Công Đồng Vat. II

Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay…cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ.[55]

Nhân loại và Giáo Hội hôm nay, đang trải qua ba thử thách lớn nhất, đó là chủ nghĩa thế tục, vô thần và tdo cánhân.Chủ nghĩa thế tục, vì đầu óc khoa học, do văn minh hiện đại dễ gây nên, muốn áp dụng khoa học vào phạm vi ở ngoài phạm vi của nó; do đó không nhận chân lý tuyệt đối. Không nhận chân lý tuyệt đối, vì chủ nghĩa nhân bản, quá đề cao con người nên Thiên Chúa không quan trọng; coi giá trị nhân bản như tuyệt đối. Con người phải hoàn toàn tự trị không cần đến Chúa; hay là phải hoàn toàn tự lập về kinh tế xã hội không bị tôn giáo ràng buộc, dẫn tới chủ nghĩa vô thần và tự do cá nhân.[56]

Quyền tự do là một thứ quyền đáng sợ, nhưng đồng thời là nguyên nhân khiến con người nên cao quí thật sự. Do đó con người có thể lấy tình yêu đáp ứng lại tình yêu Thiên Chúa, nhưng cũng có thể phản nghịch. Con người cao cả không phải vì có thể theo sở thích, vì có thể phản nghịch hay vì có thể chiều theo những xu hướng mù quáng của dục vọng trái với lý trí và đức tin, nhưng chính là vì có thể tự ý đón nhận ý muốn của Thiên Chúa. Ðược tạo nên giống như hình ảnh của Thiên Chúa, con người thật cao trọng khi tự ý cố gắng tới gần và giống như Thiên Chúa hơn. Ðiều đó không phải là dễ dàng. Quyền tự do bị ảnh hưởng bởi nhiều sức lực   thúc đẩy, không những sức lực bên ngoài (như giáo dục - hay là việc thiếu giáo dục - khung cảnh sống, dư luận, hoàn cảnh xã hội v.v...) mà còn cả sức lực bên trong (như tính tình, sức khỏe, dục vọng, mặc cảm và xu hướng tiềm thức). Nếu con người không được đào tạo và giáo dục để biết sử dụng quyền tự do thì con người có thể sống lâu mà ít khi hoạt động tự do thật sự, nghĩa là ít khi đạt tới mức độ cao cả của mình theo như ý Chúa. Nhưng con người chỉ có thể quay về với sự thiện một cách tự do. Sự tự do ấy những người đương thời với chúng ta rất ngưỡng mộ và hăng say theo đuổi, và họ thực có lý. Tuy nhiên, lắm lúc họ cổ võ tự do một cách lệch lạc như có thể làm bất cứ điều gì mình thích, cả điều xấu. Nhưng tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, hầu con người tự mình đi tìm Ðấng Tạo Dựng và nhờ kết hợp với Ngài con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc. Vậy phẩm giá của con người đòi họ phải hành động theo sự chọn lựa ý thức và tự do, nghĩa là chính con người được thúc đẩy và hướng dẫn tự bên trong, chứ không do bản năng mù quáng hay cưỡng chế hoàn toàn bên ngoài. Con người sẽ đạt tới phẩm giá ấy một khi nhờ tự giải thoát khỏi mọi kiềm tỏa của đam mê, con người theo đuổi cùng đích của mình trong sự tự do chọn lấy điều thiện và khôn khéo cũng như thực sự tạo cho mình những phương tiện thích ứng. Tự do của con người vì bị tội lỗi làm tổn thương nên chỉ nhờ ơn Chúa trợ lực mới có thể thực hiện việc hướng về Thiên Chúa cách hoàn toàn sống động. Vậy trước tòa án Thiên Chúa, mỗi người sẽ phải trả lẽ về đời sống của mình tùy theo chính họ đã làm điều thiện hay điều ác.[57]

Đối tượng mục vụ chính là con người, con người “Chủ nghĩa tự do cá nhân” và thế giới vô thần “Tục Hóa.” Thách đố lớn nhất hôm nay vẫn là chủ nghĩa tự do cá nhân, xét về cả văn hoá Đông lẫn văn minh Tây. Xu hướng con người thời nay, muốn tự quyết và muốn làm chủ số phận đời mình, không cần Thiên Chúa và cũng chẳng cần tới Giáo Hội. Thực ra tự do là tốt, nhưng chủ nghĩa tự do thì không hiện thực, vì trong thực tế không bao giờ có tự do tuyệt đối. Người ta chỉ có thể tự do tuyệt đối trong Điều Thiện. Những người trẻ hôm nay, nhất là ở những nước theo nền văn hóa Đông, đang khao khát tự do của nền văn minh Tây Phương. Ý thức điều đó, nên người lãnh đạo tinh thần trong môi trường văn hóa Việt Nam chủ trương rằng: “Luôn trân trọng quá khứ, nhưng tương lai phải tiến lên.” Và “Văn hoá là những cái còn lại nhưng cũng là những cái còn thiếu sót, cần bổ xung.” Hơn nữa, người có văn hóa là người luôn trăn trở truy tìm “cái Đúng, cái Tốt và cái Đẹp” hơn mãi và luôn mãi không ngừng. Người làm mục vụ hôm nay, người lãnh đạo tinh thần, càng cần trở về với Chúa Kitô và Phúc Âm của Người để có thể vượt qua thử thách này một cách khôn ngoan hợp ý Chúa mà vẫn không đánh mất con người và thế giới đáng yêu.

