Thứ hai, ngày 16 tháng 07 năm 2018 | 10:42 AM - Giới thiệu | Ý nghĩa logo

TÌNH YÊU GIÊSU 

Tài liệu

LM. GIUSE ĐINH QUANG VINH

SỐNG HẾT MÌNH ĐỂ

PHỤNG SỰ CHÚA

PHỤC VỤ GIA ĐÌNH

ĐỀ TÀI TĨNH TÂM NĂM 2018:

ĐỒNG HÀNH VỚI CÁC GIA ĐÌNH TRẺ

MỤC LỤC

LỜI VỊ CHA CHUNG. 3

NƯỚC TRỜI THUỘC VỀ CÁC TRẺ NHỎ. 5

NHẬN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CHÍNH MÌNH. 11

NỖ LỰC ĐẦU TƯ CHÍNH MÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN. 21

EPPHATHA! - HÃY MỞ RA!26

THÀNH THỰC BIẾN ĐỔI NỘI TÂM. 33

GIẢI TRỪ CÁC NHÃN HIỆU. 38

BIẾT PHÂN ĐỊNH KINH NGHIỆM SỐNG. 42

BIẾT HÒA HỢP VỚI HIỆN TẠI46

KẾT LUẬN. 51

SÁCH THAM KHẢO. 57


 

LỜI VỊ CHA CHUNG

“Có thể hiểu được rằng trong các gia đình gặp nhiều khó khăn khi một thành viên nào đó có lề thói tương quan chưa trưởng thành, bởi vì những vết thương ở giai đoạn nào đó trong đời của người ấy chưa được chữa lành. Mình trải qua thời thơ ấu hoặc thời niên thiếu tồi tệ là mảnh đất màu mỡ cho các cuộc khủng hoảng cá nhân mà rốt cuộc làm hỏng hôn nhân. Nếu mọi người trưởng thành cách bình thường thì những khủng hoảng có lẽ sẽ ít xảy ra hơn và ít đau đớn hơn. Nhưng sự thể là đôi khi nhiều người cần đạt tới tuổi bốn mươi mới nhận ra sự thiếu trưởng thành, sự trưởng thành mà đáng lẽ họ phải đạt được vào giai đoạn cuối thời niên thiếu. Đôi khi người ta yêu thương bằng một thứ tình thương có tính vị kỷ mang tính ấu trĩ, vốn gắn chặt trong một giai đoạn mà thực tại bị bóp méo và sống tùy hứng theo cách mọi cái phải phải xoay quanh cái tôi của mình. Đó là một thứ tình yêu không bao giờ được no thỏa, thứ mà người ta gào thét và khóc lóc khi không có được điều mình muốn. Những lúc khác người ta yêu thương bằng một tình yêu vốn gắn chặt vào một giai đoạn thời thiếu niên (13-19 tuổi), được ghi dấu bởi tính phản kháng, bởi sự chỉ trích gay gắt, bởi thói quen kết án người khác, bởi lối lýluận theo cảm tính và tưởng tượng, bởi vì người khác phải lấp đầy những khoảng trống hoặc phải chịu đựng tính hay thay đổi thất thường của chúng ta.

Nhiều người bước qua thời thơ ấu mà chưa hề bao giờ cảm nhận mình được yêu thương vô điều kiện và điều này làm tổn thương khả năng tin tưởng, tự hiến và cởi mở với tha nhân của họ. Một mối quan hệ tồi tệ từng trải với cha mẹ và anh chị em của mình, điều chưa từng được chữa lành, có thể tái xuất hiện và gây tác hại cho đời sống vợ chồng. Bởi thế, cần tiến hành một tiến trình giải thoát mà người ta chưa bao giờ đối mặt. Khi mối quan hệ yêu đương giữa vợ chồng không vận hành êm đẹp, trước khi đưa ra những quyết định quan trọng, cần phải bảo đảm rằng mỗi người đã thực hiện tiến trình chữa trị vấn đề lịch sử của chínhmình. Điều này đòi hỏi phải nhìn nhận sự cần thiết của việc chữa trị, để không ngừng xin ơn tha thứ và tự thứ tha, để sẵn lòng nhận sự giúp đỡ, để tìm kiếm những động lực tích cực và để luôn luôn cố gắng bắt đầu trở lại. Mỗi người phải rất chân thành với chính mình để thừa nhận rằng cách sống tình yêu của mình có nhiều điều chưa trưởng thành ở đó. Dẫu cho mọi tội lỗi có vẻ hiển nhiên là của người kia, thì không bao giờ có thể vượt qua một cuộc khủng hoảng bằng cách chỉ chờ đợi người kia thay đổi. Người ta cũng nên tự chất vấn về những gì mà đích thân cá nhân có thể trưởng thành hay chỉnh đốn để tạo điều kiện cho việc vượt qua cuộc xung đột”.[1]

“Như Dietrich Bonhoeffer đã diễn tả rất hay rằng: Hành trình tâm linh của mỗi người cần giúp người ấy đạt được sự ‘vỡ mộng’ về người kia[2], để thôi mong chờ từ người kia điều gì đó vốn chỉ thuộc về tình yêu Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi một sự lột trần nội tâm. Khoảng không gian độc quyền mà mỗi người trong vợ chồng dành riêng cho tương quan cá vị của họ với Thiên Chúa, không chỉ cho phép chữa lành các thương tích của đời sống chung, mà nó còn cho phép tìm được trong tình yêu Thiên Chúa ý nghĩa đời mình. Mỗi ngày chúng ta cần khẩn cầu sự tác động của Chúa Thánh Thần để sự tự do nội tâm này có thể xảy ra”.[3]

 


 

NƯỚC TRỜI THUỘC VỀ CÁC TRẺ NHỎ

I. Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Marcô 10,13-16.

Description: http://images.fineartamerica.com/images-medium/1-jesus-and-the-children-norma-boeckler.jpgNgười ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào." Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng.

II. Nước Trời thuộc về các trẻ nhỏ

Chỉ trẻ em mới có thể sống hết mình, sống con người thật của mình. Chúng biểu lộ tâm tư tình cảm của mình một cách tự nhiên thoải mái. Không có một rào cản nào bủa vây chúng, vì vậy chúng thật sự tự do. Trong xã hội, trẻ em ở thế hoàn toàn lệ thuộc vào người lớn, do đó chúng dễ dàng để nghe lời và mau mắn làm theo mệnh lệnh của người lớn. Nơi người lớn, chúng nhận được sự che chở và yêu thương. Chúng được tự do và lớn lên trong yêu thương. Vì lẽ đó “Trẻ em nào cũng có nỗi sợ bị bỏ rơi, một nỗi sợ không phải là vô căn cứ”.[4]

Đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em có nghĩa là biết đón nhận với thái độ khiêm nhu, vâng phục, tin cậy, mau mắn và sẵn sàng. Đó là thái độ của người trưởng thành, người dám lãnh trách nhiệm về cuộc đời của mình. Điều mà người lớn phải học ở nơi chúng lại là sự tôn trọng tiếng nói của sự thật đang được phản ảnh từ thâm tâm của trẻ. Trẻ em chưa đặt tầm quan trọng của bản thân lên hàng ưu tiên. Một tâm hồn trong trắng như thế đáng để Chúa Giêsu đến ngự trong tâm hồn. Một tâm hồn như vậy chẳng lấy làm quan trọng những gì mà người lớn đánh giá. Bởi vậy, trẻ em dễ gần gũi với nhiều người. Trẻ em tràn đầy yêu thương. Trẻ con chẳng đắn đo lo sợ theo cách“quen sợ dạ, lạ sợ áo” của người lớn. Sống vô tư, trẻ em thoát khỏi mọi lắng lo vô ích, mọi toan tính vô bổ.

