, ngày 27 tháng 05 năm 2018 | 09:19 AM - Giới thiệu | Ý nghĩa logo

ĐÂY THÁNG HOA 

Tài liệu

 

SỰ PHỤC SINH VÀ VIỆC SIÊU TÔN ĐỨC KITÔ 
THEO THÁNH TÔMA AQUINÔ

GB. Thạch Vịnh, OP

 Kitô học là trọng tâm của thần học Kitô giáo. Trong đó, biến cố Đức Kitô phục sinh có một ý nghĩa hết sức to lớn, vì đấy không chỉ đơn thuần là một sự kiện mang tính lịch sử, nhưng còn là khởi điểm của đức tin Kitô.

Thánh tông đồ Phaolô đã coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh[1]Thánh Phaolô giải thích điều đó là vì nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.

Mầu nhiệm Phục sinh tiếp tục là tâm điểm không chỉ của thần học, mà còn của Phụng vụ Kitô giáo và nền tảng cho toàn bộ đời sống đức tin của Kitô hữu. Lịch sử cứu độ nhân loại sẽ mãi mãi được chia thành hai giai đoạn: trước và sau biến cố phục sinh của Chúa Kitô. Và ngày nay, chúng ta vẫn đang tái diễn sự kiện ấy trong phụng vụ sinh động của Giáo Hội.

Nhận thức được tầm quan trọng như vậy, thánh Tiến sĩ Tôma Aquinas đã dành rất nhiều quaestio trong bộ Tổng luận Thần học (Summa Theologica) của mình để nghiên cứu về sự kiện phục sinh này. Sau này, khi thánh Tôma đã qua đời, các cộng sự và học trò của ngài lại tiếp tục viết một phần nữa về phục sinh và bốn sự sau (cánh chung).

Trong bộ Summa Theologica này, thánh Tôma đã trình bày về cuộc đời của Chúa Kitô, những gì Ngôi Lời đã thực hiện như một phàm nhân, để là con đường dẫn đưa ta về với Thiên Chúa trong phần III của tác phẩm (xem Phụ lục 1). Nhưng về chính Đấng cứu độ, thánh nhân bàn về sự nhập thể của Chúa Kitô (Q.1-26) và về cuộc sống và cuộc tử nạn của Người (Q.27-59). Và trong các questio từ 27-59, chúng ta lại thấy thánh nhân bàn về việc Chúa Kitô vào thế gian (Q.27-39), về đời sống của Chúa Kitô nơi trần gian (Q.40-45), việc Người ra khỏi thế gian (Q.46-52) và việc siêu tôn Người sau cuộc đời này (Q.53-59). (xem Phụ lục 2).

Cách riêng, trong các questio từ 53 đến 59, thánh Tôma bàn luận về sự phục sinh (Q.53-56), thăng thiên (Q.57), việc ngự bên hữu Thiên Chúa Cha (Q.58) và quyền tư pháp của Đức Kitô (Q.59). Nhân dịp mừng lễ Phục Sinh và trong tâm tình của những ngày tuần Bát Nhật, người viết xin được tóm kết lại những ý tưởng chính về các chủ đề mà thánh Tôma đã bàn luận ở các questio 53–59 của bộ Summa Theologica, từ đó mở rộng ra các nghiên cứu khác xoay quanh đề tài sự phục sinh và việc siêu tôn Chúa Kitô.

 

NỘI DUNG

I. TÓM LƯỢC TƯ TƯỞNG CỦA THÁNH TÔMA

1. Sự phục sinh của Chúa Kitô (Q. 53–56)

Cả cuộc đời dương thế của Đức Giêsu là một sự vâng phục thánh ý Chúa Cha trong chương trình cứu độ nhân loại. Chính Chúa Kitô đã khẳng định: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38). Và trong chương trình ấy, Thiên Chúa đã muốn cho Con Một chết để đền thay tội lỗi nhân loại, ngõ hầu qua đó, làm cho tất cả sự viên mãn, hiện diện nơi Người Con (x. Cl 1,9).

 

a. Sự cần thiết của việc phục sinh

Có người lập luận sự phục sinh của Đức Kitô xem ra không cần thiết, bởi theo thánh Damasceno (De Fide Orth. 4, 27): “Sự sống lại là việc chỗi dậy khi thân thể đã bị tan rã hoặc đã ngã xuống.” Chúa Kitô không sa ngã do tội, thân thể không bị tan rã. Hơn nữa, những gì liên hệ với nhân tính Chúa Kitô được sắp đặt để cứu rỗi chúng ta. Cuộc khổ nạn đủ cứu rỗi chúng ta. Do vậy, không còn thiết phải có sự phục sinh.

Thánh Tôma đã đưa ra 5 lý do của sự cần thiết:

- Một, để tôn vinh sự công bình của Thiên Chúa.

- Hai, để giáo huấn lòng tin của chúng ta.

- Ba, để phục hồi niềm tin cho chúng ta.

- Bốn, để đào tạo đạo đức cho các tín hữu.

- Năm, để hoàn thành ơn cứu rỗi cho chúng ta.

b. Vào ngày thứ ba

Chúa Kitô là đầu, còn chúng ta là các chi thể trong cùng một thân thể duy nhất. Mà Chúa Kitô đã sống lại sau ba ngày, chúng ta lại không như vậy. Mặt khác, dựa vào lời thánh Phêrô (Cv 2, 24): “Cái chết không tài nào khống chế được Người”, nên Chúa Kitô không thể bị cầm giữ trong ngục tổ tông và bởi sự chết đến tận ngày thứ ba được.

Thánh Tôma đã trả lời: Trước hết, việc đó cho thấy rằng Chúa Kitô đã chết thật, và thứ đến, là để ứng nghiệm các lời Kinh Thánh đã nói, đặc biệt nếu đối chiếu với Cựu Ước, chẳng hạn Hs 6,1-2: “Sau hai ngày, Người sẽ hoàn lại cho chúng ta sự sống; ngày thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy”. Việc Chúa Kitô có lưu lại trong cõi chết một thời gian, đó là hoàn toàn do ý Người muốn như vậy. Còn việc chúng ta là chi thể và Người là đầu, nhưng chúng ta lại không được sống lại sau ba ngày, đó là vì đầu và chi thể hợp với nhau bởi bản tính, chứ không cùng năng lực. Năng lực của đầu thì mạnh hơn năng lực của các chi thể.

Thêm vào đó, việc Tin Mừng thuật lại không tương thích lắm, Ga 20,1 nói “lúc trời còn tối”; trong khi Mc nói “tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc”. Hai tác giả không mâu thuẫn nhau, mà do chủ ý thần học của mỗi tác giả. Chúa Kitô sống lại xua tan đêm tối vì sự sa ngã của nhân loại, và bắt đầu đến sự sáng là sự cải hóa nhân loại.

c. Trật tự của sự phục sinh

Dựa vào Tin Mừng Matthêu (Mt 27, 52) diễn tả lúc Đức Giêsu trút hơi thở: “Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.” Hơn nữa, trong Cựu Ước, ngôn sứ Êlia và Êlisa đã làm cho kẻ chết sống lại (x. 1V 17, 17-23; 2V 4, 29-37). Như vậy, Chúa Kitô không phải là người đầu tiên sống lại từ cõi chết.

Thánh Tôma trả lời: Sự sống lại là trở về từ sự chết đến sự sống, để không bao giờ phải chết nữa. Đó là sự sống lại thực sự và hoàn hảo. Chúa Kitô là người đầu tiên đạt được sự sống lại hoàn toàn bất tử như trong Rm 6,9 đã ghi: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người.”

d. Nguyên nhân của sự phục sinh

Thiên Chúa là Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại (x. Cv 2,24.32; Rm 4,25; 7,4; 8,11...). Vậy Chúa Kitô không phải là nguyên nhân của sự sống lại nơi mình.

Thánh Tôma lưu ý rằng nơi Đức Kitô có hai bản tính. Đối với bản tính con người, thì đúng thật Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Nhưng nên nhớ rằng, Đức Kitô cũng là chính Thiên Chúa, quyền năng và hành động của hai ngôi vị là như nhau. Như vậy, Chúa Kitô phục sinh là do chính quyền năng của riêng mình.

e. Phẩm chất của Chúa Kitô phục sinh

Trước tiên là vấn đề thân thể sau khi phục sinh. Chúa Kitô sau khi sống lại có thân thể thực sự hay không? Thân thể ấy là thân thể vinh hiển?

