Thứ hai, ngày 16 tháng 07 năm 2018 | 10:34 AM - Giới thiệu | Ý nghĩa logo

TÌNH YÊU GIÊSU 

Truyền thông

MÔ HÌNH ĐÀO LUYỆN

 

HÀNG KITÔ HỮU GIÁO DÂN

 

HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ

 

CHIM ĐẦU ĐÀN

 

DẪN NHẬP

 

Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có Hàng Giáo Dân đích thực và nếu Hàng Giáo Dân này chưa cùng làm việc với Hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một Dân Tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một Hàng Giáo Dân Kitô giáo trưởng thành.[1]

Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ. Làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sĩ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này.[2]

 

ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO LUYỆN

 

TÍNH HỆ THỐNG

 

Khởi đi từ hai giới răn lớn nhất của Đạo:

1. Mến Chúa

2. Yêu Người

Công Đồng Vat. II, với tinh thần đổi mới và trong chiều kích mục vụ, đã vạch ra “Ba con đường lớn” để thực thi hai giới răn này. Đó là:

1. Trở về với Chúa Kitô và Phúc Âm của Người

2. Trở về với Con Người và với Môi Trường

3. Trở về với bản chất Giáo Hội: Truyền Giáo, qua Đối Thoại và Hoà Giải.

 

Các nhà Thần học Mục vụ gọi con đường thứ nhất là “Linh Đạo”[1] hầu thực hành giới răn Mến Chúa. Con đường thứ hai là “Mục Vụ”[2] hầu thực hành giới răn Yêu Người. Con đường thứ ba là “Truyền giáo”[3] (Tân Phúc Âm Hóa) hầu làm cho người ta cũng “Mến Chúa – Yêu Người”, nếu là những người tin Chúa. Còn những người khác thì sống theo Ưu Phẩm của Thiên Chúa là “Chân - Thiện - Mỹ.”

“Chân - Thiện - Mỹ”: Theo triết học, Chân lý dẫn tới sự hợp nhất. Thiện hảo dẫn tới sự chia sẻ. Ở đâu có sự hợp nhất và chia sẻ ở đó có cái Đẹp. Cái Đẹp mời gọi Hạnh Phúc. Như vậy, sống “Chân Thiện Mỹ” là sống:

“Hiệp Nhất, Chia Sẻ, Hạnh Phúc.”

Nói theo Văn Hóa Á Đông:

“Tu Thân, Tề Gia[4], Cứu Đời.”

Tu thân là Linh Đạo. Tề gia là Mục vụ. Cứu đời là Truyền Giáo.

Nói theo Đức Giáo Hoàng Phanxico: “Đi vào, đi ra, đi ra ngoại biên.”

Đi vào là Linh đạo. Đi ra là Mục vụ. Đi ra ngoại biên là Truyền giáo. Mở rộng Nước trời. Nước Trời lớn hơn Giáo Hội.

 

Như thế, “Mô Hình” đào luyện Hàng Kitô Hữu Giáo Dân được gọi là:

“Linh Đạo - Mục Vụ - Truyền Giáo.” = “Hợp Nhất - Chia Sẻ - Hạnh Phúc.”

“Đi Vào - Đi Ra - Đi Ra Ngoại Biên.”

 

 


[1] Linh Đạo: Linh đạo là con đường “Tinh thần của con người chú tâm lắng nghe Thánh Linh của Thiên Chúa, từ bỏ con người cũ, tham dự vào đời sống của Người, trở nên con người mới.” (Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh)

(Linh Đạo là Tu Đức. Ngày nay người ta thích dùng “Linh Đạo” hơn dùng “Tu Đức,” vì chú tâm tới vai trò Chúa Thánh Thần.)

[2] Mục vụ: Là việc chăm sóc. Như mục tử chăm sóc đàn chiên. Mục vụ là việc của hết mọi người. Không dành riêng ai. Chỉ có Mục Tử duy nhất là Đức Kitô. Qui Mục Tử.

[3] Truyền giáo:

Theo Truyền giáo học:

"Công cuộc truyền giáo là công tác tông đồ, qua đó:

  • Giáo Hội trình bày Chúa Giêsu cho anh chị em lương dân để họ nhận biết và yêu mến Ngài là Đấng Cứu Độ.

Đồng thời đem: Tin Mừng chiếu soi mọi thực tại và khía cạnh của cuộc sống.

Hầu tất cả được thăng tiến theo chương trình của Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Độ.(Gm. Giuse Đinh Đức Đạo)

TÍNH MỤC TIÊU: TẬP TRUNG VÀO ĐỨC GIÊSU KITÔ

 

TÍNH SƯ PHẠM và KỸ NĂNG

 

Chúa Giêsu, “Đấng Sư Phạm” đại tài. Khi đào luyện Phêrô, Người Lãnh Đạo Hội Thánh, Chúa đã lặp đi lặp lại 3 lần. Ngài bắt đầu từ Tâm: “Con có yêu…”; rồi Trí: “Thầy biết… Thầy biết con yêu…” Sau đó, khi thấy “Tâm -Trí” của Phêrô đã quyện lại với nhau, Ngài kêu gọi Ý Chí : “Hãy theo Thầy.” Quyết tâm theo, thì phải từ bỏ ý riêng, thuận theo Ý Chúa. Thực hành lâu bền sẽ trở thành nhân đức.

 

NỘI DUNG

 

MÔ HÌNH MẪU

 

Chúa Giêsu đào luyện Phêrô “Người đứng đầu;” “Chim Đầu Đàn.”

1. Lời Chúa (Jn. 21: 15-19)

15Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô:

"Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy."

Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy."

16 Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biếtcon yêu mến Thầy."

Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy."

17 Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?"

Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?"

Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy."

Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.

18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."

19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."

2. Áp dụng

 

TÍNH HỆ THỐNG

 

Hai giới răn “Mến Chúa - Yêu Người”không thể tách rời nhau, như hai mái chèo của một con  thuyền:

“YÊU MẾN THIÊN CHÚA – CHĂM SÓC CON NGƯỜI”

 

TÍNH SƯ PHẠM và KỸ NĂNG

 

Chúa Giêsu, nhà Đào Luyện. Ngài đã đào luyện Phêrô với tinh thần “Khoa học-Hội thánh.” (Khoa học là phương pháp. Hội Thánh là Ơn Chúa.)

Hai yếu tố khoa học được lưu ý: Sư phạm và kỹ năng.

- Sư phạm:

Có đặc điểm là kiên trì, tiệm tiến, lặp đi lặp lại.

Cổ nhân dạy: “Quá tam ba bận.”

Cũng giống như nhân đức là một tập quán hành thiện, thói quen làm điều tốt. Muốn có tập quán, thói quen, chúng ta phải làm đi làm lại nhiều lần. Tập quán là một bản năng thứ hai.

 - Kỹ năng:

Tập trung tác động kỹ vào ba cơ năng quan yếu:

“Tâm, Trí và Ý Chí.”

Khi “Tâm –Trí” hòa quyện với nhau, sẽ biến thành “Ý Chí.”

Chúa Giêsu, “Đấng Sư Phạm” đại tài. Khi đào luyện Phêrô, Người Lãnh Đạo Hội Thánh, Chúa đã lặp đi lặp lại 3 lần. Ngài bắt đầu từ Tâm: “Con có yêu…”; rồi Trí: “Thầy biết… Thầy biết con yêu…” Sau đó, khi thấy “Tâm-Trí” của Phêrô đã quyện lại với nhau, Ngài kêu gọi Ý Chí : “Hãy theo Thầy.” Quyết tâm theo, thì phải từ bỏ ý riêng, thuận theo Ý Chúa.

Quyết tâm thi hành bền vững, với Ơn Chúa, sẽ trở thành nhân đức. Người có nhân đức là người nên giống Chúa. Nên giống Chúa là nên Thánh. Nên Thánh là được nên Một trong Chúa. Đó là mục đích sau cùng của việc đào luyện tâm linh, đào luyện đời sống nội tâm.

 

TÍNH MỤC TIÊU:TẬP TRUNG VÀO ĐỨC GIÊSU KITÔ

 

MÔ HÌNH CỤ THỂ

 

1. ĐÀO LUYỆN LINH ĐẠO:MẾN CHÚA

 

Phúc Âm Matt. 11, 28-30

Hãy mang lấy ách của tôi

(28)"Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (29) Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền lành và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. (30) Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng".

 

1. Nhận thức

1.1. Ý nghĩa

Đào luyện Linh đạo là xây dựng và phát triển đời sống tâm linh.

Theo định hướng “Khoa học - Hội thánh” và hội nhập nền Văn Minh Thiên Niên Kỷ mới: Châu Á Thái Bình Dương, “Đông-Tây” hòa hợp. Văn Minh Biển.

Linh đạo thời nay, tập trung vào Chúa Kitô và Phúc Âm.

1.2. Mục đích

Thực thi giới răn: “Mến Chúa.”

Hầu đạt tới Đức Kitô, theo cảm nghiệm nội tâm của thánh Phaolô:

“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi…”

Yêu mến ai thì trở nên giống người đó. Được tình yêu biến đổi. 

Hệ quả: Được biến đổi nên giống Chúa “Hiền Lành và Khiêm Nhường.”