Description: C:UsersAdminPicturesimages.jpgĐó là lý do mà Mẹ Thánh Têrêsa đã viết: “Nếu ai không quan tâm đến tiền bạc và danh dự, thì tất cả mọi người đều thân thiết với nhau chừng nào! Tôi xác tín rằng yêu thương nhau là thứ phương dược chữa trị được mọi thứ tai họa”.[5]Vì sống tràn đầy yêu thương, trẻ em cũng vui tươi thoải mái, lạc quan. Chúng kiên nhẫn để gìn giữ niềm vui và tận hưởng chúng cho dù đó chỉ là một viên kẹo hay con búp bê. Biết gìn giữ niềm vui để sống đó là một phương pháp mà người lớn lại dễ dàng đánh mất. Đức Thánh Cha Phanxicô gọi đó là khả năng biết chờ đợi: «Trong thời đại hiện tại, nơi ngự trị lo lắng và sự vội vàng mang tính công nghiệp, nhiệm vụ vô cùngquan trọng của các gia đình là giáo dục về khả năng biết chờ đợiKhi trẻ em hoặc thanh thiếu niên không được giáo dục để chấp nhận rằng có những điều phải chờ đợi, chúng sẽ trở thành những kẻ hống hách độc tài, bắt tất cả phục tùng để làm thỏa mãn ngay những nhu cầu của mình và chúng lớn lên với thói hư của cái mệnh lệnh “mọi sự ngay lập tức”. Đây là một sự lừa dối kinh khủng vốn không giúp đỡ cho sự tự do[6] mà lại làm hại nó. Trái lại, khi giáo dục để biết trì hoãn một số điều và biết chờ tới thời điểm phù hợp, nó dạy biết làm chủ bản thân là chi, biết tự chủ trước những cơn bốc đồng của mình».[7]

Tác giả Scott Peck gọi đó là phương pháp đình hoãn khoái cảm:

“Đình hoãn khoái cảm là một phương pháp bố trí những niềm vui và nỗi đau của cuộc sống sao cho có thể gia tăng sự dễ chịu bằng cách đón nhận sự khổ sở trước và uống cạn lấy nó. Đó là phương pháp duy nhất hữu hiệu để sống. Đa số các em bé đã học biết phương pháp này từ rất sớm, đôi khi từ độ tuổi lên năm”.[8]

Như vậy, dù không biết đến những lý thuyết sống nào cả, trẻ em đã có một phương pháp để sống hết mình. Chúng ta không muốn là những đứa trẻ ngô nghê nhưng muốn nắm bắt tinh thần sống của chúng để đạt được một cuộc sống hạnh phúc, đời này và đời sau.[9]

III. Sống hết mình nghĩa là sống một cuộc sống tròn đầy

 Sống hết mình để trưởng thành nhân cách và thay đổi là tựa đề của quyển sách mà linh mục Giuse Lê Công Đức dịch theo bản tiếng Anh của Earnest L. Tan là Living Life Fully, requisites for Personal Growth and Change(Sống đời cách tròn đầy, điều kiện tiên quyết để cá nhân trưởng thành và thay đổi).

Nếu như vậy, khi nói Sống hết mìnhlà sống với sắc thái nhiệt tình, một nỗ lực sống cách tích cực chứ không thụ động. Hết mình đôi khi cũng là sống vội theo cách nóiphản ánh qua câu ca dao:

Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

Cái già sồng sộc nó thì theo sau.

Thật may, khi có bạn trẻ hiểu phải sống hết mình nghĩa là có trách nhiệm với bản thân, tìm một cuộc sống có ý nghĩa vì biết rằng cuộc đời quá ngắn ngủi: “Tôi sẽ sống hết mình mỗi ngày vì biết đâu ngày mai tôi không còn trên cõi đời này nữa.” “Tôi hiểu rằng cần có trách nhiệm với bản thân mới có thể có trách nhiệm với người khác”.[10]

Trong cuộc sống, chúng ta dễ dàng để trả lời câu hỏi “Tôi đang làm gì?” nhưng lại khó khăn để xác nhận “Tôi có đang hạnh phúc không?”. Hoạt động chỉ là phương tiện để đạt được mục đích là một đời sống tròn đầy. Một cách vô thức hay ý thức, việc làm có thể dễ dàng để che đậy con người của chúng ta. Theo Albert Einstein thì cái tôi tỷ lệ nghịch với sự hiểu biết: “Càng hiểu biết nhiều thì cái tôi càng nhỏ, càng hiểu biết ít thì cái tôi càng to”.[11] Bởi vậy, lột bỏ vỏ bọccho“cái tôi kềnh càng”[12]để thành thực nhìn lại chính mình sẽ giúp chúng ta sống hạnh phúc, sống hết mình và tận dụng hiện tại cách tốt nhất. Hạnh phúc đi kèm với niềm vui và an bình xuất phát từ việc dàn xếp ổn thỏa trong bản thân mình. Nhân vô thập toàn, bởi vậy sự hạnh phúc sẽ không luôn luôn trọn vẹn, đời sống đòi cá nhân mỗi người không ngừng lớn lên, thay đổi, đi tới và thành nhân. Đó là sự can đảm để phá bỏ cái tôi hư cũ để xây đắp con người mới tươi trẻ. Không ai có thể sống thay cho chúng ta. Mỗi người phải tự sống đời mình sao cho ý nghĩa nhất thông qua tất cả những gì cuộc đời trao cho mình. Kinh nghiệm sống luôn là bài học quý giá để con người được trưởng thành. Sống con người thật của mình chúng ta mới có cơ hội để lớn lên.

Những đề tài chúng ta trình bày trong tuần tĩnh tâmnày như một lộ trình giúp mỗi người định hướng lại thái độ sống của mình. Trước hết, nó đòi hỏi mỗi người phải đảm nhận lấy cuộc sống của mình. Nỗ lực để làm cho mình được thăng tiến. Biết mở ra để thay đổi và phát huy nội lực. Thành thực biến đổi nội tâm. Biết giải trừ các nhãn hiệu cho mình và cho người. Phân định kinh nghiệm sống. Biết hòa hợp với hiện tại. Thái độ sẵn sàng chọn lựa sự sống.

Đó là những bước giúp chúng ta sống hết mình để phục vụ Chúa và tha nhân, cụ thể là chính những người thân trong gia đình mình. Đó là một cuộc hành trình lâu dài. Tuy nhiên, đây là chiếc la bàn giúp ta có một hướng đi đúng. Cuộc sống thì luôn có đó những khó khăn và những trắc trở. Tác giả Scott Peck đã gọi “Cuộc đời đầy gai góc. Đó là một chân lý vĩ đại, một trong những chân lý vĩ đại nhất. Đó là một chân lý tuyệt vời vì một khi chúng ta thực sự hiểu nó là chính lúc chúng ta vượt qua nó. Một khi chúng ta thực sự biết rằng đời là khó – và đón nhận nó – thì cuộc sống sẽ không còn khó nữa. Bởi vì nếu người ta chấp nhận nó thì nó hết còn là vấn đề”.[13]Tâm trạng cô đơn và thái độ với tâm trạng đó là hai việc khác nhau hoàn toàn. Vì thiếu nghị lực nội tâm, người ta có thể day dứt mãi không thôi trong sự cô đơn của mình; ngược lại, người ta có thể vẫn vui giữa cô đơn vì biết rằng khi đối diện với chính nó, họ đang được trưởng thành như người lính can trường chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp bất chấp những gian khổ và nguy hiểm đang bủa vây.

C.S. Lewis đã viết: “Kitô giáo không lấy đi sự khó khăn của đời sống; nó chỉ đem lại một lý do để chịu đựng khó khăn ấy”.[14]

IV. Suy niệm và cầu nguyện:

  • Tv 131,1-3: Như trẻ thơ đặt hết niềm tin nơi Chúa

“Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Ðường cao vọng, chẳng đời nào bước,

việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;

hồn con, con vẫn trước sau

giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,

trong con, hồn lặng lẽ an vui.

Cậy vào Chúa, Israelơi,

từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.”

  • Thầy bảo thật anh em:“Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10,15).
  • Rồi Đức Giêsu nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).
  • «Thực vậy, Hội Thánh được mời gọi phải làm cho người ta biết, và phải nêu lên một lần nữa mẫu gương và mệnh lệnh của Chúa Kitô, Đấng đã muốn đặt trẻ em vào ngay trung tâm Nước Thiên Chúa: "Hãy để mặc các trẻ nhỏ đến với Ta, đừng ngăn cản chúng vì Nước Thiên Chúa thuộc về những người như thế"(Lc 18,16)».(FC 26)
  • «Đức Giêsu còn đi đến chỗ giới thiệu các em nhỏ cho người lớn như là những thầy dạy, vì tính đơn sơ tin tưởng và hồn nhiên của các em đối với những người khác: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời”(Mt 18,3-4)»(AL 18).