Một thân thể thật sự không thể một trật hiện hữu với một thân thể khác trong cùng một nơi, không thể xuất hiện và biến mất trước mắt mọi người (x. Lc 24,31). Thánh Tôma trả lời rằng: Vì thiên tính đã phối hợp với thân thể, hơn nữa, thân thể này là thân thể vinh phúc thiêng liêng như thánh Phaolô đã nói: “gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt.” (1Cr 15, 42). Dung mạo của Chúa Kitô phục sinh không thay đổi dáng vẻ bên ngoài, nhưng thay đổi từ cái chết đến bất tử, nghĩa là gương mặt vinh hiển.

Nhưng thân thể ấy xem ra không vinh hiển, vì thân thể vinh hiển là một thân thể sáng chói như mặt trời (x. Mt 13, 43), không thể bị tiêu hư, không đụng chạm được, và thiêng liêng. Nhưng thân thể Chúa Kitô phục sinh đã được trông thấy với màu sắc ngày trước, có thể sờ đến được (x. Lc 24, 39), và ăn uống với các môn đệ mình (x. Lc 24, 41; Ga 21, 9). Thánh Tôma trả lời: Thân thể Chúa Kitô phục sinh là thân thể vinh hiển. Người có quyền để cho thân thể mình được nhìn thấy hay không. Sự vinh hiển của thân thể ấy dội lại từ linh hồn vinh phúc, có sức mạnh không thể tiêu hư. Việc Người ăn uống sau khi sống lại không phải là do sự cần thiết, nhưng để chứng tỏ bản tính của thân thể đã sống lại của Người.

f. Sự nguyên tuyền của thân thể Chúa Kitô phục sinh

Tiếp đến, các vấn nạn về thân thể Chúa Kitô phục sinh được nêu ra: Thân thể ấy có nguyên tuyền? Có các vết sẹo?

Thánh Phaolô nói: “xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa được” (1Cr 15, 50). Mà Chúa Kitô sống lại trong vinh quang Nước Thiên Chúa. Hơn nữa, máu là một trong bốn thể dịch gây nên sự tiêu hư trong thân thể các thú vật, mà thân thể Chúa Kitô không bị tiêu hư. Mặt khác, Chúa Kitô đã lên trời, nhưng máu của Người còn lưu ở một số nhà thờ làm di vật. Vậy xem ra thân thể Chúa Kitô phục sinh không còn nguyên tuyền. Về việc này, thánh Tôma trả lời: Thịt và máu mà thánh Phaolô đề cập đến không phải biểu thị bản tính vật lý, nhưng là tội lỗi liên quan đến thân xác. Quyền năng của Thiên Chúa có thể cất khỏi thân thể những phẩm tính hay hư hoại và để lại những phẩm chất Người muốn. Còn máu lưu trữ tại các nhà thờ không phải là máu đã chảy từ cạnh sườn Chúa Kitô, nhưng bằng phép lạ từ hình ảnh Chúa Kitô mà người ta đã đánh đập.

Khi hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại, Chúa Kitô đã cho họ xem tay và cạnh sườn bị đâm thâu của Người (x. Ga 20,20). Nếu thân thể Đức Kitô vinh hiển, thì không thể còn có các vết sẹo. Bởi hiệu quả chấm dứt với nguyên nhân, nên giả như đó là điều Người muốn để cho các môn đệ tin, thì sau khi họ tin Người đã phục sinh, thì không nên còn các vết sẹo ấy. Thánh Tôma giải thích rằng: Các vết sẹo ấy không phải là sự tiêu hư, nhưng là đỉnh cao của sự vinh hiển, đó là những vết tích nhân đức của Chúa Kitô. Chúa Kitô muốn các vết sẹo của các thương tích tồn tại nơi thân thể mình, không chỉ để các môn đệ tin, mà còn cho lòng tin của chúng ta nữa. Thánh Tôma tông đồ lấy việc trông thấy làm đủ cho lòng tin của ngài, nhưng ngài đã đòi sờ vào các vết sẹo ấy là làm cho chúng ta, những kẻ không được thấy Chúa Kitô phục sinh như ngài đã thấy.

 

g. Việc Chúa Kitô tỏ ra sự sống lại của Người

Chúa Kitô đã chịu chết công khai trước mặt mọi người, nhưng lại tỏ hiện sự phục sinh cho một số người, trong đó lại có những phụ nữ. Điều này có vẻ không hợp lý, bởi cái gì liên hệ tới lợi ích chung thì phải được cho mọi người biết. Thêm nữa, các môn đệ nên được mục kích việc Chúa sống lại theo kiểu họ chứng kiến Chúa lên trời hay chứng kiến Ladarô sống lại, như thế lời chứng của họ xác thực hơn. Và để củng cố cũng như an ủi các môn đệ, có lẽ Chúa Kitô đã ở với các môn đệ liên tục trong một thời gian.

Về những điều này, thánh Tôma trả lời: việc thưởng công, phạt tội công khai là của đời sống này, còn hình phạt và phần thưởng đời sau không được tỏ ra cách công khai cho mọi người, nhưng chỉ một số người mà Thiên Chúa đã chọn từ trước. Việc Người hiện ra với các phụ nữ có ý nói rằng người phụ nữ đầu tiên đã đem lại cho nhân loại nguyên lý của sự chết, thì cũng là người đầu tiên công bố sự bắt đầu của Chúa Kitô phục sinh vinh hiển. Sở dĩ các môn đệ chỉ thấy Chúa Kitô sau khi Người phục sinh chứ không trực tiếp chứng kiến là để họ đạt được vinh phúc của đức tin nhờ nghe nói. Người không ở với các môn đệ liên tục sau khi phục sinh là để các ông khỏi lầm tưởng Người trở lại cuộc sống trước kia, để họ còn hướng tới đời sống sau này. Trong thời gian ấy Người ở đâu, điều này không ai biết, vì Kinh Thánh cũng chẳng nói. Nhưng Người hiện diện theo Thần tính. Và để an ủi các môn đệ, Người đã nhiều lần hiện diện với họ.

Chúa Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ với dung mạo khiến các môn đệ không nhận ra, không phải là Người lừa dối họ, nhưng vì mắt họ chưa được mở ra để nhận ra Người. Việc Người tỏ ra thực sự về sự phục sinh của mình với các bằng chứng, để ngõ hầu những kẻ kém lòng tin cũng có thể tin. Tuy nhiên, vẫn thật phúc cho những người không thấy mà tin (x. Ga 20,29).

h. Nhân quả của việc Chúa Kitô sống lại

Sự sống lại của Chúa Kitô có đưa đến sự sống lại và ơn công chính cho chúng ta hay không? Bởi khi chịu chết, Đức Giêsu đã phá hủy sự chết, chính sự phá hủy này đem lại sự sống cho chúng ta, chứ không phải là sự phục sinh của Chúa Kitô. Nếu sự sống lại có đem đến ơn phục sinh, thì đó là sự phục sinh thân xác, còn linh hồn vẫn do hiệu quả của cuộc khổ nạn mang lại, như lời Kinh Thánh chép: Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Đó là hiệu quả được thực hiện do sự tha tội mà cuộc khổ nạn của Chúa Kitô đem lại.

Thánh Tôma trả lời như sau: Sự sống lại của Chúa Kitô là nguyên nhân cho sự sống lại của chúng ta bởi quyền năng của Ngôi Lời. Trước tiên chúng ta phù hợp với Chúa Kitô chịu khổ nạn và chịu chết trong đời sống khả thụ và hay chết này, sau đó chúng ta đạt được sự tương tự với sự sống lại của Người. Trong đó, sự công bình của Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất, sự sống lại của Chúa Kitô là nguyên nhân đệ nhị và là nguyên nhân công cụ, đồng thời là nguyên nhân tác thành và nguyên nhân mô phạm cho sự sống lại của chúng ta. Bởi Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Thiên tính của Người có quyền trên sự sống và cái chết, có quyền đem lại cho ta sự sống lại, và qua cách thức Thiên Chúa đã sử dụng khi cho Đức Kitô sống lại, nên đó là nguyên nhân mô phạm cho sự sống lại của chúng ta.