 

2. Đào luyện

 

PHƯƠNG THỨC

CẦU NGUYỆN - CẢM NGHIỆM

 

1. Nhận thức

1.1. Ý nghĩa

Phương thức “Cầu Nguyện-Cảm Nghiệm,” là phương thức Đào luyện Tâm Linh. Dựa trên định hướng: “Khoa học-Hội thánh” và văn minh thời đại: “Đông -Tây” hòa hợp.

Dung hòa: Động và Tĩnh; Tình và Lý.” Dẫn tới Ý Chí quyết tâm. 

  

1.2. Mục đích

Cầu Nguyện-Cảm Nghiệm, giúp ta xác tín mạnh mẽ sự hiện diện của Chúa, đang ở trong trung tâm sâu thẳm của cõi lòng ta. Giúp ta ý thức sự hiện diện của Chúa ở khắp mọi nơi và mọi lúc, ngay cả ngoài lúc cầu nguyện.

Giúp ta chuyển đổi đức tin truyền thống, cộng đồng trở thành đức tin xác tín bản thân, sống động và cá vị. Đặc biệt giúp ta đạt tới lý tưởng linh đạo: “Chúa Kitô sống trong tôi.”

Đáp ứng nhu cầu thời đại “Tâm Linh”.

Đem lại Bình An và Sáng Suốt cho con người thời đại.

Chữa lành một số bệnh nguy hiểm của thời đại. 

 

1.3. Đặc điểm

1.3.1. Đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng trực tiếp và giúp ta tự đào luyện.

1.3.2. Khi chia trí, ta cứ nhẹ nhàng đưa trí khôn trở lại Lời Nguyện.

1.3.3.Thực hành: Từ 15 tới 30 phút mỗi lần. Ngày 2 lần, sáng, chiều.

 

2. Đào Luyện

2.1. Định tâm xác tín

Tư thế ngồi thanh thản. Nhắm mắt. Hoặc mở ¼, nhìn xuống đầu mũi.

Im lặng.

Tâm trí nhớ lại lời hứa của Chúa:

“Ở đâu có hai ba người, họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”.

Nếu sau rước lễ, cố gắng xác tín Chúa hiện diện và giục lòng yêu mến Ngài. Cảm nghiệm sống với Ngài, để được Ngài biến đổi. (1 phút)

2.2. Khởi động

Con nhìn Chúa. Chúa nhìn con. Con yêu mến Chúa. Xin Chúa biến đổi con nên giống Chúa: “Hiền Lành và Khiêm Nhường.” Xin Chúa thực hiện Thánh Ý Chúa nơi con: “Sống Liên Đới Trách Nhiệm và Yêu Thương Phục Vụ.” Qua con đường“Đối Thoại và Hòa Giải.”

Im lặng 1 phút.

 

2.3. Tác động tới Trí: Cầu nguyện

 (Chọn một hai Lời Chúa trong Kinh Thánh, gọi là Lời Nguyện, làm như cái đà để đưa lòng trí ta tới sự hiện diện và hoạt động của Chúa trong trung tâm cõi lòng ta. Tôi thường hay chọn hai Lời sau đây. Xin mọi người đọc hay hát tùy ý.)

- “Thầy là cây nho, các con là cành, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái, cành nào lìa cây sẽ khô héo liền, các con hãy ở trong tình yêu của Thầy;”

- “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được.”

Im lặng 2 phút.

Cứ 2 phút lặp lại 1 lần. Lặp đi lặp lại 3-5 lần, tùy theo hoàn cảnh.

 

2.4. Tác động tới Tâm: Cảm nghiệm (Nói trong tâm hồn.)

 “Con sống trong Chúa như cá trong biển.”

 “Chúa sống trong con như kho tàng trong nhà.”

 “Con và Chúa nên một, như bột dậy men.”

 “Như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt, bất ngờ và lạ lùng.” (1)

Im lặng 2 phút.

Cứ 2 phút lặp lại 1 lần. Lặp đi lặp lại 3-5 lần, tùy theo hoàn cảnh.

  

2.5. Ý Chí: Thể hiện qua “Lời nguyện tự phát”:

Kết quả của tâm và trí quyện lại với nhau, trở thành  ý chí, quyết tâm theo Chúa. Nói lên điều quyết tâm. Xin ơn thực hiện bền vững điều quyết tâm.

Ví dụ: “Lạy Chúa Giêsu, con đang ở với Chúa. Con yêu mến Chúa. Con cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen và tôn vinh Chúa. Khi về với cuộc sống đời thường, con quyết tâm sống hiền lành và khiêm nhường. Xin Chúa trợ giúp con sống bền vững điều con quyết tâm”

 

2.6. Kết thúc

- Lặp lại bước đầu (con nhìn Chúa…)

 - Đọc rất chậm kinh Lạy Cha, được đọc theo lối cảm nghiệm, nhận thức. Đọc tới đâu, tâm trí suy tới đó.

- Xin ơn Thánh Thần: (Giơ cao hai tay)

“Xin Chúa Giêsu sai Thánh Thần đến với con. 5Cùng với Mẹ Maria, con đón nhận Thánh Thần. Xin Thánh Thần ban ơn: Khôn Ngoan, Sức Mạnh và Tầm Nhìn cho con. Amen.”

+ Ban phép lành (nếu là linh mục).

 + Cầu phúc lành (nếu không phải là linh mục.)

“Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần (ban phúc lành) (xuống phúc) lành cho chúng con.” Amen.

 

 3. Nhận xét

Kinh nghiệm thực hiện trong một năm, tôi cảm nghiệm được sự Thiên Chúa biến đổi nội tâm và trong mục vụ. Bản thân an vui, nhẫn nại, hiền hòa, nhân hậu, trung tín, yêu thương. Hay nghĩ tới hạnh phúc mọi người, mong ước họ bớt khổ.

Tóm lại, cảm thấy trở nên người mới trong Chúa Giêsu và mới với mọi người. Hiện nay, tôi tiếp tục thực hành, và phổ biến phương pháp cầu nguyện này, mỗi khi có dịp giúp tĩnh tâm.

(1) Cảm nghiệm theo thánh Bernard và Đức Cố Viện Phụ Giuse Chu Công.

1. Trước hết, Con sống trong Chúa,” như cá trong biển.

Một ngày kia, cá con hỏi cá mẹ rằng:

 “Biển là gì?”

Cá mẹ nói:

 “Từ khi chào đời, con đã sống trong biển. Biển là tất cả những gì bao bọc con. Con hằng đùa giỡn trong biển. Nếu không có biển, thì loài cá chúng ta sống sao được!”

2. Thứ đến, “Chúa sống trong con,” như kho tàng quí giá trong nhà.

Mấy năm gần đây, ở vùng quê tiểu bang Oklahoma. Có hai vợ chồng già sống trong một căn nhà nghèo nàn. Một hôm, có kỹ sư tới nhà, xin khoan một lỗ để xem có dầu ở dưới nền nhà bếp của ông bà không.

May mắn, kỹ sư đã tìm ra dầu và bơm lên hàng ngàn thùng dầu.

Sau đó hai ông bà trở nên giàu có và sống đàng hoàng ở phố “Easy Street.”

Một ngày kia, nhớ lại vận may, ông cụ thốt ra câu:

“Chỉ nghĩ đến cái gì nằm dưới chân đã đủ sướng!”

3. Sau cùng, “Con và Chúa nên một

Như bột dậy men, như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt; bất ngờ và lạ lùng.

Ở chân núi Khôn Ngoan, có bà cụ mở quán trà giải khát. Bất kỳ tu sĩ nào hỏi bà, phải đi lối nào để lên núi Khôn, bà đều trả lời:

“Cứ đi thẳng.”

Nhưng khi họ đi thẳng, thì bà lại bảo họ là:

“Coi có vẻ khôi ngô, nhưng sao lại quẹo ngang như thế, thật là khờ dại, vụng về!”

Tại sao vậy?

Con đường đưa tới Núi Khôn là con đường thẳng đưa tới sự khôn ngoan ở trong tâm trí ta, không phải ở ngoài ta.

Như lời Chúa Giêsu dạy:

“Nước Thiên Đàng ở trong các con.”

Và: “Này chị, giờ đã đến, khi người tôn thờ Chúa không còn thờ Chúa trên núi này hay núi nọ; những ai tôn thờ thực sự sẽ tôn thờ trong tinh thần và chân lý.” “Và nước mà Ta cho chị sẽ trở nên mạch nước trào lên từ lòng chị tới sự sống đời đời.”

 

4. Kết luận

Ta sống trong Chúa và Chúa sống trong ta, như hạt sương tan biến trong biển cả, như chim bay trong bầu trời, như cá bơi lặn trong đại dương. Chúa trở nên một với linh hồn.

Một lối sống được thay đổi sâu xa.

Hạnh phúc cho linh hồn có Chúa ở trong họ, linh hồn sống với Chúa, sống cho Chúa và được chuyển biến bởi Chúa.

Đúng như cảm nghiệm tâm linh của thánh Phaolô:

“Bây giờ không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi.”

Được Chúa biến đổi nên giống Chúa: “Hiền Lành và Khiêm Nhường.”

Mục đích sau cùng của việc đào luyện Linh Đạo, đạt đời nội tâm là thế.

 (Xin mở mucvugiaodan.org, đọc thêm phần Linh Đạo)

 


2. ĐÀO LUYỆN MỤC VỤ

2.1. Ý nghĩa

Mục vụ:

Là “Khoa học và Nghệ thuật” phục vụ, chăm sóc Con Người và Môi Trường.