V. Câu hỏi gợi ý hội thảo

1. Benjamin Franklin đã nói: “Those things that hurt, instruct- Những gì gây đau đớn cho ta đều giúp dạy khôn ta”. Để sống hết mình điều quan trọng không phải là con đường ta đang đi, mà là cách ta đi trên con đường đó. Đâu là những điều kiện căn bản để giúp một cá nhân được trưởng thành?

2. Đức Gioan Phaolô II có nói: “Một mặc cảm nào bất kỳ đều biểu lộ một sự thiếu trung thực nào đó”.[15]Anh chị nghĩ sao về sự trung thực trong tiến trình trưởng thành nhân cách và biến đổi?

3. Thánh Gioan Berchmans nói: “Việc hãm mình đền tội lớn nhất trong đời là đời sống chung”.[16] Theo anh chị, sự “tự hủy nội tâm” trong đời sống hôn nhân cần thiết như thế nào để hóa giải tâm lý khác biệt sẵn có giữa nam và nữ?


NHẬN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CHÍNH MÌNH

I. Đọc đoạn kết Ông Giakêu và Dụ ngôn mười nén bạc trong Tin Mừng theo thánh Luca 19,9-27

Ðức Giêsu nói về Giakêu rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất".

 Khi người ta đang nghe những điều ấy, thì Ðức Giêsu lại kể thêm một dụ ngôn, vì Người đang ở gần Giêrusalem và vì họ tưởng là Triều Ðại Thiên Chúa sắp xuất hiện đến nơi rồi.

Vậy Người nói: "Có một người quý tộc kia trẩy đi phương xa lãnh nhận vương quyền, rồi trở về.Ông gọi mười người trong các tôi tớ của ông đến, phát cho họ mười nén bạc và nói với họ: "Hãy lo làm ăn sinh lợi cho tới khi tôi đến". Nhưng đồng bào ông ghét ông, nên họ cử một phái đoàn đến sau ông để nói rằng: "Chúng tôi không muốn ông này làm vua chúng tôi".

"Sau khi lãnh nhận vương quyền, ông trở về. Bấy giờ ông truyền gọi những đầy tớ ông đã giao bạc cho, để xem mỗi người làm ăn sinh lợi được bao nhiêu. Người thứ nhất đến trình: "Thưa ngài, nén bạc của ngài đã sinh lợi được mười nén". Ông bảo người ấy: "Khá lắm, hỡi người đấy tớ tài giỏi! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành". Người thứ hai đến trình: "Thưa ngài, nén bạc của ngài đã sinh được năm nén". Ông cũng bảo người ấy: "Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành".

Rồi nguời thứ ba đến trình: "Thưa ngài, nén bạc của ngài đây, tôi đã bọc khăn giữ kỹ. Tôi sợ ngài, vì ngài là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo". Ông nói: "Hỡi tên đầy tớ tồi tệ! Ta cứ lời miệng ngươi mà xử ngươi. Ngươi đã biết ta là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo. Thế sao ngươi không gửi bạc của ta vào ngân hàng? Và khi ta đến, ta sẽ rút ra được cả vốn lẫn lời!" Rồi ông bảo những người đứng đó: "Lấy lại yến bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười yến". Họ thưa ông: "Thưa ngài, anh ấy có mười yến rồi!" "Tôi nói cho các anh hay: phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi".

"Còn bọn thù địch của tôi kia, những người không muốn ta làm vua cai trị chúng, thì hãy dẫn chúng lại đây và giết chết trước mặt tôi".

II. Nhận trách nhiệm trên đời mình

Nếu không tỉnh thức để phản tỉnh, mỗi người chúng ta cũng rất có thể suy nghĩ tồi tệ theo lối của tên đầy tớ hèn nhát, hẹp hòi, lười biếng và xấu bụng. Chúa trao cho ta những nén bạc để ta làm sinh lời không phải cho Chúa nhưng là cho chính mình, cho gia đình mình. Thế nhưng, ta đã không dám đảm nhiệm để làm sinh lời. Hậu quả thật bi thảm cho ơn cứu độ của bản thân.

Có lẽ khi bọc kỹ những nén bạc lại, tên đầy tớ chỉ ưa phê bình và chỉ trích đã có một cái nhìn ác cảm, đầy tiêu cực về ông chủ của mình. Anh ta đã không chấp nhận quyền bínhsự tín nhiệm của ông. Óc thiển cận chỉ cho anh ta thấy sự thử nghiệm của ông chủ mà không cho anh ta biết về phần thưởng của ông. Anh ta gặp vấn đề không phải từ phía ông chủ nhưng là từ phía mình. Đó là thái độ tắc trách của anh ta. Khi tìm cách tránh né vấn đề, anh ta đã đi vào bế tắc của sự sợ hãi. Anh ta không có đức tính của sự can đảm, quả cảm và thành thật. Đó là đức tính cần để cho cuộc sống của chúng ta thành công. Tác giả Elmer Wheeler nói: “Bí quyết lớn nhất của thành công là sự thành thật. Không thành thật không có phương pháp nào đắc dụng với bạn hết. Thành thật là hòn đá huyền diệu làm cho nhân cách của bạn có mãnh lực thu hút”.[17]

“Làm người là nhận trách nhiệm”.[18]Trong tác phẩm Cõi người tacủa nhà văn phi công Saint-Exupéry, khi nói đến con người bản lãnh, nhà văn đầy tính nhân bản này đã ngợi ca anh bạn phi công Guillaumet dũng cảm phi thường đã quyết chiến đấu để vượt thắng tử thần sau khi băng rừng vượt non để trở về. Ông viết:

“Lòng can đảm của Guillaumet, trước hết, là hiệu quả của lòng cương trực. Đức tính thật sự của anh lại không phải là đó. Sự cao cả của anh, ấy là tự cảm thấy mình mang trách nhiệm. Trách nhiệm với mình, với bao thư tín, trách nhiệm đối với những bạn hữu hoài mong. Anh cầm trong tay những vui buồn của họ. Trách nhiệm đối với những gì mới mẻ đang được xây dựng dưới kia, nơi chốn của nhân gian sinh hoạt, mà dù cách biệt, anh vẫn phải dự phần. Trách nhiệm chút ít đối với định mệnh con người, trong vòng khả năng của anh trên công việc”[19].

Ngược lại, đó chỉ là những kẻ tầm thường khốn đốn như tên đầy tớ tồi tệ nô lệ cho ý tưởng tắc trách của mình. Có lẽ ngay lúc này, chúng ta đang khoác trên mình tâm tình của tên đầy tớ biếng nhác, kẻ tầm thường vì thiếu phẩm chất sống, phẩm chất của một con tim mở ra cho Thiên Chúa và tha nhân. Có thể đâu đó trong lòng ta đang ẩn tàng sự cằn cỗi của tinh thần đang khép kín lòng mình không để cho những mầm xanh của hy vọng, của yêu thương vươn dậy.

Làm người là nhận lãnh trách nhiệm. Không dám lãnh trách nhiệm không phải là con người đúng nghĩa. Chúng ta gọi họ là những kẻ thiếu trưởng thành. Chúng ta có thể nghĩ đến những ông bố theo kiểu: “Cuộc sống cơ cực khiến Ba tôi buồn chán sinh cờ bạc, rượu chè”.[20]Những đôi nam nữ sống thử, sống chung đụng xác thịt những chẳng dám đi đến kết hôn. Những ông chồng bà vợ mèo mỡ theo kiểu “ông ăn chả bà ăn nem, chán cơm thèm phở”. Những tình nhân chán chường hết đường vươn dậy ngồi than “ai đem con sáo sang sông…” hoặc tệ hơn đi tự vẫn khi người tình cất bước sang ngang v.v... Chẳng ai có thể lãnh trách nhiệm sống đời con người thay cho chính chúng ta. Dale Carnegie nói: “Hạnh phúc của ta không do ngoại vật đem tới mà tự tâm ta phát ra”.[21] Hạnh phúc hay khổ đau hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ sống hay chọn lựa của mỗi người chứ không phải do hoàn cảnh: “Ta chỉ có thể trả lời cho đời sống nói chung một khi ta biết nhận lấy trách nhiệm về cuộc đời của riêng mình”[22].