Linh hồn sống lại do bản thể Thiên Chúa, trở nên vinh phúc bằng cách thông dự vào Thiên Chúa. Thân xác sống lại trở nên vinh phúc nhờ thông dự vào sự vinh quang của thân thể Chúa Kitô.

2. Việc Chúa Kitô lên trời

Các vấn nạn được đặt ra liên quan đến sự lên trời của Đức Kitô là việc Người lên trời có thích hợp hay không? Theo bản tính nào, Thiên Chúa hay con người? Chúa Kitô lên trời do quyền năng nào? Sự lên trời của Chúa Kitô đem lại những hiệu quả gì?

Thánh Tôma giải đáp các vấn nạn này như sau: Chúa Kitô mang cả bản tính con người, nên việc nói rằng Người di chuyển từ nơi này đến nơi kia chẳng hệ tại gì. Mặc dù sự lên trời không còn cho các tín hữu thấy thân thể của Người nữa, nhưng do thiên tính, Người vẫn ở với họ như lời Người phán: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Và điều này đem lại lợi ích vì đã tăng thêm lòng tin cho chúng ta, nâng lòng trông cậy của chúng ta về một quê hương Thiên Quốc, hướng lòng mến của chúng ta đến các thực tại trên trời.

Chúa Kitô lên trời trong tư cách Người là Thiên Chúa, ngay cả khi nó được hiểu cách ẩn dụ, tức là khi tâm hồn con người tùng phục Thiên Chúa và hạ mình trước mặt Người. Như vậy, Người được nhắc lên cao trên mọi thụ tạo. Đấng lên trời ở đây cũng chính là Đấng đã xuống, trong tư cách là Thiên Chúa, không phải hiểu theo nghĩa nơi chốn, nhưng là sự tự hủy, hóa ra không, mặc lấy thân phận tôi tớ (x. Pl 2,6-11).

Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa, do vậy, Người lên trời do quyền năng Thiên Chúa hay do năng lực của riêng mình cũng như nhau. Đây không phải là năng lực tự nhiên do bản tính con người, nhưng là bản tính Thiên Chúa.

Trời ở đây không chứa đựng ngai Thiên Chúa, nhưng chính ngai chứa đựng trời, đó là vinh quang Thiên Chúa như có lời chép: “Uy phong Ngài vượt quá trời cao”. Đám mây khi Chúa Kitô lên trời không đem lại cho Người một sự trợ giúp, nhưng xuất hiện như dấu hiệu cho Thiên Chúa [mầu nhiệm Tam Vị như được hiểu sau này – người viết], tương tự như đám mây trên nhà tạm trong Cựu Ước.

Sự lên trời của Chúa Kitô là nguyên nhân cứu rỗi chúng ta, không phải theo thể cách công đức, nhưng thể cách tác thành. Nó đã bắt đầu nơi Đầu của chúng ta là Chúa Kitô, và chúng ta là những chi thể đang chờ mong được kết hợp với Đầu trên quê trời.

3. Chúa Kitô phục sinh ngự bên hữu Thiên Chúa Cha

Việc Chúa Kitô lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa không được hiểu theo nghĩa không gian bên hữu hay bên tả, vì chỉ những thụ tạo giới hạn mới chiếm hữu không gian. Bên hữu ở đây muốn nói tới vinh quang và danh dự của thiên tính.

Theo thánh Gregory, việc “ngự” hay “ngồi” là thái độ của quan tòa, “đứng” là thái độ chiến đấu hoặc trợ giúp. Như vậy, Chúa Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa ám chỉ việc Người sẽ hiện ra trong ngày sau hết với tư cách là Đấng phán xét. Sự biệt hữu này không phải là hồng ân Thiên Chúa ban cho Đức Kitô, nhưng do nguồn gốc vĩnh cửu của Người.

Trong bản tính con người, nhân tính của Chúa Kitô không có quyền đối với sự vinh quang và danh dự của thiên tính; nó chỉ có quyền đối với các điều này vì Ngôi vị mà nó đã được ngôi hiệp. Tuy nhiên, việc thông phần vào sự tốt tuyệt trác của Thiên Chúa, theo thể cách vượt quá thể cách của mọi thụ tạo, thích hợp với nhân tính đã được Chúa Kitô nhận lấy.

Chúa Kitô là đầu của chúng ta, cái gì đã được ban cho Người thì cũng sẽ được ban cho chúng ta trong Người như lời thánh Phaolô: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” (Rm 8,11).

Bên hữu tiêu biểu vinh phúc Thiên Chúa, việc ngự bên hữu biểu thị vừa biểu thị sự vinh phúc, vừa biểu thị sự chiếm hữu vinh phúc với quyền năng thống trị, theo cách thức riêng và tự nhiên chỉ thích hợp với Chúa Kitô. Tuy nhiên, trong ngày sau hết, chúng ta cũng hy vọng được ở bên hữu Chúa Kitô như Kinh Thánh nói: “Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái” (Mt 25,33).

Việc Chúa Kitô ngự bên hữu Chúa Cha là đặc sủng duy nhất mà chỉ Người Con mới có được, như tác giả thư Hipri viết: “Có bao giờ Thiên Chúa đã phán với một thiên thần nào rằng: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị?” (Hr 1,13).

4. Quyền tư pháp của Chúa Kitô

Thiên Chúa có quyền tư pháp trên mọi vật mọi loài. Quyền ấy là quyền chung cho cả Ba Ngôi. Đức Chúa Con là sự Khôn Ngoan, là Chân Lý phát xuất từ Chúa Cha cách hoàn hảo, do đó quyền tư pháp một cách riêng biệt thuộc về Đức Chúa Con.

Việc xét xử mọi sự một cách tuyệt trác thích hợp với linh hồn Chúa Kitô. Tuy nhiên, do dội lại từ thiên tính đến linh hồn của Người, mà Chúa Kitô cũng một cách thích hợp hiểu biết và xét xử các bí ẩn nơi tâm hồn.

Chúa Kitô đã không muốn thi hành quyền tư pháp mà Người có nơi trần gian. Người đã không muốn làm thẩm phán cho các vụ kiện tụng ở trần gian. Chính Người nói rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18,36).

Con người sau khi chết sẽ được phán xét. Đối với những liên hệ với phần thưởng linh hồn, thì không cần thiết hoãn điều đó cho tới ngày chung thẩm.

Vừa khi tách khỏi thân thể, linh hồn chiếm hữu một chế độ không thay đổi và lãnh nhận sự phán xét cho riêng mình; còn thân thể tồn tại và bị thay đổi cho tới ngày sau hết sẽ lãnh phần thưởng hoặc hình phạt cho mình. Như vậy không có nghĩa là Thiên Chúa xét xử một vụ hai lần, nhưng là hai phương diện khác nhau của cùng một vụ.

Đối với các thiên thần, là những thụ tạo thiêng liêng, các ngài vẫn bị phán xét bởi Chúa Kitô trong tư cách Người là Ngôi Lời.

II. SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA KITÔ

1. Ý niệm về sự sống lại

Cái chết là nỗi ám ảnh của tất cả mọi người mọi thời đại. Không một ai biết được số phận mình sẽ ra sao sau cái chết. Chưa một phàm nhân nào đã từng trở về sau bức màn đen ấy. Chính vì thế mà niềm hy vọng vào sự phục sinh của con người sau khi chết đã trở nên đề tài cho rất nhiều nhà tư tưởng nghiền ngẫm, suy tư.

a. Ý niệm sống lại trong Cựu Ước và Do Thái giáo

Ý tưởng về một cuộc sống bên kia cái chết xuất hiện rất trễ trong truyền thống Do Thái. Gần như toàn bộ giai đoạn Cựu Ước, cái chết chỉ đơn giản là sự kết thúc của cuộc sống. Cõi âm ty là một nơi tối tăm và dơ bẩn, là nơi con người sẽ đến sau khi chết; nơi đó không có sự giải thoát (x. G 17,13-16). Trong tư tưởng Do Thái giáo, cõi âm ty không phải là nơi dành cho sự sống. Nơi đó không có gì là hiện hữu: không việc làm, không suy nghĩ, không hiểu biết, không có sự khôn ngoan (Gv 9,10). Hơn thế nữa, những người trong cõi âm ty không có sự phụng thờ Thiên Chúa (Tv 6,6; 30,10), không có được mối tương giao thân tình với Thiên Chúa (Tv 88,6) và như những kẻ bị bỏ rơi trong ngục tối âm ty (Ed 32,17-32).[2]

Ý niệm về sự sống lại, nghĩa là về việc con người, sau khi chết rồi, được trở về với đời sống thể xác chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ III-II B.C. Niềm tin vào sự phục sinh thân xác bắt nguồn từ niềm tin vào YHWH là Đấng ban sự sống và thưởng phạt công minh.

Người tín hữu Israel xác tín rằng YHWH là Chúa Tể sự sống, nơi Người đã phát sinh ra sự sống nhờ dabar và ruah của Người (x. St 1,1–2,4a; Tv 104,29-30). YHWH là Đấng cầm quyền sinh tử. Chẳng hạn:

“ĐỨC CHÚA là Đấng cầm quyền sinh tử,

đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.”[3]

YHWH là Đấng gìn giữ dân Israel, cứu linh hồn họ khỏi vực thẳm (Tv 103,3-4), và trả sự sống lại cho họ (Tv 41,3; 80,19); Người không bỏ quên linh hồn các bạn hữu Người trong cõi âm ty và không để cho họ phải thối nát (Tv 16,10)... và được hiểu theo nghĩa tượng trưng, nghĩa là người đau ốm được chữa lành, người gặp cơn nguy hiểm trầm trọng được giải thoát (Is 38,10.17; Tv 71,21; 88,4-8).[4]Tuy nhiên, việc làm cho kẻ chết sống lại của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa[5] đã cho thấy niềm tin của dân Israel vào sự phục sinh, dù là với nghĩa đen, và niềm tin vào việc YHWH có quyền trên kẻ cả sự sống và cái chết.

Người tín hữu Israel cũng ý thức về sự công bình của Thiên Chúa khi trả công cho những người công chính, tuân giữ Torah và trừng phạt những kẻ độc ác, bất chính. Ban đầu, sự thưởng phạt ấy chỉ được Israel hiểu như một sự thưởng công phạt tội ngay ở đời này. Nhưng thực tế cứ đi ngược lại với những điều họ tin. Cho đến đỉnh điểm là các cuộc bách hại của vua Antiôkhô Êpiphanê (167–164 B.C.),[6] thần học Israel đã rõ ràng với niềm tin vào sự phục sinh thân xác sau khi con người chết đi. Cái chết của những người đạo đức, tuân giữ Torah không thể ngang hàng với cái chết của những quân vô đạo, những kẻ sát nhân được. Và câu trả lời về sự sống bên kia cái chết là: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh.” (x. Dn 12, 2-3; Is 26,19).

b. Ý niệm sống lại vào thời Chúa Giêsu

Vào thời Đức Giêsu, có những cái nhìn khác nhau về vấn đề phục sinh. Một số nhóm như nhóm Pharisêu tin vào sự sống lại, trong khi một số nhóm khác như nhóm Sađốc thì không (x. Lc 20, 27-38). Khái niệm thuộc về sự sống bên kia cái chết và viễn ảnh đặc biệt diễn tả điều đó đều trở nên một phần của cái nhìn Do Thái giáo. Tuy nhiên, chú ý quan trọng là khái niệm về sự phục sinh bao trùm tất cả và một quan niệm cánh chung cho rằng tất cả những người đã chết sẽ hồi sinh khi thời cứu độ đến. Những bản văn cánh chung diễn tả điều này giải thích lý do dễ hiểu hơn tại sao những Kitô hữu tiên khởi xem sự sống lại của Đức Giêsu là dấu hiệu cho thấy những ngày sau hết đã gần đến (x. 1Cr 7,29).[7]

Người Sađốc không tin vào sự sống lại, không phải là họ theo chủ nghĩa duy vật, nhưng là vì họ “bảo thủ”, chỉ tin nhận mạc khải trong Torah.[8] Chúa Giêsu đã dùng trình thuật mạc khải Danh trong Xh 3,13-15 để cho thấy Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, chỉ mình Người có quyền làm cho kẻ chết sống lại.[9]

Người Pharisêu tin vào sự sống lại, nhưng theo cách thức như trong đời sống hiện tại, nghĩa là cũng có những sinh hoạt trần thế như dựng vợ, gả chồng... Chúa Giêsu đã sửa đổi lại quan điểm ấy khi dạy rằng đời sống mai hậu “thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.”[10]

Giáo lý về sự phục sinh được cô đọng trong Tin Mừng Gioan qua lời tuyên bố: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” (Ga 11,25-26). Nhưng điều này, các môn đệ chỉ có thể hiểu trong bối cảnh hậu phục sinh của Chúa Kitô và dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh.

c. Niềm tin về sự sống lại của Hội Thánh

Đạo lý về sự phục sinh là điểm căn bản trong chương trình huấn giáo của Giáo Hội. Tuy nhiên, việc trình bày đạo lý này luôn là một khó khăn, thách đố. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các Tông phụ, Giáo phụ đã phải đối đầu với những ảnh hưởng của triết học Hy Lạp khinh chê thân xác.[11]

Bàn về thân xác phục sinh, các giáo phụ khẳng định rằng thân xác phục sinh cũng đồng nhất với thân xác hiện tại, và đó là do quyền năng của Thiên Chúa,[12] vì “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).

Các tín biểu cổ nhất đều tuyên xưng đạo lý về sự phục sinh thân xác, chẳng hạn, tín biểu Nicea-Constantinopolis: exspectamus resurrectionem mortuorum. Dần về sau, người ta nhấn mạnh thêm rằng chính thân xác này sẽ sống lại, không phải là linh hồn mặc lấy một thân xác nào khác. Điều này được nhấn mạnh tại các Công đồng thời Trung Cổ (như Lateranô IV, 1215; Lyon II, 1274) chống lại phái Cathar.[13]

Công đồng Vatican II bàn về sự phục sinh ở hai văn kiện chính là Hiến chế Lumen Gentium, số 48; và Hiến chế Gaudium et Spes, các số 18, 22, 39. Những tư tưởng này đã được giải thích nhiều nơi sách GLHTCG, đặc biệt ở các số 988-1004; 1005-1017. Ta có thể lấy ra đây một dẫn chứng:

“Ngày tận thế ‘ai đã làm lành sẽ sống lại hầu được sống, còn ai làm ác sẽ sống lại để chịu đoán phạt’ (Ga 5,29; x. Mt 25,46). Bởi đó, tin rằng ‘những đau khổ hiện thời chẳng thấm vào đâu với vinh quang sắp tới sẽ được giải bày cho chúng ta’ (Rm 8,16; x. 2Tm 2,11-12), chúng ta mạnh mẽ tin tưởng trông đợi ‘niềm hy vọng hạnh phúc và ngày trở lại vinh quang của Thiên Chúa cao cả và Ðấng cứu chuộc chúng ta là Chúa Giêsu Kitô’ (Tt 2,13). "Người sẽ cải tạo thân xác hèn mạt ta ra giống thân xác sáng láng của Người" (Pl 3,21) và sẽ ngự đến ‘để được vinh quang trong các Thánh của Người và được thán phục trong mọi người đã tin’ (2Tx 1,10).” (LG, số 48d).