Là truy tìm “Tài Năng” tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, giúp biến đổi thành mãnh lực.

Là lãnh đạo tinh thần.

Là nghệ thuật lãnh đạo Dân Chúa. Như người Mục tử chăn dắt đàn chiên.

Mục vụ thời nay, tập trung vào Con Người và Môi Trường. 

 

2.2. Mục đích

Thực thi giới răn: “Yêu Người.”

Đáp trả Kinh Thánh: “Cựu Ước-Tân Ước” và văn hóa “Đông-Tây.”

Qua hai định hướng: “Liên đới - Trách nhiệm” và “Yêu thương - Phục vụ.

Hầu đạt tới Con Người toàn diện như Đức Kitô, theo định nghĩa của Công Đồng Vat. II về con người “Cả hồn cả xác” với ba chiều kích:

                   “Thể chất, Tinh thần, Tâm linh.”

2.3. Đào luyện Mục Vụ: “Liên đới -Trách nhiệm”

2.3.1. Lý do

- Đáp trả Cựu Ước

Trước khi ăn quả Chúa cấm, Eva không liên đới với Adam và với Chúa.

Sau khi ăn, đã đổ lỗi mà không chịu trách nhiệm.

- Đáp trả văn hóa Tây Phương

Văn hóa Tây Phương đề cao chủ nghĩa tự do cá nhân.

Dẫn tới thiếu liên đới và trách nhiệm.

Hậu quả khôn lường.

2.3.2. Nội dung

- Dẫn nhập

Câu truyện về loài hoa Thủy Tiên, trong thần thoại Hy Lạp.

Có chàng Narcis đẹp trai.

Biết bao cô gái để mắt. Anh không màng. Suốt ngày say mê săn bắn.

Một hôm vào rừng săn, quên cả thời gian. Mãi đến xế chiều, anh giật mình, vì đã đi quá sâu, quên cả lối về.

Anh hốt hoảng kêu:

“Có ai đó không?”

Chỉ duy có tiếng vọng: “Có ai đó không?”

Đến khi kiệt sức, anh ngồi trên bờ giếng trong vắt.

Ngó thấy một khuôn mặt thật đẹp. Đẹp đến nỗi anh cũng phải si mê. Nên cúi xuống, đưa hai bàn tay vục xuống, ôm lấy khuôn mặt đó.

Nhưng mỗi khi vừa chạm tới, khuôn mặt loang loáng từ chối và càng chìm xuống xa hơn.

Chàng si mê nhân tình, cố liều.

Cuối cùng chàng đã lao xuống giếng.

Chết.

Hóa thành loài hoa Thủy Tiên.

Loài Hoa mỏng manh, nhút nhát, tối tăm, rất yếu đuối.

+ Narcis đã chết vì chủ nghĩa tự do cá nhân.

- Đọc Lời Chúa

Dụ ngôn người Samari tốt lành

“Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Ðức Giêsu rằng:

"Nhưng ai là người thân cận của tôi?"

Ðức Giêsu đáp:

"Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.

Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.

Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:

"Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác".

Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?"

Người thông luật trả lời:

"Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy".

Ðức Giêsu bảo ông ta:

"Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".

- Suy niệm

Chúa dạy: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."

Nghĩa là hãy sống tinh thần “Liên đới và Trách nhiệm.”

Cha Coriden khẳng định:

Tình Liên Đớichất keo đính kết các tín hữu với nhau… Nó mang sức mạnh và sự ổn định đến cho cộng đoàn, và là động cơ thúc đẩy các hoạt động vì công lý và bác ái của cộng đoàn.”

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rất coi trọng sự Liên Đới, đến nỗi Ngài cho Liên Đới là một Nhân Đức. Ngài nói “nó là một quyết tâm mạnh mẽ và kiên định để dấn thân vì lợi ích chung.” Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI xác nhận tinh thần “Đồng Trách Nhiệm” giữa hàng giáo sĩ và hàng giáo dân.

Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, đã công bố:

“Sứ Điệp về Đồng Trách Nhiệm Trong Cộng Đoàn Kitô Hữu.”

Ngài khẳng định:

“Giáo Phận Long Xuyên không có con đường nào khác ngoài con đường trở về xây dựng Giáo Phận thành một Hội Thánh Tham Gia và Hiệp Thông trong tinh thần Đồng Trách Nhiệm.”

Sống “Liên đới - Trách nhiệm” là con đường mục vụ thời nay.

Đáp trả tinh thần Cựu Ước và nền văn hóa Tây phương.

Minh hoạ

Gương sống đạo “Liên Đới - Trách Nhiệm”

Câu chuyện: Tội vô tình.

 Có một tu viện công giáo, trước kia rất sầm uất, như một trung tâm thu hút khách hành hương. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác gì như ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thưa thớt, cuộc sống thật buồn!

Tu Viện Trưởng tìm hiểu nguyên nhân hay lỗi lầm gì đã đưa tu viện tới tình trạng thảm thương này. Có vị Ẩn Sĩ cho biết:

“Tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội Vô Tình.”

Và ông giải thích:

“Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quí vị, nhưng quí vị không nhận ra Ngài.”

Nhận được lời giải đáp, Tu Viện Trưởng liền triệu tập mọi người lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà.

Các tu sĩ mở to đôi mắt và quan sát nhau.

Ai là Đấng Cứu Thế cải trang vậy?

Và từ đó mọi người đều sống “Liên đới-Trách nhiệm,” đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế.

Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện.

Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện.

Nhiều người trẻ cũng đến xin gia nhập cộng đoàn (Trích món quà Giáng sinh).

2.3.3. Thực hành

- Quan tâm, đối xử với nhau như với Đức Giêsu Cứu Thế.

Cụ thể, qua tiếp xúc, giao lưu, đối thoại, chúng ta nhận ra ưu và khuyết điểm nơi người chung quanh. Rồi tìm cách khích lệ, phát huy ưu điểm và giúp khắc phục khuyết điểm, để mỗi ngày chúng ta được thăng tiến. Hầu nên giống Chúa Kitô hơn.

- Liên đới-Trách nhiệm với xã hội, các Tôn giáo trong địa phương…

- Liên đới-Trách nhiệm với các tang gia, gia đình neo đơn, khó khăn… 

 

2.4. Đào luyện Mục Vụ: “Yêu Thương-Phục Vụ”

2.4.1. Lý do:

Đáp trả Tân Ước

Chúa Giêsu dạy:

“Ta đến để phục vụ.”

Và truyền: “Hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con.”

 

Đáp trả văn hóa Đông Phương

Văn hóa Phương Đông có gốc nông nghiệp. Mặt bằng nông nghiệp tác động thêm vào việc hình thành tính cách con người. Vì thế, con người vốn sẵn tính ghen ghét, lại càng thêm: “Đố kỵ cào bằng.”

Mặt khác, do ảnh hưởng của văn hóa khu vực, nhất là với Trung Hoa. Cụ thể là với Khổng Giáo, vốn trọng “Thầy”: “Nhất tự vi Sư, bán tự vi Sư.”

Do đó, người ta thích làm chức năng “ Thầy Dạy,” không thích làm chức năng của người đầy tớ: “Phục vụ.”

Thế nên, mục vụ: “Yêu thương – Phục vụ” là đáp trả Tân Ước và văn hóa Phương Đông.

Hơn nữa, hệ quả sẽ tạo nên môi trường đất tốt cho hạt giống Đức Tin nẩy mầm.

2.4.2. Nội dung

- Dẫn nhập

Đức Tin là một Ân Huệ.

Đức Thánh  Giáo Hoàng Gioan Phaolô II diễn tả như hạt giống, Thiên Chúa đã gieo vào đáy thẳm sâu của tâm hồn mỗi con người. Hạt giống ấy chỉ đâm chồi nẩy lộc sinh hoa kết trái trong môi trường “Yêu Thương và Phục Vụ.”

Vì thế Giáo Hội Công Giáo chỉ xin được phục vụ.

Giáo Hội Việt Nam chọn con đường “Yêu thương – Phục vụ.”

- Đọc Lời Chúa

"Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ rau lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được." (Mt 13:31-33)

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga, 13: 34)

“Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt. 20: 28)

“Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ.” (Lc. 22: 27)

- Suy niệm

“Yêu thương và Phục vụ” là môi trường cho hạt giống Đức Tin nẩy mầm.

Sau đây là kinh nghiệm mục vụ của Thánh Phanxicô khó khăn.

Tôi thường hay kể câu chuyện về Thánh Phanxicô.

Câu chuyện đề cập tới ba “Tên Trộm” khét tiếng, đã trở nên ba “Thầy Dòng” nổi tiếng, chỉ vì cách xử sự “Hiền lành - Khiêm nhường” và giàu tình thương của Ngài. Quan tâm tới những nhu cầu Con Người, nhất là những con người bị loại trừ.

Ngài đã truyền cho Thầy Dòng coi hầm rượu phải tìm cho bằng được ba tên trộm mà thầy đã sỉ nhục và đuổi đi khi chúng đến xin của ăn và rượu uống. Khi tìm thấy, theo lệnh của thánh Phanxicô, thầy này phải quì xuống xin lỗi và trao bị bánh và rượu của thánh Phanxicô cho chúng.