 Nói về bệnh trách nhiệm, bác sĩ tâm lý Scott Peck phân ra làm hai hạng người: “Người đa mang là người nhìn đâu cũng thấy trách nhiệm của mình, còn người tắc trách là người không nhìn nhận đủ phần trách nhiệm của mình[23]. “Người ta có câu: kẻ đa mang đày đọa chính mình, còn người tắc trách đày đọa mọi người xung quanh[24].

 Các vấn đề của cuộc sống sẽ không bao giờ được giải quyết cho ổn thỏa nếu người ta không nhận trách nhiệm để giải quyết nó: Chúng ta gặp khó khăn khi nhận trách nhiệm về cung cách sống của mình bởi vì chúng ta muốn tránh né nỗi khổ sở gây ra bởi cung cách sống ấy[25].Bởi tránh né, chúng ta đành ngồi than thở nức nở.

“Không có cách nào khác, chúng ta phải nhận trách nhiệm và phát huy tốt nhất cuộc đời mình. Thế nhưng một số trong chúng ta lại chọn sự phàn nàn và quy gán mọi nỗi khốn khổ của mình cho bất cứ ai hay bất cứ cái gì khác, còn mình thì vô can”[26].

Khi nói với các linh mục tương lai về sự liêm chính, Đức Hồng Y TimothyDolan nói về khả năng nhận trách nhiệm, coi nó là trợ giúp cho sự liêm chính:

“Khi chúng ta không thể nhận trách nhiệm về cuộc đời mình với một thái độ bình thản, khiêm nhường và tin tưởng vào Sự Quan Phòng, chúng ta trở thành nham hiểm, nhỏ nhen và hận thù, tất cả đều không được phép có đối với một người liêm chính. Chúng ta bắt đầu gian lận về nguyên tắc và xác tín cao quý, là những gì củng cố vinh dự và cá tính của chúng ta. Chúng ta trở thành người hay cáu kỉnh và dễ bị tổn thương, dễ phê phán người khác, dễ buồn phiển, và như đứa con nít, cảm thấy ai cũng muốn lôi chúng ta ra để gây chuyện”[27].

III. Tin Mừng theo thánh Matthêu 19,16-22

Bấy giờ có một người đến thưa Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?"

Đức Giê-su đáp: "Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn." Người ấy hỏi: "Điều răn nào?" Đức Giê-su đáp: "Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian. Ngươi phải thờ cha kính mẹ", và "Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình." Người thanh niên ấy nói: "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa không?" Đức Giêsu đáp: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

IV. Đứng lên kiến tạo cuộc đời

          Phần nhiều trong chúng ta đều có thái độ băn khoăn của người thanh niên trong bài Tin Mừng; băn khoăn phải làm gì để đạt được điều cao đẹp. Có lẽ chúng ta đã làm điều gì đó như người thanh niên đã làm chỉ để xoa dịu lương tâm của mình chứ không dám đối mặt với thách thức mà Đức Giêsu đặt ra. Chúng ta bị trói buộc trong điều gì đó đại loại như của cải, danh giá, tiện nghi, bằng cấp... khiến ta không thể vươn tới một sự trưởng thành đích thực trong Đức Kitô, tràn đầy tình yêu đến mức hy sinh chính bản thân. Tiến sĩ William Barclay nói sự giàu sang có ba tác động tiêu cực trên nhân sinh quan của con người: cổ vũ cho sự độc lập giả tạo, ràng buộc con người với thế gian này và có khuynh hướng khiến người ta vị kỷ. Chú giải đoạn này ông viết: “Đi theo Chúa Cứu Thế đồng nghĩa với phục vụ cách nhân hậu, hào hiệp những người mà Chúa đã chết cho họ”. Khi bám víu vào điều gì, thái độ đó không phải là tội lỗi cho bằng là hiểm họa. Nó không cho phép con người lớn lên và đạt được tình yêu đích thực, có được kho tàng trên trời mà Thiên Chúa muốn ban cho kẻ dám bán tất cả và đem cho người nghèo.

Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta nghị lực bên trong để chúng vươn tới chứ không phải để phiền trách người, than thở với đời và làm tổn thương mình. Ai có thể cứu chúng ta ra khỏi nỗi phiền hà, làm cho ta lớn lên nếu không phải là chính mình. Ơn của Chúa đủ để chúng ta vươn tới sự trưởng thành, nên người và hơn nữa để nên thánh. Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của ta, vậy tại sao chúng ta không thể tha thứ cho chính mình và cho tha nhân để làm cho niềm vui thiêng liêng dạt dào trong ta và các mối quan hệ. Sự thay đổi không bắt đầu từ bên ngoài nhưng phát xuất từ lòng mỗi người.

“Không ai có thể thay đổi chúng ta trừ phi chúng ta muốn thay đổi. Không ai có thể dạy chúng ta trừ phi chúng ta khao khát muốn học. Không ai có thể lớn lên thay cho chúng ta. Lớn lên hay khựng lại, điều đó tùy thuộc vào quyết định của riêng mỗi người”[28].

Không đối diện và đương đầu với sự thật về chính bản thân mình, không bao giờ chúng ta có thể biết được sự thật về Thiên Chúa. Làm sao cá nhân có thể biết được Thánh ý Chúa khi mà chính mình không dám đón nhận sự thật về chính mình và sự thật nơi tha nhân. Thánh Cả Giuse đã nêu gương sáng cho chúng ta về khả năng đón nhận sự thật; Ngài đã đón nhận sự thật đang diễn ra nơi Đức Maria và nhận lãnh trách nhiệm.

V. Suy niệm và cầu nguyện

            1.Những khẳng định của Thánh Kinh và đạo lý của Hội Thánh về hỏa ngục là lời kêu gọi lãnh trách nhiệm qua đó con người phải sử dụng tự do của mình liên quan đến số phận muôn đời của mình; đồng thời là lời kêu gọi khẩn thiết phải hối cải: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường rộng thì đưa tới diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó; còn cửa hẹp và đường hẹp thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14) :

“Vì chúng ta không biết ngày và giờ, nên theo lời Chúa dạy, chúng ta luôn phải tỉnh thức, để, khi dòng đời độc nhất của sự sống trần thế của chúng ta chấm dứt, chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Người và được liệt kê vào số người được chúc phúc (x.Mt 25,31-46), kẻo cũng cũng như những tôi tớ xấu xa và lười biếng (x.Mt 25,26) chúng ta được lệnh phải vào lửa muôn đời (x.Mt 25,41), vào chốn tối tăm bên ngoài, nơi khóc lóc và nghiến răng” (LG 48), (SGL 1036).

2. Việc xưng tội (cáo mình), ngay trên bình diện thuần nhân loại, giải thoát chúng ta và làm cho chúng ta giao hòa với người khác cách dễ dàng hơn. Qua việc xưng tội, con người nhìn thẳng vào tội lỗi mình đã phạm, nhận lấy trách nhiệm về các tội đó, và từ đó một lần nữa mở lòng cho Thiên Chúa và cho sự hiệp thông với Hội Thánh để có thể có một tương lai mới. (SGL 1455)

3. Cha Bruno Ferrero viết: “Ngày nay, người ta ít biết xưng tội hơn; bởi vậy người ta ít biết tha thứ hơn. Chúng ta hãy luôn luôn nhớ đến dụ ngôn trong Tin Mừng về hai người mắc nợ và lời Kinh Lạy Cha ta đọc hằng ngày: Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con[29]. Người ta chỉ biết xót thương khi người ta nhận được hay học được nó nơi tha nhân và nơi Thiên Chúa.

VI. Tự vấn lương tâm[30]

  • Tôi có thường xuyên phiền trách người khác, phiền trách số phận, phiền trách Thiên Chúa về những điều này điều nọ xảy ra trong cuộc đời mình không?
  • Tôi có đổ tội cho người khác, và tự miễn cho mình khỏi nhận trách nhiệm về cuộc đời mình không?
  • Tôi thực sự cảm thấy mình có nghị lực và tự do để nhận lãnh trách nhiệm về đời mình và lèo lái lại cuộc đời mình cho đúng hướng?

VI. Câu hỏi gợi ý hội thảo

          1. Anh chị hãy đóng góp thêm ý tưởng của mình về vấn đề trưởng thành nhân cách và thay đổi: “Không ai có thể thay đổi chúng ta trừ phi chúng ta muốn thay đổi. Không ai có thể dạy chúng ta trừ phi chúng ta khao khát muốn học. Không ai có thể lớn lên thay cho chúng ta. Lớn lên hay khựng lại, điều đó tùy thuộc vào quyết định của riêng mỗi người” (Ernest L. Tan).