2. Đức Kitô đã sống lại thật

Hai dữ kiện chính có tính quyết định trong các trình thuật về sự phục sinh của Chúa Kitô là ngôi mộ trống và các lần hiện ra của Người. Mặc dù ban đầu, theo những nhà chú giải Công giáo và cả Tin Lành, cả hai loại trình thuật này đều đã lưu hành trong các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, nhưng biệt lập và không quy chiếu qua lại, cho tới khi các bản văn Tin Mừng được soạn ra.[14]

a. Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống là sự kiện đặc biệt, được cả bốn tác giả Phúc Âm thuật lại[15], nhưng nếu chúng ta suy nghĩ kỹ, thì sự kiện này không được trình bày như bằng chứng của việc Chúa Kitô sống lại. Bởi thay vì gợi lên lòng tin, thì nó lại làm phát sinh ra sự sợ hãi, đến nỗi các bà Maria Magdala, Maria mẹ ông Giacôbê, và Salômê phải “hoảng sợ”“chạy trốn khỏi mồ” (x. Mt 28,8; Mc 16,8; Lc 24,4), và giải thích sự kiện đó như một vụ lấy trộm xác Chúa (x. Ga 20,2.13.15).[16]

Những chi tiết liên quan đến ngôi mộ trống được kể lại trong các trình thuật cũng thiếu thống nhất. Theo Matthêu và Maccô, các bà này nhìn thấy một thiên thần, còn theo Luca thì hai. Các thiên thần ấy đứng hay ngồi, ở ngoài hay trong mồ cũng là một câu hỏi.[17] Tuy câu chuyện kể có phần lẫn lộn và xuất phát từ những phụ nữ, những người không được luật Do Thái thừa nhận là có quyền làm chứng, nhưng nó đã được Phúc Âm cẩn thận ghi chép lại, và ngay đến “kẻ thù” (tức là các Thượng tế, Kỳ mục) cũng không phủ nhận việc ngôi mộ trống, chỉ có điều họ cắt nghĩa rằng các môn đồ Đức Kitô đã lấy trộm xác mang đi (x. Mt 28,13), thì thật đáng để xem như một dấu chứng về sự khả dĩ của việc sống lại.

Trên bình diện lịch sử, các nhà phê bình ngày nay có thể chấp nhận sự kiện ngôi mộ trống. Nhưng sự kiện này, tự nó chẳng chứng minh gì cả. Sự kiện ấy chỉ mặc ý nghĩa rõ ràng và dứt khoát nhờ lời rao giảng và lời rao giảng này bắt nguồn từ các cuộc hiện ra của Đức Giêsu phục sinh. Đối với các tín hữu, ngôi mộ trống không phải là một chứng lý về sự phục sinh nhưng là một dấu hiệu.[18]

b. Các lần hiện ra

Có bao nhiêu lần hiện ra, và đã xảy ra ở đâu, cho những người nào? Thật khó mà xác định theo lịch sử tính! Bản văn cựu trào nhất về mặt văn chương là 1Cr 15,5-8 nói tới 5 lần Chúa phục sinh hiện ra:[19]

Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.”

Các Phúc Âm kể lại một số lần Đức Kitô phục sinh hiện ra với những người bạn từng sống với Người trước cuộc tử nạn. Mỗi tác giả kể lại những gì đã sống qua cũng như tìm biết được, và cắt nghĩa các sự kiện theo nhãn quan thần học riêng của mình.[20]

Trong bốn trình thuật Phúc Âm, Chúa Kitô đã hiện ra với các phụ nữ ra viếng mồ lúc tảng sáng (x. Mt 28,9-10; Mc 16,9-11; Ga 20,11-18), với hai môn đệ trên đường Emmau (Mc 16,12-13; Lc 24,13-35), và với các môn đệ (Mt 28, 16-20; Mc 16,14-18; Lc 24,36-43; Ga 20,19-29; 21,1-14 // Lc 5,1-11).[21]

Thần học chia các cuộc “hiện ra” làm ba loại,[22] và những cuộc “Kitô hiển dung” (Christophania) thuộc loại thứ hai, như đọc thấy trong 1Cr 15,5; vì Đức Kitô là “Thiên Chúa hữu hình” (Cl 2,9), nên con người có thể thấy được Người. Thêm nữa, tất cả các trình thuật cho thấy sáng kiến “hiện ra” đều phát xuất từ Chúa Kitô, tức là Người tự do hiện ra với những kẻ Người muốn, chứ không bao giờ nói đến sự chủ quan của các môn đồ, không phải với tất cả (x. Cv 10,41).

Mặt khác, việc “hiện ra” của Chúa Kitô vừa nhấn mạnh đến việc nhận ra Đấng phục sinh, nêu bật sự kiện các nhân chứng đã gặp cùng một nhân vật, tức là Thầy Giêsu của mình, vừa nêu cao việc phái gửi đi, nói rõ về vai trò làm chứng tá của các Tông đồ (x. Mt 28,9tt; Ga 20,24tt).[23]

Tuy nhiên, qua các trình thuật hiện ra, bao giờ cũng có những người không tin, ngờ vực; không thiếu những người coi việc hiện ra của Chúa Kitô được các Phúc Âm thuật lại “chỉ là sự kiện thần thoại thuần túy và nghèo nàn được tạo ra bởi cuồng tín.”[24] Thế mới thấy đức tin là thái độ chấp nhận và đáp trả hoàn toàn tự do!

3. Đức Kitô phục sinh, khởi điểm của đức tin Kitô

Chỉ nơi bốn sách Tin Mừng mà thôi, ta đã có đến 131 câu đề cập đến biến cố phục sinh, kể từ lúc các phụ nữ đi thăm mồ từ sáng sớm, đã phát hiện ra ngôi mộ trống và được báo cho biết Chúa đã sống lại, đến biến cố thăng thiên. Sách Công vụ Tông đồ và các thư Tân Ước còn cung cấp thêm 160 câu về đề tài Phục Sinh của Chúa chúng ta. Chỉ riêng thánh Phaolô đã có 22 lần nhắc đến.[25]

Nghiên cứu về biến cố phục sinh là một việc làm hết sức phức tạp, và xem ra, phủ nhận nó thì dễ hơn là thuyết phục để cho tin. Nhưng dù sao, cần phải ý thức rằng đó là một mầu nhiệm, vì thế hàm chứa một nội dung vô tận, như thánh Tôma Aquinas đã nhận định:[26]

“Viết về mỗi phép lạ và lời nói của Đức Giêsu Kitô có nghĩa là giải thích tầm quan trọng của mỗi lời và mỗi việc. Mà mỗi lời nói, mỗi việc làm của Đức Kitô thì đều là của Thiên Chúa. Vì vậy, nếu có ai muốn khai triển hoặc trình bày ý nghĩa của mỗi việc như thế, thì hẳn là không làm nổi. Còn hơn thế nữa, dù toàn thể nhân loại cùng làm, thì cũng không thực hiện được việc này, vì những lời con người có nhiều bao nhiêu mặc lòng thì cũng không bằng một Lời duy nhất của Thiên Chúa...”

Quả thật, sự kiện mang tính mầu nhiệm này vượt quá tầm khảo cứu của các sử gia, và chỉ hành động “tin” mới nhận biết nó hiện thực. Đây cũng chính là nội dung của việc các môn đệ Đức Giêsu tuyên xưng đức tin vào việc Chúa Kitô đã chết và đã sống lại.[27]

Nếu loại trừ biến cố phục sinh, thì không thể nào hiểu nổi sự kiện xuất hiện và đà phát triển của Kitô giáo. Bởi sau khi Đức Giêsu bị giết chết trên thập giá, nhóm môn đệ và mọi dự định của họ liên quan đến Thầy mình đều xem như tan biến hết, họ không còn hy vọng gì cả (x. Lc 24,21). Thế nhưng chỉ vài năm sau đó, Jerusalem đã chứng kiến những người tin vào “ông Giêsu” ấy rao giảng và kiên vững làm chứng cho những điều họ đã thấy tận mắt, nghe tận tai, dù có phải chịu đòn vọt, tù đày, thậm chí là giết chết. Rồi nhân danh Đức Kitô phục sinh, họ tụ họp thành cộng đoàn, thành Giáo Hội, với những nghi thức phụng tự riêng, và cho đến ngày nay, đức tin ấy vẫn tiếp tục tồn tại nguyên vẹn.[28]

Biến cố phục sinh như là ánh sáng soi dẫn cho các môn đệ nhận ra những điều mà họ đã hằng nhìn mà không thấy trong suốt những năm tháng theo Thầy. Có thể coi phục sinh là sự khởi đầu sinh trưởng của hạt giống đức tin mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng các môn đệ sau lần kêu gọi đầu tiên: “ovpi,sw mou” (“hãy theo Thầy”). Thiếu sự phục sinh, sẽ chẳng thể có được Kêpha, Phaolô, và cũng chẳng thể có Kerygma. Bởi “nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15,14).