Ba tên trộm khét tiếng, sau khi ăn uống xong, đã đến xin gặp Phanxicô.

Cuối cùng, họ đã xin nhập dòng tu.

Sau trở thành những thầy dòng nổi tiếng.  

- Kết luận

Sống đạo “Yêu Thương và Phục Vụ.”

Hạt giống đức tin trong cõi thẳm sâu của lòng con người, mà Thiên Chúa đã gieo từ thuở đời đời. Chúng đã gặp được Thiên Chúa ở Lòng Xót Thương và đã mọc lên.

Mục vụ của Phanxicô là mục vụ “Yêu Thương và Phục Vụ.” Nó bắt nguồn từ tinh thần nghèo khó, kính trọng tạo vật và chú tâm tới nhu cầu con người.

2.4.3. Thực hành

Cùng với Đức Kitô,” tôi luôn sẵn sàng Yêu Thương - Phục Vụ.”

Điều này sẽ được thực thi trong gia đình và môi trường sống mọi ngày.

 

3. ĐÀO LUYỆN TRUYỀN GIÁO

 

3.1. Nhận thức: (Rất giống với Mục Vụ, “Liênđới Trách nhiệm – Yêu thương Phục vụ, nhưng có một điểm khác then chốt: Có Chúa Kitô hầu chia sẻ Chúa Kitô cho người khác.)

3.1.1. Ý nghĩa

Truyền giáo là “Loan báo Phúc Âm cho hết mọi người.”

Theo Truyền giáo học:

Công cuộc truyền giáo là công tác tông đồ, qua đó Giáo Hội trình bày Chúa Giêsu cho anh chị em lương dân để họ nhận biết và yêu mến Ngài là Đấng Cứu Độ.

Đồng thời đem Tin Mừng chiếu soi mọi thực tại và khía cạnh của cuộc sống để tất cả được thăng tiến theo chương trình của Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Độ.

Cụ thể là bảo cho mọi người biết:

“Thiên Chúa là tình yêu.”

Ngài yêu thương từng người. Ngài cũng muốn mọi người thương yêu nhau như anh em và cùng nhau góp phần vào việc đổi mới con người và cuộc sống; xây dựng, phát triển một xã hội tốt đẹp.

Hầu mọi người được hạnh phúc.       

Hạnh phúc vững bền và vĩnh cửu.

3.1.2. Mục đích

Thực thi hai giới răn:

“Mến Chúa và Yêu Người” và sống “Chân - Thiện - Mỹ”

= “Hiệp Nhất - Chia sẻ - Hạnh Phúc.”

Theo con đường truyền giáo mới của Hội Thánh:

“Đối thoại và Hoà giải”với Thiên Chúa và con người với con người.

Hầu dẫn tới sự “Hiệp Thông, Chia Sẻ, Hạnh Phúc.”

“Hiệp thông để Loan Báo Tin Mừng và Loan Báo Tin Mừng để dẫn tới sự Hiệp thông.”

Hiệp thông với Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô, gương sống “Hiền Lành, Khiên Nhường; việc làm Liên Đới Trách Nhiệm, Yêu Thương, Phục Vụ – “Hiệp Thông, Chia Sẻ, Hạnh Phúc”  cho Con Người.

Phúc Âm Lc. 1, 26-48:  Truyền Tin và Đi Viếng

(26)Bà Elisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, (27) gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

(28)Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà. (29) Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

(30)Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. (31) Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. (32) Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. (33) Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

(34)Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!"

(35)Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa. (36) Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. (37) Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.

(38)Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói". Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Ðức Ma-ri-a viếng thăm bà Ê-li-sa-bét

(39)Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. (40) Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. (41) Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được trần đầy Thánh Thần, (42) liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. (43) Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy? (44) Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. (45) Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."

Bài Ca "Ngợi Khen" (Magnificat)

(46)Bấy giờ bà Maria nói:

"Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,

(47)thần trí tôi hớn hở vui mừng

vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.

(48)Phận nữ tỳ hèn mọn,

Người đoái thương nhìn tới;

từ nay, hết mọi đời

sẽ khen tôi diễm phúc.

 

3.2. Nội dung

3.2.1. Đào luyện: Đối Thoại

- Nhận thức:Ý nghĩa mục đích

Trước Công Đồng Vat. II, Giáo Hội ít nhấn mạnh tới đối thoại mà tập trung vào việc dạy dỗ.

Như Thông Điệp “Mẹ và Thầy” của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII.

Và vì thế Giáo Hội quan tâm tới việc giáo huấn hơn là lắng nghe, đối thoại.

Mãi đến Công Đồng Vat. II thì Giáo Hội mới chính thức đối thoại với những người khác mình.

Ngày nay, “Đối thoại là con đường mới của Giáo Hội” 5.

Chúng diễn tả yếu tính Giáo Hội hiểu biết về mình:

Giáo Hội là Đối thoại.

Đối thoại là con đường nghĩa vụ sống mỗi ngày của Giáo Hội và là cách Giáo Hội rao giảng Phúc Âm.

 

- Phân loại

Có bốn loại đối thoại.

Một là đối thoại cuộc sống: “Hiền Lành – Khiêm Nhường”.

Hai là đối thoại hành động: “Liên Đới – Trách Nhiệm” và “Yêu Thương – Phục Vụ”.

Ba là đối thoại kinh nghiệm tôn giáo: “Gặp – Sống và chia sẻ Chúa Giêsu cho người khác”.

Bốn là đối thoại trao đổi thần học: “Có Thiên Chúa Hằng Sống”.

 

- Đặc điểm

Sắc lệnh “Đối thoại với các tôn giáo” viết:

“Đáp trả Thánh Thần trong hoàn cảnh cụ thể và linh hoạt là phát triển văn hóa đối thoại với các tín hữu của các tôn giáo. Văn hóa đối thoại phải trở nên dấu hiệu đặc biệt của xã hội chúng ta, để cho toàn thể nhân loại nhận biết vinh quang cao cả của Thiên Chúa Đấng trợ giúp con người”.

Trong văn hóa Việt Nam, chữ “Nhân” với nghĩa là “Tính Người” bao gồm chữ “Nhị” và bộ “Nhân đứng”.

Tính người bộc lộ trong quan hệ giữa hai người.

L. Pheurbach từng viết:

“Con người cá thể không chứa bản chất con người ở trong mình… Bản chất con người chỉ bộc lộ trong giao tiếp, trong thể thống nhất giữa con người với con người. Con người để cho mình chỉ là con người theo nghĩa thông thường; còn con người trong giao tiếp với đồng loại, trong sự thống nhất giữa Tôi với Anh mới chính là Thượng Đế.”

Đối thoại làm con người trở nên giống Thượng Đế. Tính người và tính Thượng Đế được tăng cường, khi tính cộng đồng lại là một trong những đặc trưng văn hóa của Người Việt.

Do tính cộng đồng, người Việt Nam rất thích đối thoại.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, hòa bình và tôn giáo có tương quan mật thiết với nhau. Trong cuộc hội thảo về đề tài “Các tôn giáo trên địa cầu và nhân quyền” được tổ chức tại Paris, do UNESCO và Viện Văn Hóa Đức tổ chức, vào tháng hai năm 1989, giáo sư Hans Kung phát biểu:  

“Không có hòa bình giữa các dân tộc trên địa cầu, nếu không có hòa bình giữa các tôn giáo.”

Còn Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI khẳng định:

“Không có hòa giải, không có hòa bình, hòa giải dẫn tới hòa bình.”

Thêm vào đó, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) xác tín rằng:

“Đại kết và đối thoại đã trở thành điều thiết yếu để ta thực hiện bất cứ tác vụ nào.” Vì thế, “Mỗi thành viên và tất cả cộng đồng Kitô hữu được mời gọi để tham gia đối thoại, dù không luôn luôn ở cùng một trình độ hoặc cùng một phương thức”(Tông Huấn Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, RM:Redemptoris Missio).

Do đó, đối thoại là nghĩa vụ, và là cách thức truyền giáo của Giáo Hội hiện nay.

 

 - Nguyên tắc

Hai nguyên tắc tối quan trọng trong đối thoại hiệp thông: “Yêu và Tin.”

+ Nguyên tắc thứ nhất: “Yêu thương”

Yêu thương thể hiện qua những thái độ căn bản:

Khiêm tốn, kính trọng, kiên nhẫn, lắng nghe.

Về khiêm tốn, Chúa Giêsu kêu mời:

“Hãy học cùng Ta, vì Ta khiêm nhường và hiền lành.”

Về kính trọng, sách Gương Phúc khuyên:

“Không nói hay về mình, biết kính trọng mọi người. Đó là khôn ngoan và toàn hảo nhất.” Và kinh nghiệm cho thấy, một sự tôn trọng được sinh ra bởi tình yêu có thể duy trì sáng tạo.

Về kiên nhẫn:

“Kiên nhẫn là hơi thở sâu của đam mê” (E. Jungel).

Còn về lắng nghe, chúng ta hầu hết không bao giờ nghe đầy đủ câu:

“Khi chúng ta trao đổi, chúng ta có thể nghe nhau, nghe trước khi xét đoán.”

+ Nguyên tắc thứ hai: “Tin”

Tin là tiền đề căn bản khác trong đối thoại hiệp thông.

Tin có trong đối thoại hiệp thông như trái đất có cây.

Không có gì xấu xa hơn khi người ta phải đối mặt với một bức tường nghi ngờ.