          2. Nữ tiến sĩ Harriet Lerner viết: “Để thay đổi, cần có can đảm; nhưng sự thất bại trong nỗ lực thay đổi không hề có nghĩa rằng do thiếu can đảm. Phụ nữ chúng ta rất dễ tự trách mình – và rất dễ bị người kháctrách – nếu chúng ta không tạo ra được sự thay đổi mà chính mình mong muốn hoặc do kẻ khác khuyến giục mình”[31]. Theo anh chị, sự thay đổi và sự can đảm mang lại ý nghĩa gì cho đời sống người Kitô hữu?

          3. “Tâm trí con người có thể nghĩ ra nhiều cách để tránh thoát khỏi những gì mình không thể chịu đựng được. Khi chúng ta không thể đối mặt với những căng thẳng có tính đe dọa mình, đôi khi chúng ta vận dụng các mánh lới tự vệ”[32].Tính tự vệ làm cản trở tiến trình thay đổi như thế nào?

NỖ LỰC ĐẦU TƯ CHÍNH MÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN

 

 

 

I. Dụ ngôn kho báu và viên ngọc quý theo Mt 13,44-46.

Description: http://fredericksburgchurchofchrist.com/image/coloringbook/new/ParablePearl.gif44"Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45"Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. 46Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

II. Muốn chiếm hữu điều cao quý phải đầu tư chính mình

          Những gì cao quý đều đòi hỏi con người phải hy sinh mới có thể chiếm hữu được. Hai hình ảnh kho báu và viên ngọc quý đòi hỏi người ta phải bán tất cả những gì mình có để mà mua.[33] Sự đầu tư cho cuộc sống của người tín hữu là một hành động đòi hỏi phải làm liên tục, làm đi làm lại mãi. Sự thăng tiến về đời sống thiêng liêng cũng như về đời sống nhân bản cứ đòi hỏi người ta phải bắt đầu không ngừng. Hướng đi thì quan trọng hơn tốc độ đi.[34]

          “Con đường của sự trọn hảo phải đi qua Thập Giá. Không thể có sự thánh thiện, nếu không có sự từ bỏ và cuộc chiến đấu thiêng liêng. Sự tiến bộ về đời sống thiêng liêng bao hàm sự khổ chế và hy sinh hãm mình, là những điều kiện từng bước dẫn tới việc sống trong bình an và hoan lạc của các mối phúc”(SGL 2015).

          Con người lớn lên và trưởng thành hơn chủ yếu là nhờ ở sự đầu tư chính mình (self-investment). Người ta có thể đầu tư chính mình tùy vào công việc họ đang đảm nhận để mở rộng tầm nhìn của mình về con người và về thế giới xung quanh. Đó có thể là cơ hội để mở rộng mối tương quan với người khác, để phát triển kỹ năng chuyên môn, để bộc lộ tâm tư tình cảm của mình, để trải nghiệm cách ứng xử mới, để dấn thân cho một lý tưởng, để có những quyết định chín chắn cho sự trưởng thành v.v... Tóm lại, chúng ta đầu tư cuộc đời cho một nền văn minh tình thương và sự sống. Có mở rộng chính mình, người ta mới chui ra khỏi cái vỏ kén để hóa thân thành con bướm, để loại bỏ những tấm bản đồ xưa cũ vẫn dùng để hướng dẫn đời mình đi vào một đời sống tràn đầy niềm vui và yêu thương. Khi ta mở rộng bản ngã mình ra, khi ta bước thêm một bước hay lội bộ thêm một dặm, ta đang làm ngược lại bản năng ù lì lười biếng hay tính nhát sợ của mình[35].Đức thánh cha Phanxicô nói: Yêu thương đưa chúng ta ra khỏi chính mình”.[36]

          Sẵn lòng nhận thách đố của cuộc sống phải là thái độ của người sẵn sàng để làm cho mình được lớn lên, được trưởng thành. Người Việt Nam có câu: “Không vào hang hùm sao bắt được hùm”. Thái độ tự vệ làm cho con người khựng lại và đánh mất đi rất nhiều kinh nghiệm mới mẻ để lớn lên, để đạt được điều cao quý là khám phá ra được sự thật về chính mình, về người khác và về Thiên Chúa. Leo Buscaglia (1924 - 1998) vị giáo sư về tình yêu nói thật chí lý: “Các mối quan hệ rất cần thiết, bởi vì nếu không có các mối quan hệ, bạn sẽ cô đơn, khép kín và đánh mất chính bản ngã của mình.Và dấu hiệu tốt nhất cho biết tình trạng lành mạnh ít hay nhiều của bạn trong tư cách là con người, đó là cứ xem thử bạn có bao nhiêu các mối quan hệ vững bền, giàu ý nghĩa và sâu sắc”[37].

Sự an phận thủ thường trong cái kén là sự an toàn giả tạo, không chấp nhận thương tổn để lột xác, con người không thể lớn lên, không thể làm mới mình trong những thay đổi. Cung cách ứng xử của người cầu tiến biết đón nhận những thương tổn như sự làm mới lại đời sống của mình hầu giúp mình có một đời sống viên mãn trong ơn gọi làm người và làm con Chúa. Họ không sợ phải liều thân để làm cho mình được thăng tiến về mọi mặt. Sự khôn ngoan sẽ cho biết đâu là những giới hạn trong con người của họ và những mối đe dọa thật sự từ phía bên ngoài. Chỉ có những con người có tâm hồn cao thượng mới dám liều mình để dấn thân cho một lý tưởng, để sống hết mình cho lý tưởng. Joseph Fletcher đã nói: “Tình yêu tự do là một lý tưởng. Đáng tiếc, chỉ rất ít người có cái khả năng lý tưởng này”[38].

Trong quyển “Risking - Dám Liều”, tâm lý gia David Viscott (1938-1996) đã cô đọng những điều vừa nói ở trên như sau: “Việc bạn chấp nhận mạo hiểm sẽ tuỳ thuộc vào mẫu người mà bạn phác hoạ cho bạn. Nếu bạn đi trong cuộc đời mà không có một lý tưởng nào, thì hầu như không một sự mạo hiểm nào có thể đem lại cho bạn niềm vui bền vững. Những mạo hiểm đáng chấp nhận là những mạo hiểm có thể giúp bạn tạo lập một cuộc đời tốt nhất cho chính bạn”. Và ông kết thúc bằng ghi nhận sâu sắc này: “Đàng sau mọi sự mạo hiểm đều có một cuộc sống đáng mạo hiểm để đổi lấy”[39].

Trong cuộc sống, biết bao cơ hội có thể để ta lớn lên mà ta đã khước từ hay bị tước mất chỉ vì sợ hãi: sợ con người, sợ sống, sợ chết, sợ cả nỗi sợ của mình, sợ đủ thứ[40]…. Đời sống chúng ta rất có thể đã tiến xa lắm rồi nếu sự sợ hãi đã không cản mũi kỳ đà trên lối ta đi.

Description: http://gresham.kenrickparish.com/popeB&W.gif“Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian”(Gioan 16,33). Dựa vào sự chiến thắng của Chúa Kitô, chúng ta có lý để không còn sợ hãi bất cứ điều gì kể cả sự chết. Chúng ta có thể lèo lài con thuyền băng qua bão tố cuộc đời khi chúng ta có niềm tin vào chính mình, vào người khác, và vào Thiên Chúa. “Non abbiate paura! – Anh chị em đừng sợ!” là lời của Đức Kitô. Tân chân phước Gioan Phaolô II đã để lại âm hưởng của lời đó trong lòng Giáo Hội cũng như trong lòng nhiều người khi khởi đầu triều Giáo Hoàng của Ngài.

Niềm tin vào Đức Kitô cho chúng ta có biết bao nhiêu những đồng chí đang cùng đồng hành với mình để lớn lên. Họ là những đồng minh giúp mình trong cuộc chiến đấu cho chân thiện mỹ. Họ là quà tặng nhưng không của và trong Đức Kitô. Sức mạnh của Đức Kitô phục sinh sẽ làm cho cái tôi được Thiên Chúa sáng tạo tiến tới cái tôi được Thiên Chúa cứu độ; một cái tôi tràn đầy Thánh Thần của Đức Kitô. Họ sẽ giống như các Tông đồ sau ngày lễ Ngũ Tuần không còn sợ hãi nữa.