Đối với Giáo Hội, sự kiện phục sinh, cùng với tác động của Thánh Linh, có thể được coi như một biến cố “đổi đời”. Trước hết là “đổi đời” nơi các môn đệ theo Đức Giêsu, để biến các Kitô hữu tiên khởi, những ngư phủ ít học, nhút nhát thành những chứng nhân can đảm tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô là Thiên Chúa và là người thật, đã chết và đã sống lại. Thứ đến là “đổi đời” của Giáo Hội, từ việc người Do Thái từ chối không tin vào Đức Giêsu, phủ nhận việc phục sinh, và bắt bớ những người tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại, Tin Mừng được lan rộng khắp nơi, triều đại của Thiên Chúa, vốn có một chiều kích hoàn vũ trong lời rao giảng của Đức Giêsu, đã được đem tới cho tất cả mọi dân tộc, quốc gia, ngôn ngữ.

Đối với người Kitô, đức tin vào sự sống lại của Chúa Kitô diễn đạt sự chắc chắn về câu nói có vẻ chỉ như là giấc mơ tuyệt đẹp, nhưng lại là sự thật: “Tình yêu mạnh hơn sự chết” (Gv 8,6).[29] Từ đó, nảy sinh niềm tin vào cuộc sống mai hậu, vào những điều Thiên Chúa đã hứa: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”(Ga 11,25).

III. SỰ THĂNG THIÊN CỦA CHÚA KITÔ

1. Chúa Kitô lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha

Việc Chúa Kitô được rước lên trời không được cả bốn Tin Mừng thuật lại. Matthêu và Gioan không nói gì đến việc ấy. Maccô chỉ vỏn vẹn nói trong một câu: “Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,21) nhưng lại không nói đến thời điểm và nơi chốn Đức Giêsu lên trời.[30] Chỉ có thánh sử Luca là tường thuật lại sự kiện này, cả trong Tin Mừng (Lc 24,50-53) và trong Công vụ Tông đồ (Cv 1,9); đồng thời, sự kiện này được ám chỉ trong 1 Pr 3,22; Rm 8,34. Như vậy, đây là một sự kiện đã được làm chứng ngay từ thời đầu tiên của Giáo Hội.[31]

Cùng với mầu nhiệm “ngự bên hữu Đức Chúa Cha”, mầu nhiệm “lên trời” của Chúa Kitô được tuyên xưng trong kinh Tin Kính ngay từ lúc ban đầu. Thật ra, cả hai mầu nhiệm này chỉ là một. Các hình ảnh được dùng để ám chỉ đến sự kiện này đã phảng phất trong Tân Ước như: “được nâng lên” (Ga 12,13.34; Cv 2,33; Pl 2,9); “được vinh quang hóa” (Ga 7,39; 17,1); “đi vào trong vinh quang của Ngài” (Lc 24,26); “đi lên với Cha” (Ga 20,17); “được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 19,19)...[32]

Có người nhận xét rằng, việc siêu tôn Chúa Kitô sống lại là phần cốt yếu của mầu nhiệm, còn việc từ giã trần gian (thăng thiên hữu hình chỉ là khía cạnh phụ, không nhất thiết phải có. Nhưng vì để củng cố niềm tin của các môn đệ, Người đã cho họ chứng kiến cảnh người về trời.[33]

Về trời ở đây không mang ý nghĩa không gian, như thể trời ở trên cao theo vũ trụ quan của con người,[34] nhưng chỉ về sự thay đổi của thân phận Đức Kitô, trải qua từ tình trạng mọn hèn theo xác thịt bước sang tình trạng hiển vinh theo Thần Khí. Chính khi hiện diện với tư cách ít con người hơn, Đức Kitô lại hiện diện với tư cách Thiên Chúa trọn vẹn hơn. Do vậy, Người lên trời không phải là lìa xa con người, nhưng là “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người không hiện diện cách hữu hình, nhưng là cách mới mẻ và thâm sâu hơn trong lòng mỗi Kitô hữu. Và cách riêng nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô phục sinh vẫn đang hiện diện và đồng hành với con người trên hành trình tiến về Thiên Quốc.

Hình ảnh siêu tôn và hình ảnh phục sinh gắn kết với nhau, giúp ta hiểu rõ ràng hơn về sự hiện diện mang ý nghĩa cánh chung đang đến. Chúa Giêsu được nâng lên khỏi mặt đất (x. Ga 12,32), được tôn vinh trong Thiên Chúa Cha (x. Ga 17,11), được siêu tôn (x. Pl 2,9) vượt quá mọi danh hiệu (x. Ep 1,21).[35]

Từ nay, Đức Kitô ngự bên hữu Chúa Cha, để mọi vinh quang, danh dự và uy quyền đều thuộc về Người (x. Kh 4,11), thuộc về thần tính, trong đó, Con Thiên Chúa với tư cách là Thiên Chúa và đồng bản thể với Chúa Cha, đã hiện diện từ trước muôn đời, ngự trong chính vinh quang của Người.

Còn theo sách GLHTCG, việc Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa Cha “là sự khai mạc Nước của Đấng Mesiah, sự hoàn thành thị kiến của tiên tri Đaniel về Con Người: “Người được trao cho quyền thống trị, vinh quang và Nước; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia, và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; Nước Người sẽ chẳng hề suy vong và sẽ chẳng bao giờ cùng tận.”[36]

2. Chúa Kitô phục sinh sẽ trở lại trong vinh quang

“Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được cất lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11). Lời của thiên sứ trong bài trình thuật sách Công vụ diễn tả mối tương quan chặt chẽ giữa việc Chúa Kitô phục sinh lên trời và việc Người sẽ trở lại vào ngày tận thế.[37] Vậy ngày ấy là ngày nào? Bao giờ mới diễn ra? Có những điềm báo gì hay không?

Ngày tận thế còn được gọi là “ngày của Chúa” (1Tx 5,2; 2Tx 2,2; 1Cr 5,5); “ngày của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (1Cr 1,8; 2Cr 1,14); “ngày của Đức Kitô” (Pl 1,10; 2,16); “ngày của Con Người” (Lc 17,22.24.26)...[38] Đó là ngày Chúa Kitô sẽ đến để đưa tất cả chúng ta về ở mãi bên Người. Khi ấy, những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống (x. 1Tx 4,16-17) để phán xét thế gian.

Dựa vào chương 24 trong Tin Mừng Matthêu, chúng ta có thể liệt kê ra đây bảy điềm báo về ngày Chúa quang lâm: 1/ sẽ có các ngôn sứ giả; 2/ chiến tranh; 3/ tai ương, ôn dịch; 4/ các cuộc bách hại; 5/ nhiều người sẽ mất đức tin, chối bỏ đạo thánh; 6/ Tin Mừng sẽ lan truyền đến tận cùng trái đất; 7/ vũ trụ xáo trộn (x. Mt 24,11-31).[39] Tuy nhiên, những điềm báo này đã từng, và liên tục xảy ra trong lịch sử con người (chiến tranh, loạn lạc, mất mùa...) và dường như giọng văn của Matthêu muốn nói đến cuộc tàn phá Jerusalem và những điều xảy ra ở đó thì đúng hơn (x. Mc 13,1-37 // Lc 17,20 – 18,8).[40]

Quang lâm sẽ kết thúc lịch sử, hoàn tất sứ mạng của Chúa Kitô, “và đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1,10).[41] Quang lâm cũng là chiều kích còn ẩn giấu của sự phục sinh, là đối tượng hy vọng của Kitô giáo, là sự chờ đợi cuộc mặc khải cuối cùng (Cl 3,1-4) vào ngày phục hồi vạn vật (Cv 3,21; 1 Tx 1,10). Lúc ấy, Người sẽ trở lại như Người đã ra đi (Cv 1,11). Người sẽ từ trời ngự xuống (1 Tx 4,16; 2 Tx 1,7), trên mây trời (Kh 1,7; 14,14), trong lúc những kẻ được chọn sẽ đi lên gặp Người, cũng là trên những đám mây (1 Tx 4,17), như hai chứng nhân trong sách Khải huyền (Kh 11,12). Và chúng ta sẽ được ra nghênh đón Người trên không trung (x. 1Tx 4,17).