Thẻ tín dụng tuỳ thuộc vào niềm tin kinh tế.

Và thẻ đối thoại tuỳ thuộc vào niềm tin của mỗi cuộc đối thoại hiệp thông.

Tin thể hiện qua thái độ:

Nhận và cho, hiểu biết, liên kết, gắn bó.

“Tin Yêu” đáp ứng hai tố chất căn bản nơi con người, tương đương với “Lý và Tình.”

Có thể nói: “Tin và Yêu” vừa là động lực vừa là mục tiêu của thần học mục vụ trong đối thoại hiệp thông.

“Tin Yêu” thúc đẩy ta đối thoại và đối thoại để đạt tới “Tin Yêu” hơn.

 

 - Động lực thiêng liêng

Còn động lực chính của đối thoại là gì?

Đó là tinh thần Cầu nguyện và Thần Học Đối Thoại Hiệp Thông.

+ Trước hết là tinh thần Cầu nguyện: “Thiên Chúa ở trong tất cả.”

Câu chuyện một người học trò hỏi Thầy:

“Thiên Chúa ở đâu?

Thầy đáp:

 “Hãy nói cho ta biết ở đâu Thiên Chúa không ở?”

Kinh nghiệm đối thoại của thánh Ignatiô.

Ngài đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, chiêm niệm trong hành động, tất cả trong tình yêu, đó là hành động hoàn hảo: “Trong Ngài chúng ta sống, di chuyển và hiện hữu” 6.

Câu chuyện thánh Augustinô và Em bé:

“Một hôm thánh Augustinô, ở Ostia, cảng Roman, đi bách bộ trên bãi biển. Đang trầm tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi thì thấy một đứa trẻ dùng vỏ sò hì hục múc nước biển đổ vào lỗ Cáy ở bãi cát.

Ngài hỏi:

“Con đang làm gì thế?”

Đứa bé đáp:

“Con muốn tát cạn nước biển vào lỗ Cáy này.”

Thánh nhân hiền hoà đáp:

“Con thấy biển thì bao la vô tận, con không thể tát biển vào trong một cái lỗ Cáy được!”

Đứa trẻ nói ngay:

“Ngài cũng không thể hiểu thấu điều mà Ngài đang suy nghĩ với sự hiểu biết của Ngài.”

Qua đó, chúng ta hiểu “Đối Thoại” mặc dầu là khoa học nghệ thuật, nhưng còn là mầu nhiệm nữa. Cần có đời sống nội tâm sâu xa, vì Thiên Chúa chủ động hướng dẫn từng con người.

Thánh Kinh quả quyết, “Mọi người được Thiên Chúa dạy bảo.”

+ Thứ đến là Thần Học Đối thoại Hiệp Thông.

Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là tương quan: Cha, Con, Thánh Thần. Đó là sứ điệp “Đối Thoại” nơi Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ngoài ra, ngày nay người ta còn đề cập tới Chúa Kitô, mẫu đối thoại hoàn hảo của Thiên Chúa, với hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người.

Theo M. Aubert:

“Đối thoại đòi phải biết đổi chỗ đứng… là con đường tinh thần mà người tín hữu phải đi… tìm ra con đường của mình và tìm thấy người khác ở ngay trong nội tâm của mình.

 3.2.2. Đào luyện: Hòa Giải

- Nhận thức: Ý nghĩa - mục đích

+ Ý nghĩa

Hòa giải là giải quyết xung đột, mâu thuẫn, dẫn tới hòa bình.

Hòa giải là ý định của Thiên Chúa. Chúa Kitô là trung gian hòa giải duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Thánh Phaolô gọi Phúc Âm là Tin Mừng Hòa Giải, Tin Mừng Bình An 7. Và: “Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được Hòa Giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ Hòa Giải... Vậy nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa.” 8

Người Việt Nam trọng tình, nên rất sợ mất lòng. Luôn chủ trương sống hòa thuận: “Dĩ hòa vi quí”; “Tương hòa sinh hóa”; “Hòa khí sinh tài.”

+ Mục đích

Kiến tạo Bình An và Phát Triển.

Không có hòa giải, không có hòa bình. Hòa giải dẫn tới hòa bình. Không có gì hạnh phúc cao quí, đáng ước ao hơn là được sống Bình An, mọi người hòa thuận thương yêu nhau 9.

Phát triển là danh từ mới của Hòa Bình.

Có Bình An là có tất cả.

 - Cương lĩnh hòa giải

+ Nguyên tắc

 * Xác định mục đích

Bất cứ cuộc hòa giải nào cũng có mục đích. Nếu hòa giải mà không đạt được mục đích của mỗi bên thì cuộc hòa giải đó không đạt được kết quả. Do đó trước khi hòa giải, mỗi bên phải xác định rõ mục đích của mình. Chỉ khi nào biết rõ mục đích của hai bên, thì người hòa giải mới nắm được quyền chủ động đề ra giải pháp trong hòa giải 10.

 * Tính nguyên tắc.

Tiến hành hòa giải phải căn cứ vào những nguyên tắc nhất định. Hai bên phải tuân thủ sự ràng buộc của luật pháp, đạo đức xã hội, quy ước và những thông lệ đã hình thành từ lâu đời. Nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hiệu quả hòa giải 11.

 * Tính hợp tác.

Hòa giải không phải là để một bên giành thắng lợi, còn bên kia chịu thiệt, mà là sự hợp tác trong sự nghiệp chung. Hòa giải phải khiến cho hai bên đều cảm thấy mình có lợi, mặc dầu trong đó một bên phải có một số hy sinh ở vài mặt nào đó. Xét về toàn cục, hai bên đều có lợi. Cho nên có người gọi hòa giải là thể hiện một cách cụ thể “chủ nghĩa hợp tác có lợi cho mình” 12.

 

 - Nội dung

Trong phần này chúng ta lưu ý tới các điểm sau đây.

Hiểu biết sâu sắc về nguồn gốc xung đột của các bên.

Cho phép các bên hiểu biết về đặc điểm cách xử lý xung đột.

Thay phiên trình bày cách giải quyết xung đột.

Cho biết lợi ích và giá trị của mỗi cách xử lý xung đột.

Ý thức tầm quan trọng chọn phương pháp giải quyết vấn đề xung đột.

Nên điều quan trọng là phải hiểu biết xung đột, vì nó sẽ hướng dẫn chúng ta cách hòa giải.

Xung đột thường chứa đựng ba chiều kích:

Con người, diễn biến và vấn đề.

Mỗi xung đột đều có liên hệ tới mối tương quan và cá tính.

Người ta thường chiến đấu mãnh liệt, rồi dịu dần và lan rộng. Rồi cuối cùng là những lý do tranh luận.

Bất kỳ giải pháp nào cũng buộc phải nhận thức tất cả ba khía cạnh của xung đột. Ba góc cạnh xung đột này đòi hỏi kỹ năng của các nhà hòa giải với những lý lẽ riêng.

Trong mỗi hoàn cảnh, đều có những lựa chọn dẫn đến hậu quả tốt nhất.

Nên phải quyết định thế nào về cách xử lý tốt nhất một xung đột.

Người hòa giải phải ra quyết định này.

- Hình thức: Xây dựng những bước chuẩn bị.

+ Bước một, họp sơ bộ. Mục đích để hiểu biết nhau. Bao gồm giới thiệu, mục đích, nguyên tắc căn bản, sắp đặt chương trình, duyệt xét lý lịch, sự kiện, xem xét nhu cầu quyền lợi hợp pháp, và soạn thảo hợp đồng chính thức có chữ ký của các bên.

+ Bước hai, trình bày câu chuyện. Hãy để cho bên bị (nạn nhân) phát biểu trước.

+ Bước ba, mời hai bên diễn tả về những gì đã xảy ra. Hãy dùng kỹ năng lắng nghe tích cực để hiểu rõ câu chuyện và cảm nghĩ của cả hai bên. Theo dõi các tình huống và giữ thế trung lập. Hỏi phản hồi các bên để chắc chắn mọi vấn đề trước khi ký nhận thỏa thuận. Người trung gian hòa giải điều chỉnh câu chuyện của cả hai phía.

+ Bước bốn, ký kết thỏa thuận.

Trước hết, hỏi bên nạn nhân về nhu cầu chính đáng.

Tiếp đến hỏi bên phạm nhân nghĩ thế nào về bên nạn nhân muốn. Giúp các bên tiến tới thỏa thuận và bảo đảm chắc chắn lại từng điểm, từng điều.

Sau đó hai bên ký nhận.

Lưu giữ.

Cám ơn.

 Lưu ý:

Ngoài ra cần lưu ý đến các yếu tố: tình huống và các lựa chọn khác; thời gian, quyền lực, văn hóa, phái tính và tuổi tác.

Hòa giải cá nhân hay hòa giải cộng đồng.

Đặc biệt là nơi hòa giải, phải được cả hai bên đồng ý.

Sau cùng là lựa chọn người hòa giải, trung lập, hiểu biết công tâm và đáng tin cho cả hai bên.

 - Đào luyện kỹ năng hòa giải

+ Người hòa giải:

Người Hòa Giải không thiết yếu phải có trình độ và kinh nghiệm chuyên biệt, nhưng thiết yếu cần có là:

Kỹ năng đối thoại nhạy cảm

Được người khác uỷ quyền

Khả năng đáng tin cậy, biết xử lý xung đột, bản lĩnh và kiểm soát được tiến trình.