III. Suy niệm và cầu nguyện

  • Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Gioan 12, 24).
  • Qua các dụ ngôn, Chúa Giêsu kêu mời người ta vào dự tiệc Nước Trời, nhưng Người cũng đòi phải có một lựa chọn tận căn: để đạt tới Nước Trời, cần phải cho đi mọi sự; lời nói suông không đủ, cần phải có việc làm. (SGL 456)
  • “Trong tình yêu không có sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền tới hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Gioan 4,18).

IV. Câu hỏi thảo luận

1. Thánh Grêgôriô Nyssênô nói rằng: “Ai trèo lên, người đó không ngừng từ bắt đầu này tiếp sau bắt đầu kia, qua những bắt đầu không chấm dứt. Người đó không bao giờ ngừng ao ước điều người đó đã biết rồi”[41].Kinh nghiệm của anh chị về sự bắt đầu này như thế nào?

2. “Tình yêu là ý chí mở rộng bản ngã ra để cho chính mình hay người khác được trưởng thành hơn về mặt tinh thần[42]. Khi tinh thần anh chị sa sút vì những nỗi đau riêng tư, anh chị thường làm gì để ra khỏi sự sa sút đó?

3. Michael E. Cavanagh nói: “Lo âu và chán nản là hai tâm trạng phổ biến nhất nơi những người khủng hoảng”[43]. Hai tâm trạng ấy cản trở sự trưởng thành của ta ra sao?

 

 
  Description: http://kingsenglish.info/wp-content/uploads/2011/10/foot+washing.gif


 

EPPHATHA! - HÃY MỞ RA!

 

 

 

I. Tin Mừngtheothánh Marcô 7,31-37.

Description: http://gracechristianfellowshipchurch.org/sitebuildercontent/sitebuilderpictures/healing-deaf-man.gif 31Ðức Giêsu lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xiđon, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. 32 Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Ðức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh. 33 Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. 34 Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: "Epphatha", nghĩa là: hãy mở ra! 35 Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. 36 Ðức Giêsu truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. 37 Họ hết sự kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được."

II. Mở rộng bản ngã

Tội lội và sự chết đã đóng kín con người lại trong bóng tối. Qua những tác động chữa bệnh, cầu nguyện và ra lệnh, tai và miệng người bệnh mở ra nói được rõ ràng. Việc lạ lùng này cho thấy Đức Giêsu được Thiên Chúa sai đến trần gian vì mục đích cứu độ. Những việc lạ lùng này là dấu chỉ và biểu tượng cho công cuộc giải thoát mà Chúa Kitô mang đến. Dân chúng đã nhận ra việc tốt đẹp mà Đức Giêsu đã làm là việc của Thiên Chúa. Như vậy Đức Giêsu là Đấng đang thực hiện một công cuộc sáng tạo mới, việc cứu độ thọ tạo đã hư mất vì tội lỗi để đem lại vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã ban thuở ban đầu.

Trong tiến trình tiến đến một đời sống tràn đầy, chúng ta cũng được Chúa Kitô mời gọi hãy mở ra. Chúng ta mở ra qua việc chia sẻ chính mình và mở rộng bản ngã mình ra để giúp mình cũng như người khác được trưởng thành. Chỉ khi mở rộng bản ngã của mình ra người ta mới tiến đến một tình yêu đích thực.

Lý thuyết về sự trưởng thành tinh thần của tiến sĩ Scott Peck có thể được tóm lược như sau: Mỗi người có hai bản ngã – một bản ngã bệnh hoạn, cố hữuvà một bản ngã lành mạnh. Tiến trình trưởng thành lành mạnh đòi buộc con người chiến đấu chống lại và loại bỏ bản năng ù lì, lười biếng, nhát sợ của bản ngã bệnh hoạn, cố hữu. Trên con đường nên thánh, con đường tiến đến tình yêu đích thực để phong phú, kiện toàn hay làm sung mãn bản ngã, việc mở rộng bản ngã là một việc làm bắt buộc. Dù cho cá thể tính có tính cố định, giới hạn của vành đai bản ngã cần có sự can đảm để loại bỏ, tu bổ và nới rộng ra để ta tiến tới một bản ngã mới và khác. Như thế, tình yêu đích thực đòi con người không ngừng phải can đảm thay đổi[44].

 Làm người một cách say mê và là một người say mê tương lai chỉ khi con người có tình yêu đích thực. Tiến trình lớn lên và trưởng thành đòi hỏi chúng ta phải mở ra, phải phá vỡ vành đai bản ngã là những gì đang làm cho cá nhân cảm thấy an toàn, một sự an toàn trong cô đơn khép kín để tiến tới một bản ngã lành mạnh và vươn tới bản ngã thần linh là chính Thiên Chúa. Tư tưởng này nhắc chúng ta nhớ tới cha Teilhard de Chardin, S.J. khi ngài nói đến một Đức Kitô luôn luôn lớn hơn[45]. “Chúa đã đến – Maranatha”. Chỉ khi ta biết mở lòng ra trước lời kêu mời của Đức Kitô "Hãy mở ra - Epphatha!" thì chính Đức Kitô sẽ đáp lại lời "Lạy Chúa! Xin hãy đến - Marana tha!" (Kh 22,20) của lòng ta. “Lạy Chúa Giêsu! Xin hãy đến và nắm lấy đời sống con vào trong sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa”.[46]

III. Cởi mở bằng cách chia sẻ chính mình

Cởi mở là đem con người của mình ra khỏi chính mình. Đó là một sự mạo hiểm, là chết ở trong lòng không phải một ít[47] mà là rất nhiều để làm cho mình được lớn lên. Cảm giác đó làm cho không ít người lo sợ; và theo bản năng tự vệ họ thu mình lại trong vỏ ốc. “Không ai bị ép buộc cởi mở. Nhưng vì cởi mở là điều kiện tất yếu cho sự lành mạnh tâm lý và tâm linh của chúng ta, nên tôi đang muốn khích lệ họ mà thôi”[48].

Không phải với ai chúng ta cũng có thể chia sẻ và phơi trần cõi thâm sâu nơi bản ngã nhưng điều thật cần thiết cho những ai làm cho chúng ta được lớn lên, những ai ta tín nhiệm, những ai giúp củng cố con người nội tâm của mình. Ngược lại với sự cởi mở, thói thích thổ lộ tâm tình chỉ làm sức mạnh tinh thần bị tản mác và lãng phí[49], làm cho đức dũng hao mòn. Sự sợ sệt và khoe khoang đều làm cho tiến trình trưởng thành bị khựng lại. Sự thất tín có thể làm cho chúng ta bất tín nhiệm, tuy nhiên sự rủi ro có thể xảy ra nhưng chúng ta phải vì sự trưởng thành của mình chứ không phải sự ấu trĩ của kẻ thất tín hay kẻ ác ý “khẩu Phật tâm xà”.

         

IV. Thay đổi góc nhìn hay thay đổi tâm cảnh của mình

Hiện tượng luận (phenomenology)của triết gia Emund Husserl (1859 - 1938) cho rằng “Mỗi con người cá biệt chỉ quan tâm đến những hiện tượng có liên quan đến cuộc sống của cái Tôi với tư cách một thân phận đang sống cuộc sống thường nhật. Tóm lại mỗi con người cụ thể chỉ quan tâm đến sự sống và sự chết của chính cái Tôi và cũng chỉ khi có hiện tượng này hay hiện tượng khác mới có ý nghĩa với cuộc đời tôi và tôi mới cần biết đến nó”[50]. Như vậy mội người nhìn thấy các thực tại chung quanh theo nhãn giới của mình.Ý thức của mình hướng về bản thân, về tâm tư, tình cảm, tâm hồn, trạng thái tâm lý, tâm tính của cái tôi. Đó là tính chủ quan của chủ thể.

“Tương tự như những miếng da che mắt ngựa, tất cả chúng ta đều có những tâm cảnh về chính mình, về người khác, về thế giới, và về Thiên Chúa. Chúng ta có những tâm cảnh – những cảm nhận, những quan điểm, những thái độ – về hầu như mọi sự. Và cũng giống như những miếng da che mắt ngựa, nếu chúng ta không cẩn thận, tâm cảnh của chúng ta có thể che mắt mình, không cho phép mình nhìn thấy những thực tại mới và tước khỏi mình khả năng học hỏi thêm”[51].