Gương Salomon

Gương Sôlômôn trong Cựu Ước. Ông là một vị Vua nổi tiếng khôn ngoan nhất trong lịch sử Dân Chúa, như Chúa đã xác nhận: “Từ trước tới nay và cả sau này không ai bằng Ngươi.” Quả thực ông không những khôn ngoan mà còn giàu có, thành đạt. Nhưng về cuối đời, “tầm nhìn” của Thiên Chúa cho ông đã bị chính trị che khuất, ông đã xa rời Thiên Chúa và gần gũi thế tục. Ông đã thất bại.

Cạm bẫy

Nhận thức về những cạm bẫy có thể làm cho nhà lãnh đạo thất bại: “Kiêu căng và xác thịt,” thường hay đi liền và phá hoại nhà lãnh đạo ghê gớm. Vì “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho những kẻ khiêm nhường”[58].

Nhà lãnh đạo có thể tránh những cạm bẫy bằng xây dựng những an toàn trong đời sống. Một là phải có tinh thần tự trọng, dám chịu trách nhiệm, không đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cho người khác khi thất bại. Hai là biết lưu ý tới những ý định riêng. Ba là hằng suy gẫm về những hậu quả của tội lỗi. Bốn là phát huy những thói quen lành mạnh. Năm là năng cầu nguyện và năng xin người khác cầu nguyện cho mình.

Ngày 8/8/2017

Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh(D.Min)

 

 

 



[1]
Ibid.John C.Maxwell, The 21 Irrefutable Laws of  Leadership, U.N of America, 1998, 225.

[2]. Mây Ngàn, Những Mảnh Đời Thường, TX, 2007, 67-68.

[3]Nguyễn Bửu Đồng, Tuyển Tập Giáo Dân, “Giáo Dân và vai trò lãnh đạo trong Giáo Hội.” Số ra mắt, 129.

[4]Ibid.

[5]Lc. 9:35.

[6] Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, Dedication and Preface.

[7] Ibid., 199-211.

[8] 2 Chronicles 16:9a.

[9] Ibid., 29.

[10] Mt 6:10.

[11] Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 28.

[12] Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 28.

[13]Mt. 25:21.

[14]George Barna, Leader on leadership, CA, 1997, 25.

[15]Ibid., 32.

[16]Theo nguyên ngữ, tổ là sợi tơ; chức là dệt. Nghĩa đen là dệt bằng sợi tơ; nghĩa bóng là sắp xếp để một số đông người tập hợp nhằm thực hiện một mục đích.

[17]1Cor. 12:27-28.

[18]George Barna, Leader on leadership, CA, 1997, 31-45.

[19]Prov. 29:18.

[20]George Barna, Leader on leadership, CA, 1997, 50-60.

[21]Ibid., 61-79.

[22]Ibid., 84-104.

[23]Ibid., 109-121.

[24]Mt. 4:19.

[25]George Barna, Leader on leadership, CA, 1997, 128-129.

[26]Ibid., 171.

[27]Ibid., 186.

[28]Ibid., 197-198.

[29]Ibid., 237.

[30]Ibid., 240-258; 2 Tim. 4:7.

[31]Ibid., 263-264.

[32]Ibid., 280.

[33]Ibid., 309-311.

[34]Jn. 10:10.

[35]Dom J.B. CHAUTARD, L’ Âme de Tout Apostolat, Paris, Lyon, 1912, p. 168.

[36]TG:21.

[37]Công Đồng Vat. II, GH:27, 32. HN:7. TG:5. MV:3.

[38]Công Đồng Vat. II, TG:12. GH:24, 27, 42.

[39]John C. Maxwell, The 21 Irrefutable Laws of  Leadership, U.N of America, 1998, VIII.

[40]Ibid., XXI.

[41]1V 3:9-14.

[42]John C. Maxwell, The 21 Irrefutable Laws of  Leadership, U.N of America, 1998, 225.

[43]Ibid., 225-226.

[44]James 2:23

[45]Ibid., 54.

[46]Prov. 29:18.

[47]Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 83.

[48]Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 83.

[49]Xh. 18:13-26; Dnl. 1:9-18.

[50]Lc. 9:35.

[51]Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 100.

[52]Ibid., 104.

[53]Mt 25:23.

[54]Henry & Richard Blackaby, Spiritual Leadership, 117.

[55]MV:1.

[56]MV:17, 19.

[57] Coâng Ñoàng Vat. II, MV, 17, vaø Chuù thích 22.

[58]James 4-6.

Các tin khác

Bài viết mới
ƠN GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI
ƠN GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI
Cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo, ngay cả khi họ xấu xa
Cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo, ngay cả khi họ xấu xa
Đức Thánh Cha tiếp Tổng tu nghị dòng Thừa Sai Thánh Tâm
Đức Thánh Cha tiếp Tổng tu nghị dòng Thừa Sai Thánh Tâm
Uỷ ban Giáo dân: Gặp gỡ các Linh mục Trưởng ban Giáo dân của Giáo tỉnh Sài Gòn
Uỷ ban Giáo dân: Gặp gỡ các Linh mục Trưởng ban Giáo dân của Giáo ...