IV. NIỀM HY VỌNG KITÔ GIÁO

1. Chúa Kitô phục sinh đem lại cho ta sự sống mới

Sự phục sinh của Chúa Kitô là một biến cố cánh chung: cho nên, tuy nó xảy ra trong thời gian và trong không gian, nhưng người ta không thể xem nó như một biến cố lịch sử được; nó vượt ra ngoài tầm suy tưởng của con người.[42]

Sách GLHTCG cho ta thấy ý nghĩa của sự phục sinh của Đức Kitô:

Sự phục sinh của Đức Kitô – và chính Đức Kitô phục sinh – là nguyên lý và nguồn mạch cho chúng ta ngày sau được sống lại“Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống.” (1Cr 15,20-22). [...] Đời sống của các tín hữu được Đức Kitô lôi cuốn vào trong lòng đời sống thần linh, “để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình.” (2Cr 5,15).[43]

Người tín hữu Kitô tin rằng nhờ Bí tích Thánh Tẩy, họ được chết và chôn vùi với Đức Kitô, để rồi được trỗi dậy với Người, sống một đời sống mới (x. Rm 6,4-5). Con người cũ đã không còn, và đời sống mới là một đời sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình (x. 2Cr 5,15), trở thành một thọ tạo mới (x. 2Cr 5,17; Gl 6,15), đến nỗi họ có thể nói được rằng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Còn Đức Giáo hoàng Benedict XVI lại nhìn sự phục sinh của Đức Kitô dưới lăng kính của tình yêu: Tình yêu là nền tảng của bất tử, và bất tử chỉ xuất phát từ tình yêu. Từ nhận định này, ta có thể vạch ra con đường của niềm tin mà ta đang đi, có nghĩa là người nào có tình yêu cho tất cả, người ấy đã triển khai bất tử cho tất cả. Nói cách khác, đó là ý nghĩa của tuyên bố Kinh Thánh rằng sự phục sinh của Chúa Kitô chính là sự sống của chúng ta.[44]

Như thế, nhờ tình yêu và những hoa trái của tình yêu, chúng ta sẽ trở nên bất tử với Chúa Kitô trong ngày Người trở lại đón chúng ta đi với Người.

2. Chúa Kitô sẽ trở lại

Thời đại của Giáo Hội là thời gian để chúng ta chu toàn sứ mạng “ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19) của Chúa Kitô cho tới khi Người trở lại, vì “Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ [cõi thế này] và được cất lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11) đúng như lời Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,3).

Sau cuộc thăng thiên, việc ngự đến trong vinh quang của Đức Kitô luôn gần kề [...] Biến cố cánh chung này có thể xảy ra bất cứ lúc nào [...], tùy thuộc vào việc Người được nhận biết như thế nào.[45]

Trong thời gian chờ đợi ấy, chúng ta phải giữ vững đức tin, xây dựng vững chắc sự trông cậy, kiên quyết và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng mà chúng ta đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng (x. Cl 1,23). Nhưng thực tế, Giáo Hội đã chứng kiến nhiều con cái mình, vì nao núng ngày Chúa trở lại trong vinh quang, đã dẫn đến các lạc thuyết. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, điều này đã gặp thấy nơi một số giáo đoàn, chẳng hạn giáo đoàn Thessalonica.

Các Kitô hữu phải tỉnh thức, như thái độ căn bản đón chờ ngày Chúa quang lâm (x. Mt 24,36-44 // Mc 13,32-37 // Lc 17,26-30. 35-36). Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ cần có để đón chờ Chúa Kitô trở lại. Và hằng ngày, trong thánh lễ, các tín hữu vẫn cất lên niềm hy vọng ấy: “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.”

KẾT LUẬN

Từ những gì chúng ta tìm hiểu ở trên, có thể nói rằng, sự kiện phục sinh của Chúa Kitô là một biến cố trong dòng lịch sử, nhưng vượt quá không gian lịch sử. “Đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa”.[46] “Đó là thành quả cuối cùng của công cuộc Nhập thể”.[47]

Xét về bản chất, Thiên Chúa hằng sống, do đó trong tình trạng ngôi hiệp, Chúa Kitô sống lại là điều tất yếu và nằm trong chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Từ sự phục sinh ấy, sự sống mới đã được đem lại cho con người và trở thành đối tượng của đức tin, của niềm hy vọng Kitô. Và để đón chờ ngày Người trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ lành người dữ, chúng ta hăng hái thi hành sứ mạng mà Người đã ủy thác trước khi về trời, bằng cách họa lại cách trung thực chân dung của Đức Giêsu lịch sử đã sống và đồng lao cộng khổ với con người.

Cuối cùng, xin mượn lời của Hiến chế Tín lý về Giáo Hội của Công đồng Vatican II để nói về sự phục sinh và lên trời của Chúa Kitô đối với đời sống Giáo Hội hôm nay:

“Lữ hành giữa cơn bách hại của thế gian và trong niềm an ủi của Thiên Chúa”, Giáo Hội rao truyền cái chết và thánh giá Chúa, cho đến khi Người trở lại (x. 1Cr 11,26). Giáo Hội vững mạnh nhờ thần lực của Chúa phục sinh, để toàn thắng các khó khăn và sầu muộn từ bên trong cũng như bên ngoài bằng yêu thương và kiên trì, và trung thành mạc khải cho thế gian mầu nhiệm của Chúa còn giấu trong bóng tối, cho đến khi được phô bày dưới ánh sáng vẹn toàn trong ngày sau hết.[48]

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

VĂN KIỆN

[1]         Công đồng Vatican II. Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay – Gaudium et Spes. Đà Lạt: Giáo hoàng Học viện Piô X, 1972.        

[2]                                            . Hiến chế Tín lý về Giáo hội  Lumen Gentium. Đà Lạt: Giáo hoàng Học viện Piô X, 1972.

[3]         Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo. Bản dịch của Hội Đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Giáo lý Đức Tin. Hà Nội: Tôn giáo, 2010.

[4]         Nhóm CGKPV. Bản dịch Kinh Thánh. Sài Gòn, 2011.

THƯ MỤC SÁCH

[1]         F. X. Durrwell. Đức Kitô, cuộc vượt qua của ta. Bản dịch của Nguyễn Đức Thông. Lưu hành nội bộ, 2008.

[2]         Gomez, Louis. Kitô học, 2 tập. Tủ sách An Tôn & Đuốc Sáng, 2002.

[3]         Hoàng Đắc Ánh. Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Maccô (dẫn vào và chú giải).Mai Khôi, 2005.

[4]         Hoàng Minh Tuấn. Đức Yêsu phục sinh, tập 1. Hà Nội: Tôn Giáo, 2005.

[5]         Norberto. Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô. s.l.: s.d., 2002.

[6]         Nhóm CGKPV. Đối chiếu bốn sách Tin Mừng. Hà Nội: Tôn Giáo, 2004.

[7]         Nguyễn Ngọc Sơn. Kitô học, tập 1. Giáo trình giảng dạy tại Học viện Đa Minh, niên khóa 2004 – 2005.

[8]         Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng. Cánh chung học. Học viện liên dòng thánh Tôma, 2004.

[9]         P. Rausch, Thomas. Who is Jesus? An Introduction to Christology. Claretian Publications, 2003.

[10]       Rahner, Karl. Những nền tảng đức tin Kitô, tập 2. Bản dịch của Nguyễn Luật Khoa. Hà Nội: Tôn Giáo, 2013.

[11]       Ratzinger, Joseph. Dẫn nhập vào Kitô giáo. Bản dịch của Nguyễn Luật Khoa. Hà Nội: Từ Điển Bách Khoa, 2009.

[12]                                Đức Giêsu thành Nazareth, phần II. Bản dịch của Nguyễn Văn Trinh. Hà Nội: Tôn Giáo, 2011.