Với nhận thức đó, chúng ta phải phá bỏ những rào cản của sự trưởng thành nơi những tâm cảnh đang tồn tại của mình hầu giúp ta tiếp cận sự vật cách ngạc nhiên, mới mẻ, đúng đắn, sáng tạo và hữu ích. Chúng ta tiếp cận sự vật qua ngũ quan của mình nhưng trên hết vẫn là qua tâm trí đã được đổi mới hay khao khát biến đổi của mình.

Với cái lăng kính mới này, con người ta sẽ không ngừng “ôn cố nhi tri tân”[52]. Sự vật cũ nhưng cái nhìn đã thay đổi nơi con người biết cởi mở. Mọi kinh nghiệm đều là cơ hội tốt để người cởi mở học hỏi và nắm bắt được sự thực nơi con người, nơi sự vật và cả nơi Thiên Chúa nữa. “Nếu ta không cởi mở, tâm cảnh của mình có thể tước mất của mình mọi kinh nghiệm mới và mọi nhận thức mới gắn liền với các kinh nghiệm ấy”[53].

Sự thay đổi cách nhìn sẽ không chỉ giúp chúng ta khám phá ra sự thật nhưng còn đem lại sự quân bình tâm lý. Chính tâm cảnh của con người giúp chúng ta có thể hiểu vì sao những kẻ khủng bố không thể nhìn người và nhìn đời một cách thoải mái và nhân ái. Kết quả họ đã hủy diệt sự sống không những của người khác mà còn của chính mình. Việc thay đổi cái nhìn là một việc khó nhưng đó là một hành động để không ngừng tiến tới một sự trưởng thành và một sự sống viên mãn.

V. Cởi mở để vươn ra

Vành đai bản ngã làm cho chúng ta nghĩ mình có nhữngý niệm và khả năng nào đó khiến cho chúng ta dừng lại nơi đó như một sự dễ chịu dịu dàng. Ít khi chúng ta dám hành động vượt ra khỏi ranh giới của nó để mở rộng tầm nhận thức về tiềm năng của bản thân mình. Đó là điều mà cha John Powell, S.J.[54] gọi là sự vươn ra khỏi bản ngã. Sự vươn ra thách đố chúng ta làm điều gì đó đúng đắn và hợp lý, nhưng từ điều đó chúng ta lại luôn bị chần chừ bởi không dám vươn ra khỏi vùng dễ chịu để giải phóng các tiềm năng nơi mình.

Chỉ trong thực hành mà chúng ta có thể mở rộng nhận thức, khơi dậy tiềm năng và phá vỡ cái không dễ chịu vẫn bao bọc bản ngã chúng ta. Những người thành công trong mọi lãnh vực là những người luôn biết sẵn sàng để vươn ra bất chấp sự khó chịu đến từ trong mình hay từ ngoại cảnh. Các khả năng không tự động phát triển. Các tiềm năng không thể thức giấc nếu không có gì động chạm đến nó. Câu tục ngữ “Thất bại mẹ đẻ thành công”, “Có chí làm quan có gan làm giàu” hẳn có một giá trị thực tiễn.

“Có nhiều lãnh vực chúng ta có thể vươn ra. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải tính đến quyền lợi và trách nhiệm của mình để biết lựa chọn những lãnh vực phù hợp và thực tiễn. Như một linh mục bạn tôi nói: “Một chiếc xe có thắng thì tốt hơn nhiều so với một chiếc xe không thắng!”[55].

VI. Suy niệm và cầu nguyện

  • Tin Mừng theo thánh Gioan 12,1-8: …Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Ðức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. Một trong các môn đệ của Ðức Giêsu là Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói: "Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng bạc mà cho người nghèo?"…
  •  Tiến sĩ William Barclay (1907 - 1978) chú giải về đoạn Tin Mừng này như sau: “Chúng ta thấy cách nhìn của một người có thể bị méo mó, sai lệch như thế nào. Giuđa đang chứng kiến một hành động cao quý bày tỏ tình yêu thương nhưng lại đánh giá là sự phung phí của cải. Ông là người cay cú, nên nhìn mọi việc bằng đôi mắt cay cú của mình. Cái nhìn của một người tùy thuộc vào nội tâm người ấy, người như thế nào thì nhìn thấy sự việc như thế ấy. Khi yêu ai, chẳng thấy người ấy có sai lầm, khuyết điểm gì; nhưng khi ghét người nào, ta có thể suy diễn lệch lạc cả những hành vi đẹp đẽ nhất của người ấy. Nếu có đầu óc méo mó, chúng ta sẽ nhìn thấy mọi sự một cách méo mó. Nếu chúng ta thấy mình hay chỉ trích người khác và gán cho họ những động cơ thấp hèn, hãy tạm dừng việc tra xét thiên hạ, bắt đầu tự tra xét chính mình”[56].
  • Vậy, Ðức Giêsu nói với những người Dothái đã tin Người: "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông"(Ga8,31-32).

VI. Câu hỏi hội thảo – chia sẻ

1. Kinh nghiệm của bác sĩ Scott Peck cho biết: Nói dối, trong hầu hết mọi trường hợp, đều nhằm né tránh sự phiền toái mà đáng ra người ta phải đón nhận, và do đó hoa quả của của nói dối là sự suy nhược tâm thần[57]. Theo anh chị đâu là nguyên nhân của sự nói dối? Đâu là những tai hại của sự nói dối trong tiến trình làm cho con người được trưởng thành?

 

 
  Description: http://kingsenglish.info/wp-content/uploads/2011/10/foot+washing.gif


2. “Sự cởi mở là khả năng đập vỡ tâm cảnh đang tồn tại của ta và cho phép ta kinh nghiệm mọi điều mới, để đạt được những hiểu biết mới, để học lại những điều vốn đã quên, và để đào thải những nhận hiểu sai lầm”[58]. Theo anh chị, những phương thế nào có thể giúp mình phá vỡ những tâm cảnh đang vây bọc để làm cho mình được thành nhân và nên thánh?

 


 

THÀNH THỰC BIẾN ĐỔI NỘI TÂM

 

 

 

I. Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Matthêu 15,1-20

Bấy giờ có mấy người Pharisêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Ðức Giêsu và nói rằng: "Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?”Người trả lời: "Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: "Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy, không phải thờ cha kính mẹ nữa". Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa. Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri đúng về các ông rằng: Dân này kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.

Description: http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQlnDTudGag6EONem3vVAUAldKxSZYhjoq-VnFSJiwmlFVIrriH8w Sau đó, Ðức Giêsu gọi đám đông lại mà bảo: "Xin nghe đây và hiểu cho rõ: Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế".

Bấy giờ các môn đệ đến gần Ðức Giêsu mà thưa rằng: "Thầy có biết không? Những người Pharisêu đã vấp phạm khi nghe Thầy nói lời ấy". Ðức Giêsu đáp: "Cây nào mà Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời, đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi. Cứ để mặc họ. Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố".

Ông Phêrô thưa với Người: "Xin Thầy giải thích dụ ngôn cho chúng con". Ðức Giêsu đáp: "Cả anh em nữa, bây giờ mà anh em vẫn còn ngu tối sao? Anh em không hiểu rằng bất cứ cái gì vào miệng thì xuống bụng, rồi bị thải xuống cầu tiêu sao? Còn những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Ðó mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế".

II. Lương tâm trong sạch và ý hướng ngay thẳng

Thánh Augustinô cho biết: “Nói dối là nói điều sai, với ý định đánh lừa kẻ khác”.[59] Sự dối trá hay giả hình cách nào đó luôn là một sự đảo lộn giá trị, với chủ tâm phỉnh gạt người khác và tự lừa gạt chính mình bằng cái vẻ tốt đẹp bề ngoài. Nó là lỗi phạm đến công bằng và bác ái, mầm mống sự chia rẽ và nhiều điều xấu xa. Nguyên nhân sâu xa có thể là do sợ hãi hay tính khoe khoang, kiêu căng[60]. Giáo huấn của Chúa Giêsu dạy cho ta biết rằng cái bên ngoài không quan trọng hơn chính giá trị luân lý trong đời sống con người: cần phải có một lương tâm trong sạch và một ý hướng ngay thẳng, con người mới không ra ô uế.