Khả năng thiết lập một môi trường đặc biệt.

Khả năng giữ trung lập và không phán đoán 13.

Người Hòa Giải phải nắm vững một số luật nền tảng. Nó giúp điều hành và bảo vệ toàn vẹn tiến trình.

Như: tham gia tình nguyện, tín nhiệm vào tiến trình và thỏa thuận (trừ phi bị các bên khước từ).

Không gian trung lập.

Quyền các bên họp riêng với người hòa giải hay thành phần thứ ba.

Quyền phát biểu không bị ngắt ngang.

Quyền các bên cảm nghĩ an toàn và tự do khỏi mọi lạm dụng.

Mọi thỏa thuận buộc phải phản ánh quyền lợi và sự nhất trí của hai bên.

Thêm vào đó, phải chú ý quyền phát biểu ưu tiên cho nạn nhân 14.

Người Hòa Giải là người đáng tin.

Họ phải khả tín trong tất cả mọi thông tin mà nó có thể để lộ căn tính của mỗi bên. Chỉ có thể chia sẻ thông tin đáng tin với những người có trách nhiệm. Không giữ biên bản khả tín sau vụ việc đã được kết thúc.

 

Kết luận

Như chúng ta biết, mục đích của hòa giải là phục hồi, chữa lành nhân phẩm con người 15. Nhưng tại sao cần Trung Gian Hòa Giải để hòa giải giữa phạm nhân và nạn nhân? Vì mỗi người phải trả lẽ trước Thiên Chúa 16. Khi một điều sai trái không chỉ mang hậu quả cho cá nhân mà còn ảnh hưởng chung tới toàn xã hội, làm mất trật tự, mất cân bằng, nên gọi là tội xã hội. Điều này dễ hiểu, khi chúng ta đối chiếu với tội bất tuân Adam - Eva không chỉ là tội của cá nhân; nhưng ảnh hưởng tới toàn thể nhân loại. Cho nên khi ta xúc phạm tới Thiên Chúa và tới anh em, ta phải giải quyết vấn đề của “Chúng ta” chứ không còn là của riêng ta nữa.

+ Kỹ năng hòa giải

 Kỹ năng đối thoại

Trong hòa giải, đối thoại là điều quan trọng. Đó là những cuộc trao đổi tư tưởng, cảm nghĩ, quan điểm hay thông tin bằng lời nói, chữ viết, dấu hiệu, hay cử chỉ.

Trong đó, mỗi người phải cảm thấy sứ điệp của họ được tiếp nhận một cách rõ ràng và chính xác.

Mỗi bên phải cảm thấy họ có quyền bình đẳng trong đối thoại. 

 Kỹ năng nghe

Lắng nghe người khác nói và nói cho người khác nghe.

Nếu là một người hòa giải, sự lắng nghe của bạn cho phép các bên đối thoại cảm thấy họ được nghe 17. Bạn có thể khích lệ hai bên trao đổi: “Lắng nghe tích cực.” 18

Khi chúng ta nói quá nhiều mà nghe quá ít, chúng ta đối thoại hòa giải với người khác điều mà chúng ta nghĩ rằng ý tưởng của chúng ta quan trọng nhiều hơn là chính họ.

Điều này chúng ta được học biết trong phần đối thoại.

Tránh trở thành quan tòa.

Và khi tức giận đừng bao giờ giúp bất cứ người nào.

 Kỹ năng hỏi

Khả năng hỏi những câu hỏi thích hợp, xác đáng là một kỹ năng hòa giải bản chất.

Câu hỏi là “cửa sổ khai thông vào tâm linh”.

Có rất nhiều loại câu hỏi để lấy thông tin, phát hiện nhu cầu, mục đích.

Chúng ta có thể dùng sáu câu hỏi thông thường:

“Ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao, thế nào.”

Người hòa giải thành thạo, luôn chú ý theo dõi “quá trình tâm lý” của hai bên để kịp thời đặt câu hỏi khám phá ra sự thật, dẫn hai bên đến kết luận mà hai bên mong chờ.

 Kỹ năng biết người, biết ta

Trong hòa giải, người ta rất chú trọng tới binh pháp Tôn Tử:

“Biết người biết ta trăm trận trăm thắng.” 19

Sự kỳ diệu của hòa giải là ở chỗ biết nhu cầu con người.

Tất cả là vì nhu cầu.

Bản chất của hòa giải là thông qua sự trao đổi những lợi ích khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nhu cầu của mỗi người rất khác nhau. Trong những thời kỳ khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau.

Người hòa giải cần chú ý tới khả năng hiện thực. Cho nên sách lược hòa giải là ở chỗ làm rõ nhu cầu của hai bên, rồi lấy đó làm nền tảng tìm kiếm giải pháp lợi ích tối đa 20.

 Kỹ năng đáp án vừa lòng

Mưu lợi ích chung là động cơ nhất trí của cả hai bên hòa giải.

Trong hòa giải, phải luôn luôn chú ý nghĩ cách:

 “Biến lợi ích khác nhau thành lợi ích chung.”

Điều này khiến người hoà giải tìm phát hiện lợi ích chung, nhu cầu chung, nhấn mạnh việc hai bên có thể thông qua hoà giải để đi đến chỗ nhất trí.

Kinh nghiệm của những nhà hòa giải bậc thầy:

“Hòa giải thành công là mỗi bên hòa giải đều thắng, không ai thua.” 21

 - Động lực thiêng liêng

Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa là chủ trái tim con người.

Ngài là Tình Yêu, chủ động yêu thương và dạy bảo từng người.

Vậy động lực chính của hòa giải là gì?

Là Ân Sủng và Tình Yêu.

Nên tinh thần Cầu nguyện và Thần Học Mục Vụ Hòa Giải là cực kỳ thiết yếu. Đúng như Lời Chúa:

“Không có Thầy các con không làm gì được.”

- Thần học mục vụ hòa giải: Ngôn từ.

Thánh Phaolô khẳng định với chúng ta:

 “Dù tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, nếu tôi không có đức bác ái, thì tôi chỉ là người khua chuông gõ mõ.

Dù tôi nói tiên tri, dù tôi thấu hiểu mọi mầu nhiệm cùng mọi khoa học, hay dù tôi có đức tin mạnh mẽ khiến được núi non di chuyển, nếu tôi không có đức bác ái, thì tôi chỉ là hư vô.

Dù tôi hiến thân cho lửa thiêu đốt, nếu tôi không có đức bác ái, thì những hy sinh ấy cũng thành vô ích. Người có đức bác ái thì nhẫn nại, nhân từ, không ghen tị, không khoe khoang, không kiêu kỳ, không tham lam, không tìm tư lợi, không giận dữ, không mưu mô gian ác, không vui khi thấy sự bất công, chỉ vui khi thấy sự thật. Người có đức bác ái tha thứ mọi sự, trông cậy mọi sự, và chịu đựng mọi sự 22.

Tôi muốn coi “Bác ái” là thần học ngôn từ trong văn hóa hòa giải, vì phát xuất từ Lời Chúa qua suy tư thần học mục vụ của thánh Phaolô.

Điều này giúp tôi xác tín về sự ngự trị của tình yêu trong ngôn từ mục vụ hòa giải.

 

3.3. Kết luận

3.3.1. Đối thoại

Thiên Chúa là Đấng đối thoại hiệp thông: “Cha và  Con và Thánh Thần.”

Ngài muốn Giáo Hội là chính mỗi người chúng ta chia sẻ chức năng mục vụ Đối thoại để tiếp tục thực hiện ơn Cứu Độ cho nhân loại trong giai đoạn lịch sử hôm nay, nơi từng nền văn hóa.

Thực hành đối thoại trong mục vụ, chính là thực hành Đạo qua việc phục vụ con người.

 

Muốn phục vụ con người phải biết con người. Con người thời nay là con người của khoa học và thực tiễn. Một trong những phương thế để biết con người cụ thể đó là phương pháp đối thoại.

Và như chúng ta đã biết, đối thoại là con đường mới để loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.

Vì thế, đối thoại rất cần thiết và bổ ích cho các nhà mục vụ thời nay nếu muốn phục vụ con người hữu hiệu.

3.3.2. Hòa giải

Phải là sứ điệp trung tâm của Tin Mừng:

“Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Ngài qua Chúa Kitô và trao cho chúng ta nhiệm vụ hòa giải.” 23

Chúng ta không còn là kẻ thù của Thiên Chúa, hay người xa lạ với Ngài khi chúng ta tin vào Chúa Kitô.

Vì chúng ta đã được hòa giải với Thiên Chúa, chúng ta có ưu quyền khuyến khích người khác làm như vậy, và vì thế chúng ta là những người mang trọng trách “Mục Vụ Hòa Giải.”

Như lời Chúa Giêsu:

“Nếu có người anh em ngươi xúc phạm tới ngươi, hãy đi và vạch cho họ biết lỗi lầm của họ, chỉ giữa ngươi và họ thôi. Nếu họ nghe ngươi, ngươi đã lợi được người anh em” 24.

 Như thế, hòa giải có nghĩa là chữa lành những tương quan đã đổ vỡ.