[13]       Tôma Aquinas. Summa Theologica, Part III. Bản dịch Trần Ngọc Châu, Tổng luận Thần học, quyển III – tập II.

[14]       Vương Đình Bích. Niềm hy vọng vào Đấng cứu độ chúng ta. Hà Nội: Tôn Giáo, 2009.

[15]       Weger, Karl-Heinz. Kitô học qua các tác giả. Köln: Verlag Styria. Bản dịch của ĐCV thánh Giuse, 1991.

THƯ MỤC INTERNET

[1]         Vũ Xuân Hạnh, Chúa Kitô phục sinhhttp://www.dongcong.net/LoiChuaSuyNiem/SuyNiemNamB/Hanh/LePhucSinh-b.html. Truy cập ngày 20/04/2015.

 

 

 


[1]    x. Pl 3, 8-10.

[2]    see. P. Thomas Rausch, Who is Jesus? An Introduction to Christology, Claretian Publications, 2003, p.53.

[3]    x. 1Sm 2,6; Kn 16,13

[4]    x. Norberto, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô, s.l., s.d., tr. 138.

[5]    x. 1V 17, 17-23; 2V 4, 29-37.

[6]    Xem các sách 1 & 2 Macabê; Daniel.

[7]    see. P. Thomas Rausch, ibid., p.55.

[8]    x. Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, Học viện liên dòng thánh Tôma, 2004, tr.163.

[9]    x. Mc 12,26-27.

[10]   x. Mt 22,23-33; Mc 12,18-27; Lc 20,27-40.

[11]   Xem thêm câu chuyện về bài giảng thất bại của thánh Phaolô tại Hội đồng Arêôpagô khi thánh nhân đề cập đến việc người chết sống lại ở Cv 17,22-34.

[12]   x. Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng, sđd, tr.175-176.

[13]   x. Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng, sđd, tr. 176-177.

[14]   x. Vương Đình Bích, Niềm hy vọng vào Đấng cứu độ chúng ta, NXB Tôn Giáo, 2009, tr.155-156.

[15]   x. Felipe Gomez, Kitô học, tập 1, Tủ sách An Tôn & Đuốc Sáng, tr. 70.

[16]   x. Vương Đình Bích, sđd, tr.158.

[17]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 70.

[18]   x. Norberto, sđd, tr. 167.

[19]   x. Vương Đình Bích, sđd, tr.159-160.

[20]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 66.

[21]   Nhóm CGKPV, Đối chiếu bốn sách Tin Mừng, NXB Tôn Giáo, 2004, tr.325-330. (Có thể xem thêm mục “những nhân chứng đã được trông thấy Chúa hiện ra” trong Norberto, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô, s.l., s.d., tr. 153-154).

[22]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 66-67.

[23]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 69.

[24]   see. P. Thomas Rausch, ibid., p.118.

[25]   x. Vũ Xuân Hạnh, Chúa Kitô phục sinhhttp://www.dongcong.net/LoiChuaSuyNiem/SuyNiemNamB/Hanh/LePhucSinh-b.html. Truy cập ngày 20/04/2015.

[26]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 57.

[27]   x. Nguyễn Ngọc Sơn, Kitô học, tập 1, giáo trình giảng dạy tại Học viện Đa Minh, niên khóa 2004-2005, Lưu hành nội bộ, tr.127.

[28]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 53-54.

[29]   x. Joseph Ratzinger, Dẫn nhập vào Kitô giáo, Bản dịch của Nguyễn Luật Khoa, NXB Từ Điển Bách Khoa, 2009, tr.266.

[30]   Nhóm CGKPV, sđd, tr.332.

[31]   x. Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Maccô (dẫn vào và chú giải), Mai Khôi 2005, tr. 211-212.

[32]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 88.

[33]   Hoàng Minh Tuấn, Đức Yêsu phục sinh, tập 1. NXB Tôn Giáo, 2005, tr.156-157.

[34]   x. Joseph Ratzinger, Đức Giêsu thành Nazareth, phần II, Bản dịch của Nguyễn Văn Trinh, NXB Tôn Giáo, 2011, tr. 336.

[35]   F. X. Durrwell, Đức Kitô, cuộc vượt qua của ta. Bản dịch của Nguyễn Đức Thông, Lưu hành nội bộ, 2008, tr.114-115.

[36]   x. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 664.

[37]   x. Norberto, sđd, tr. 225.

[38]   x. Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng, sđd, tr.121.

[39]   x. Phan Tấn Thành – Đinh Thị Sáng, sđd, tr.125-126.

[40]   x. Nhóm CGKPV, sđd, tr. 252-256.

[41]   x. Felipe Gomez, sđd, tr. 91.

[42]   x. Norberto, sđd, tr. 173.

[43]   Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo. Bản dịch của Hội Đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Giáo lý Đức Tin. NXB Tôn giáo, 2012, số 655.

[44]   x. Joseph Ratzinger, Dẫn nhập vào Kitô giáo, Bản dịch của Nguyễn Luật Khoa, NXB Từ Điển Bách Khoa, 2009, tr.270.

[45]   x. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, các số 673-674.

[46]   Joseph Ratzinger, Đức Giêsu thành Nazareth, phần II, Bản dịch của Nguyễn Văn Trinh, NXB Tôn Giáo, 2011, tr. 331.

[47]   Felipe Gomez, sđd, tr. 91.

[48]   Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 8.

Các tin khác

VIDEO

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daiveritas

  Emlalinhhoncuaanh

  Nhintuvatican

  Giaodanloanbaotinmung

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Thongdiepphucsinh2018

  Nhintuvatican

  DaiVatican

  Tổng thống Donald Trump nói về ân sủng Chúa

  Nhintuvatcan

  Daivatican

  Daichanlyachau

  Nhintuvatican

  NhintuvaticanDientu

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daivatican

  ChanLyAChau

  ́́́́Tam muoi nam thanh lap giao phan Vinh Long

  Chanlyachau 8:30

  Chanlyachau

  Daicatican

  Nhintuvatcan

  Thoisu

  Thoisu

  Daiveritas

  Daiveritas

  LeGiangSinh

  Nhac Giang Sinh 2018

  Suyniemvoiducthanhcha

  Vatican

  tintucvatican

  LeAnTangDucCha Dom.

  Daivatican

  Veritas

  nhintuvatican

  Daivatican

  nhintuvatican

  Hangdakienlao

  Hangda

  Hangda2017

  Chanlyachau

  Nhintuvatican

  daivatican

  Chanlyachau

  Tintucvatican

  Bai Giang be mac

  Dien nguyen

  Be mac

  Khai mac dai hoi gioi tre 15 Thanh Hoa

  Van nghe giopi tre lan xv Thanh Hoa

  Dai phat thanh vatican

  nhintuvatican

  ky niem 40 nam linh muc

  Thánh Lễ Tuyên Thánh Jacinta và Francisco Marto

  Muối và ánh sáng

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Nghi thức đóng Cửa Thánh

  Xin Mẹ Thương

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Suy Niệm với Đức Thánh Cha Phanxicô

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__3

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__1

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__2

  Thường huấn HĐMVGX Ban Mê Thuật

  Quốc tế thiếu nhi 01-6-2014

  Thể dục Dưỡng Sinh

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  CƠM TRƯA TRUNG THU 2013

  Thi đấu thăng cấp sơ đẳng Vovinam

  Khai mạc kỳ thi thăng cấp Vovinam

  Vovinam

  Đào luyện tâm linh

  Nghệ thuật cân bằng

  Đào Luyện Tinh Thần

  Đào Luyện Thể Chất

Bài viết mới
XÂY DỰNG HIỆP NHẤT YÊU THƯƠNG + GB. BÙI TUẦN
XÂY DỰNG HIỆP NHẤT YÊU THƯƠNG + GB. BÙI TUẦN
Cha Francesco Spinelli: đấng lập dòng chầu Thánh Thể và giúp người bệnh tật
Cha Francesco Spinelli: đấng lập dòng chầu Thánh Thể và giúp người ...
Sự dữ đi ngang qua những túi tiền
Sự dữ đi ngang qua những túi tiền