Đây là những hướng dẫn mang tính cương lĩnh chiến lược của chính Chúa Giêsu đối với những người xúc phạm chúng ta, để tất cả có thể sống trong bình an hài hòa, hạnh phúc:

“Ai làm cho người khác hòa thuận là phúc thật, vì họ được gọi là con Thiên Chúa” 25.

Đến đây, tôi xác tín: Đối thoại và hòa giải là nhiệm vụ Chúa trao, là cách thế loan báo Tin Mừng hiện đại của Hội Thánh trong thế giới ngày nay.

 

 

PHỤ TRƯƠNG

CHÚA THÁNH THẦN: ĐẤNG ĐÀO LUYỆN

 

HOA TRÁI CỦA CHÚA THÁNH THẦN:"CÂN BẰNG"

Cân Bằng là một thành tựu đến từ Chúa Thánh Thần và sự cộng tác của con người. 

DẪN NHẬP

Trong đời sống siêu nhiên, muốn cho có nhiều Thần Khí thiêng liêng trong buồng phổi tâm linh, người ta cũng phải tập nhiều cách thở để làm cho dòng máu đen tội lỗi được đỏ hồng trở lại.

Thật ra, tất cả chúng ta đều là những con người yếu đuối, luôn bị tham vọng và dục vọng chi phối cho đến lúc lìa đời. Do đó, dòng máu đen kia chỉ là hiện tượng bình thường của con người sống trên trần thế. Giống như dòng máu trong thân xác, dòng máu đỏ nhiệm mầu của Đức Giêsu Kitô chảy trong con người chúng ta cũng thường bị tội lỗi làm cho đen bẩn, nhưng sẽ luôn luôn đỏ lại mỗi khi chúng ta hít thở được Thần Khí.

Do đó, Đức Giêsu Kitô đã liên kết Chúa Thánh Thần với ơn tha tội khi Người thổi hơi trên các môn đệ và nói: “Anh em hãỵ nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai thỉ người ẩy được tha.” [3]

Thần Khí này là ơn ban đặc biệt của Chúa Cha mà chúng ta cầu xin nhiều lần trong ngày sống. Đức Giêsu nói với ta: “Cha trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những ai kêu xin Ngài.” [4]

Vì thế, trước mỗi công việc lớn nhỏ trong ngày, ta nên tập thói quen dừng lại một vài giây để nhớ đến Chúa Thánh Thần, cầu xin Ngài soi sáng và hoạt động trong ta. Mỗi lần cầu nguyện với Chúa Thánh Thần là ta hít thở Thần Khí.

 

NỘI DUNG

NHỮNG HOA TRÁI CỦA CHÚA THÁNH THẦN

Những nguyên tắc sau đây đều chủ yếu dựa trên một ý tưởng: nơi một con người, nơi một hoàn cảnh, sự kết hợp hài hòa giữa hai cực là hiệu quả của sự hợp tác với Chúa Thánh Thần.

Con người nói chung thường có khuynh hướng cực đoan, chỉ thấy và chỉ hướng về một cực. Nơi nào quan điểm nhân loại cho là có sự đối kháng, nơi đó Thiên Chúa đang hướng đến để kiến tạo sự hài hòa. Đó là một cách nói rằng sự cân bằng giữa những đặc tính thuộc Thiên Chúa và những đặc tính thuộc con người.

Sự cân bằnglà một thành tựu đến từ Chúa Thánh Thần và sự cộng tác của con người.

Từ những suy nghĩ trên, chúng ta có thể đề xuất một số nguyên tắc chỉ dẫn cho việc phân định sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lời nói và việc làm của con người.

 1. Những gì đến từ Chúa Thánh Thần đều mang dấu ấn của nhân tính

Điều này có nghĩa là nếu một việc làm phát xuất từ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, thì việc làm ấy vừa mang dấu ấn Thiên Chúa, đồng thời vừa mang dấu ấn nhân loại.

Không thể khác hơn được, vì lẽ nơi bản thân Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã mang lấy xác phàm, thiên tính và nhân tính được kết hợp và qui về một mối.

Trong thế gian này, ơn thánh cũng mặc lấy xác phàm. Do đó, một con người thánh thiện là người chia sẻ thiên tính của Thiên Chúa theo nghĩa là người ấy dìm ngập trong Thiên Chúa, nhưng đồng thời người ấy vẫn giữ nhân tính của mình. Ý thức siêu nhiên và ý chí nhân loại của người ấy cùng phát triển chung.

Cũng vậy, một giáo huấn được coi là phát xuất từ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, khi giáo huấn ấy mang dấu ấn sự cân bằng giữa hai yêu tố thuộc Thiên Chúa và thuộc loài người.

Thí dụ, khi ai trình bày về Giáo Hội mà chỉ làm nổi bật những đặc tính thuộc Thiên Chúa, không nói gì đến những đặc tính thuộc loài người, chúng ta dè dặt trong việc tiếp thu giáo thuyết đó.

Giáo Hội thánh thiện và vẹn toàn, nhưng đồng thời cũng tội lỗi và giới hạn.

Hình ảnh trung thực về Giáo Hội tại thế là một sự cân bằnggiữa những đặc tính đối nghịch.

2. Hoa trái của Thánh Thần thường còn là một sự hòa hợp giữa cũ và mới.

Hoa trái đó đến từ mộtcây cổ thụ, nhưng có hương vị của một mùa xuân mới.

Chúng ta biết rằng toàn bộ Tin Mừng được trao cho các Tông Đồ, thế nhưng một trật đó, các ông chưa được ban cho sự nhận thức đầy đủ và trọn vẹn.

Do đó, khi trong Giáo Hội có những ý tưởng mới, những hành động mới, chúng ta có thể nói rằng chúng đến từ Chúa Thánh Thần khi chúng thật sự đâm rễ sâu vào truyền thống, đồng thời chất chứa cái nhìn mới, những gợi mở mới.

Sự cân bằng giữa cũ và mới trong những ý tường mới, trong những việc làm mới đó là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Khi thiếu sự cân bằng đó thì rõ ràng Chúa Thánh Thần khiếm diện.

 3. Sự hòa hợp giữa hoạt động và chiêm niệm

Trong hoàn cảnh bình thường, cái gì phát xuất từ Thánh Thần Thiên Chúa đều biểu tỏ một sự hài hòa giữa chiêm niệm và hoạt động, nói cách khác, một sự hài hòa giữa một nội tâm an tĩnh đón nhận ánh sáng và sức mạnh từ Thiên Chúa và một sự dấn thân xây dựng Nước Chúa.

Lý do là Thiên Chúa là Đấng chiêm niệm từ thuở đời đời, đồng thời cũng là Đấng hoạt động từ thuở đời đời. Thiên Chúa tạo nên vũ trụ này, và nhờ Thánh Thần, Người không ngừng tái tạo nó trong Đức Giêsu Kitô.

Do đó, tất cả những gì đến từ Thiên Chúa đều mang dấu ấn sự hòa hợp giữa chiêm niệm và hoạt động. Xem ra có thể có luật trừ. Có thể có người được gọi chỉ để chiêm niệm. Nhưng có lẽ không có ai được gọi chỉ để hoạt động. Thông thường sự hòa hợp giữa chiêm niệm và hoạt động biểu tỏ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

4. Hòa hợp giữa tinh thần năng động và tự do với sự tôn trọng luật lệ

Hòa hợp giữa cái nhìn tinh thần và sự khôn ngoan dựa trên luật lệ cũng biểu lộ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. ít có điều gì đối nghịch với nhau như giữa trực giác của tinh thần và chủ nghĩa vụ luật:

Trực giác của tinh thần thì rất tự do và mang tính cách cá biệt, còn chủ nghĩa vụ luật thì cứng nhắc, chung chung, và có thể làm tổn thương nhu cầu riêng của cá nhân.

Có nhiều lần sự căng thăng giữa tinh thần và luật lệ đã xuất hiện trong Giáo Hội.

Khi chúng ta nhìn thấy nơi hoạt động của một người có sự hài hòa giữa tinh thần năng động và tự do vớí tôn trọng luật lệ, chúng ta có thể nói rằng người ấy được tác động bởi Chúa Thánh Thần.

KẾT LUẬN

Tất cả những dấu chỉ và những nguyên tắc nêu trên, khi được áp dụng cách khôn ngoan sáng suốt, dẫn đưa chúng ta đến chỗ phân định đúng. Chúng càng trở nên cần thiết trong bối cảnh ngày nay, vì lẽ cá nhân mỗi Kitô hữu hay mỗi cộng đoàn Kitô hữu, dù đang sống giữa đời hay tu viện, đều phải có những quyết định, đều phải có những phân định.

Phải phân định xem một quyển sách có phản chiếu tinh thần của Đức Kitô hay không, phân định một tập san có mang một sứ điệp gì của Tin Mừng hay không. Phân định một diễn giả có nói theo sự soi dẫn của Thần Linh Thiên Chúa hay không...

Tuy nhiên, cần nhắc lại rằng trên những dấu chỉ và những nguyên tắc có Chúa Thánh Thần đang soi sáng và dẫn dắt người Kitô hữu trong hành trình cuộc đời của họ. Ngài mờ rộng tâm trí và lòng tin của họ, cho họ nhận ra và cảm nghiệm sự hiện diện của Thần Linh Thiên Chúa trong kẻ khác, trong thế giới, trong những biến cố.

Dấu chỉ và nguyên tắc là những công cụ dẫn đưa người Kitô hữu đến một sự khôn ngoan không lẽ nào diễn tả thấu đáo được.

Sự khôn ngoan đó thật sự là một ân ban của Chúa Thánh Thần.

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy (Hội Thừa Sai Việt Nam)

* Xin mời xem trang Web., mucvugiaodan.org - mục Video: "Nghệ thuật cân bằng"

12. 02.2014

Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)

* Xin kính mời đọc, học trong trang Web. các mục:

"LINH ĐẠO - MỤC VỤ - TRUYỀN GIÁO"

 

NGHI THỨC “ĐÓN NHẬN THÁNH THẦN” &  “SAI ĐI”

 

Lời Chúa: (Jn.14: 26)

 

 “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”

 

Đón nhận Thánh Thần

 

Cộng Đồng: (Giơ cao hai tay)

 

“Xin Chúa Giêsu sai Thánh Thần đến với con. Cùng với Mẹ Maria, con đón nhận Thánh Thần. Xin Thánh Thần ban ơn: KHÔN NGOAN, SỨC MẠNH VÀ TẦM NHÌN  cho con. Amen.

 

Lời nguyện sai đi

 

Cha chủ sự: (Đặt tay, đọc “Lời Sai Đi”)

 

Xin Chúa tiếp nhận, thánh hóa những người này và sai họ đi làm vườn nho Chúa. Xin củng cố Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến nơi họ, biến đổi họ nên những Tông Đồ nhiệt thành phụng sự Nước Chúa và đem Ơn Cứu Độ đến cho mọi người. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

 

Hát: Lời nguyện truyền giáo (Lạy Chúa, Chúa sai con đi…)


Mục Lục

 

GIỚI THIỆU MÔ HÌNH ĐÀO LUYỆN

HÀNG KITÔ HỮU GIÁO DÂN

DẪN NHẬP. 3

TÍNH HỆ THỐNG.. 3

TÍNH SƯ PHẠM và KỸ NĂNG.. 5

TÍNH MỤC TIÊU.. 7

NỘI DUNG.. 7

1. Lời Chúa (Jn. 21: 15-19). 7

1. Áp dụng. 8

TÍNH HỆ THỐNG:9

TÍNH SƯ PHẠM và KỸ NĂNG.. 9

1.1.3. Sư phạm và kỹ năng. 9

1. ĐÀO LUYỆN LINH ĐẠO.. 10

1.1. Nhận thức. 11

1.1.1. Ý nghĩa. 11

1.1.2. Mục đích. 11

1. 2. Nội dung. 11

PHƯƠNG THỨC. 11

CẦU NGUYỆN - CẢM NGHIỆM... 11

1. Nhận thức. 12

1.1. Ý nghĩa. 12

1.2. Mục đích. 12

1.3. Đặc điểm.. 13

1.3.1. Đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng trực tiếp và giúp ta tự đào luyện.13

1.3.2. Khi chia trí, ta cứ nhẹ nhàng đưa trí khôn trở lại Lời Nguyện.13

1.3.3.Thực hành:13

2. Đào Luyện. 13

2.1. Định tâm xác tín. 13

2.2. Khởi động. 13

2.3. Trí: Cầu nguyện. 14

2.4. Tâm: Cảm nghiệm (Nói trong tâm hồn.). 14

2.5. Trí: Cầu nguyện. 15

2.6. Tâm: Cảm nghiệm (Nói trong tâm hồn). 15

2.7. Trí: Cầu nguyện. 15

2.8. Tâm: Cảm nghiệm (Nói trong tâm hồn). 16

2.9. Ý Chí: Thể hiện qua “Lời nguyện tự phát”:16

2.10. Kết thúc. 17

3. Nhận xét. 17

4. Kết luận. 19

2. ĐÀO LUYỆN MỤC VỤ.. 21

2.1. Ý nghĩa. 21

2.2. Mục đích. 21

2.3. Đào luyện Mục Vụ: “Liên đới -Trách nhiệm”. 22

2.3.1. Lý do. 22

2.3.2. Nội dung. 22

2.3.3. Thực hành. 27

2.4. Đào luyện Mục Vụ: “Yêu Thương-Phục Vụ”. 27

2.4.1. Lý do. 27

2.4.2. Nội dung. 28

2.4.3. Thực hành. 30

3. ĐÀO LUYỆN TRUYỀN GIÁO.. 31

3.1. Nhận thức:31

3.1.1. Ý nghĩa. 31

3.1.2. Mục đích. 32

3.2. Nội dung. 34

3.2.1. Đào luyện: Đối Thoại34

- Nhận thức: Ý nghĩa mục đích. 34

- Phân loại35

- Đặc điểm.. 35

- Nguyên tắc. 37

- Động lực thiêng liêng. 39

3.2.2. Đào luyện: Hòa Giải41

- Nhận thức: Ý nghĩa - mục đích. 41

- Cương lĩnh hòa giải42

- Nội dung. 43

Kết luận. 47

3.3. Kết luận. 52

3.3.1. Đối thoại52

3.3.2. Hòa giải53

HOA TRÁI CỦA CHÚA THÁNH THẦN.. 56

"CÂN BẰNG". 56

 

 

 



1.  Công Đồng Vat. II, Sắc Lệnh Truyền Giáo, 21.

2.  Tông Huấn, Người Kitô Hữu giáo Dân, 57.

5 Đ.T.C. PhaolôVI, Tông Huấn Ecclesia suam.

6 TĐCV 17:28

7 Ep 6: 15

8 2Cor. 5: 18-20

9 Hc 25: 1

10 Trần Thành, Để trở thành Người Lãnh Đạo giỏi, Việt Nam, 1999, 355.

11 Ibid., 356.

12 Ibid., 356.

13 Institute for Conflict Management – Mediation Training Manuel, Module V – The basics of Mediation, p.3.

14 Ibid., 4.

15 Vine, W.E., Vine’ s Complete Expository Dictionary of Old and New Testament Words, Thomas Nelson Publishers, Nashville, TN 1996, p. 530

16 Wilson, Neil S., Ed. et all, The Handbook of Bible Application, Tyndale House Publishers, Inc., Wheaton, IL, pg 12f.

17 Ibid., 12

18 Ibid., p. 120.

19 Triệu Truyền Đống, Phương Pháp Biện Luận, Giáo Dục, 1996, 248.

20 Trần Thành, Để trở thành Người Lãnh Đạo giỏi, Việt Nam, 1999, 372-378.

21 Nhiệm Văn Cật, Nghệ Thuật Nói Hay, Cà Mâu, 2004, 879.

22 1 Cor 12:31 – 13:1-7.

23 2 Cor. 5:18f

24 Mt 18:15.

25 Mt 5: 9.

[3] Jn 20, 22-23.

[4] Lc 11, 13.

Các tin khác

VIDEO

  nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daiveritas

  Emlalinhhoncuaanh

  Nhintuvatican

  Giaodanloanbaotinmung

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Thongdiepphucsinh2018

  Nhintuvatican

  DaiVatican

  Tổng thống Donald Trump nói về ân sủng Chúa

  Nhintuvatcan

  Daivatican

  Daichanlyachau

  Nhintuvatican

  NhintuvaticanDientu

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daivatican

  ChanLyAChau

  ́́́́Tam muoi nam thanh lap giao phan Vinh Long

  Chanlyachau 8:30

  Chanlyachau

  Daicatican

  Nhintuvatcan

  Thoisu

  Thoisu

  Daiveritas

  Daiveritas

  LeGiangSinh

  Nhac Giang Sinh 2018

  Suyniemvoiducthanhcha

  Vatican

  tintucvatican

  LeAnTangDucCha Dom.

  Daivatican

  Veritas

  nhintuvatican

  Daivatican

  nhintuvatican

  Hangdakienlao

  Hangda

  Hangda2017

  Chanlyachau

  Nhintuvatican

  daivatican

  Chanlyachau

  Tintucvatican

  Bai Giang be mac

  Dien nguyen

  Be mac

  Khai mac dai hoi gioi tre 15 Thanh Hoa

  Van nghe giopi tre lan xv Thanh Hoa

  Dai phat thanh vatican

  nhintuvatican

  ky niem 40 nam linh muc

  Thánh Lễ Tuyên Thánh Jacinta và Francisco Marto

  Muối và ánh sáng

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Nghi thức đóng Cửa Thánh

  Xin Mẹ Thương

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Suy Niệm với Đức Thánh Cha Phanxicô

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__3

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__1

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__2

  Thường huấn HĐMVGX Ban Mê Thuật

  Quốc tế thiếu nhi 01-6-2014

  Thể dục Dưỡng Sinh

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  CƠM TRƯA TRUNG THU 2013

  Thi đấu thăng cấp sơ đẳng Vovinam

  Khai mạc kỳ thi thăng cấp Vovinam

  Vovinam

  Đào luyện tâm linh

  Nghệ thuật cân bằng

  Đào Luyện Tinh Thần

  Đào Luyện Thể Chất

Bài viết mới
Suy tư MVGĐ số 8 năm 2018: Tự do chứ không bị ép buộc
Suy tư MVGĐ số 8 năm 2018: Tự do chứ không bị ép buộc
Công bố tài liệu làm việc Thượng Hội Đồng Giám Mục về giới trẻ
Công bố tài liệu làm việc Thượng Hội Đồng Giám Mục về giới ...