“Việc chúng ta mang mặt nạ là điều tự nhiên, để đánh lừa không chỉ người khác mà nhất là đánh lừa chính mình. Những mặt nạ chúng ta mang chắc chắn không phản ảnh đúng con người thực của chúng ta. Nếu nó thực thì chỉ thực trong cái giả hình. Nhưng vì chúng ta sợ sự thực về mình, nên chúng ta dùng các mặt nạ để che chắn. Các mặt nạ bảo vệ chúng ta, đề phòng người khác nhìn thấy những sự thật mà chính chúng ta không thể chấp nhận và không dàn xếp ổn thoả được”[61].

Khi đeo chiếc mặt nạ vào, người ta tước mất khỏi chính mình cái khả năng và các cảm xúc tự nhiên như một phần kinh nghiệm sống của con người. Người ta phải gò uốn con người của mình theo cái mà mình không có để tưởng tượng đến cách người ta nghĩ gì hay nói gì về mình. Tại sao lại phải sống dựa vào dư luận, vào tiếng khen lời chê trong khi mình không được là mình một cách thoải mái, mình đang bị thương tổn bên trong. Nhu cầu khoe khoang làm xoàng nhân cách. Sống gượng ép theo kiểu “bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm”[62]như vậy thì thật là không dễ chịu gì!

Tính thành thực tâm lý (psychological honesty) hay đối diện với sự thật về chính mình là điều mà nhiều người chúng ta bị thiếu. Chúng ta thiếu cái “khả năng đối diện với sự thật về chính mình, cả những sự thật tích cực lẫn tiêu cực, cả những điểm mạnh và điểm yếu”, khiến chúng ta sẽ thấy có nhu cầu để phải nấp mình sau một mặt nạ, xây dựng cho mình một hệ thống phòng thủ đến mất ăn mất ngủ.

Tính thành thực tâm lý chỉ tồn tại nơi những tâm hồn biết nhận ra được sự thật về những điều tốt lành nơi mình. Việc nhìn nhận các phẩm chất tích cực nơi mình hoàn toàn khác với thái độ của kẻ kiêu ngạo. Sự thành thực trong khiêm nhường giúp người ta ý thức các khả năng được ban cho mình, biết đảm nhận lấy nhân tính và thần tính của mình[63]. Chỉ trong sự an bình nội tâm mà người ta được hòa giải với chính mình và phát huy tối đa năng lực của mình để trưởng thành hơn về mặt tâm lý và tâm linh.

Thái độ cứng cỏi và thô lỗ bên ngoài thường chỉ bộc lộ những phẩm chất yếu kém bên trong. Người ta có thể dễ dàng làm tổn thương người khác chỉ vì chúng ta bị thương tổn từ bên trong. Khi chẳng thể khẳng định nhân cách hay giá trị của mình từ bên trong, người ta tìm cách khẳng định nó qua con đường trái khuấy bên ngoài.

 Sự thành thực tâm lý để chống lại những mặt nạ và những hệ thống tự vệ là điều kiện quyết định để lớn lên. Dũng cảm đảm nhận nhân tính của mình là cơ sở nền tảng giúp chúng ta tiến tới và giúp thần tính hiển lộ. “Nhân chi sơ tính bản thiện” như cội nguồn giúp chúng ta tìm lại chính mình. Trong sự thành thực tâm lý, câu tục ngữ sau đây phải là thượng sách:

“Khôn ngoan chẳng lọ thật thà.

Lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”[64].

III. Suy niệm và cầu nguyện

1. Sao anh lại có thể nói với người anh em: "Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra", trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em! (Luca 6,42).

2. Ngôi Lời đã làm người để làm cho chúng ta được “thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr l,4):

 - Thánh Irênê viết: “Chính vì điều này mà Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, Đấng là Con Thiên chúa trở nên Con Người, đó là để cho loài người, khi kết hợp với Ngôi Lời của Thiên Chúa và nhận quyền làm nghĩa tử, thì được trở nên con cái Thiên Chúa”.

- Thánh Athanasiô Alexandrinô viết: “Chính Người đã làm người, để chúng ta được trở thành những vị thần”.

 - Thánh Tôma Aquinô viết: “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Người, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần.” (SGL 460)

3. Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tuyệt đối yêu mến chân lý: “Trong lời nói của anh em, hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’” (Mt 5, 37). (SGL 2466)

IV. Tự vấn lương tâm

“Bạn hãy nhìn lại cuộc sống của bạn và kiểm tra các mặt nạ và các hệ thống tự vệ:

  • Bạn đã bám chặt vào chúng đến mức nào?
  • Bạn đã sử dụng loại mặt nạ nào?
  • Một con người tử tế ?
  • Một anh hề?
  • Một ‘người biết hết’?
  • Và đâu là những sự thực về chính bạn, cả tích cực lẫn tiêu cực?
  • Bạn có gặp khó khăn trong việc hoà giải với những sự thật nơi mình không – đến nỗi bạn phải tránh né dưới một mặt nạ?
  • Bạn có thể làm những gì để hoà giải với những sự thật này?”[65].

V. Câu hỏi thảo luận

1. Một nhà trị liệu tâm lý đã từng nói với Earnest L. Tân: “Nếu trong đáy lòng mình, bạn xác tín rằng bạn tốt, thì bạn sẽ chẳng thấy cần phải chứng minh điều đó cho bất cứ ai. Bạn cứ thoải mái là chính bạn!”[66]. Mình ra sao cứ thể hiện mình ra như vậy, theo anh chị điều đó có những ích lợi nào cho sự trưởng thành hơn lên về tâm lý, tâm linh và đời sống làm chứng cho Chúa?

2. Earnest L. Tân nói: “Tất cả những gì người ta cần là sự can đảm để cởi bỏ các mặt nạ và hệ thống tự vệ của mình, để bộc lộ chính con người thực của mình ra”[67]. Ta phải làm những gì để sống theo sự thật giữa một xã hội Việt Nam có quá nhiều sự giả dối như ngày nay?

GIẢI TRỪ CÁC NHÃN HIỆU

 

I. Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Luca 18,9-14

Description: http://mark1616.files.wordpress.com/2011/07/phariseeandprodigal.gif Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

II. Cần phân biệt giữa nhãn hiệu và con người

Gặp gỡ mỗi người trong chính tính độc đáo của người ấychứ không phải dựa trên những nhãn hiệu là điều đáng mơ ước của mỗi người.Chúng ta dễ dàng nhìn người khác và sự vật với cái lăng kính hay tâm cảnh của mình và vì thế chúng ta đã bóp méo đối tượng theo cái ý nghĩ của mình. Đó là bệnh yên trí. Sự thức tỉnh thật quan trọng để kéo chúng ta ra khỏi giấc ngủ quên trong tự mãn như người Pharisêu trong dụ ngôn chúng ta vừa nghe. Nhãn hiệu Pharisêu đã làm ảnh hưởng đến cung cách ứng xử của ông ta. Dựa trên kinh nghiệm lệch lạc mình có về mình và về người khác, ông ta đã làm méo mó chính mình và có những cái nhìn lệch lạc, chụp mũ và qui gán cho người khác. Đó chính là mối nguy của việc dán nhãn hiệu.

Rabi Simeon Ben Jocai được ghi nhận đã có lần nói: “Nếu chỉ có hai người công bình trên thế gian thì đó là tôi và con trai tôi, nếu chỉ có một người công bình thì đó là tôi”.[68] Chắc chắn không phải tất cả mọi Pharisêu thì đạo đức chân thật và mọi người thu thuế thì tham lam, bất chính và ngoại tình. Đạo đức hay bất lương điều đó còn tùy ở mỗi người. Người ta không thể khái quát hóa hay vơ đũa cả nắm khi dán nhãn hiệu cho người khác theo kinh nghiệm của mình hay nhìn người khác qua cái nhãn hiệu của họ. Sự thật về một con người hay một sự vật nó nằm ở phía ẩn khuất nhiều hơn ở những gì lộ diện. Giữa nhãn hiệu và con người là hai mặt hoàn toàn khác nhau không thể đánh đồng.

Chúng ta có thể định nghĩa: “Việc giải trừ nhãn hiệu là khả năng không cho phép các nhãn hiệu hạn định kinh nghiệm của chúng ta về nhân vị tính của mình và của người khác”.[69]

Người ta có thể là một Pharisêu hay một người thu thuế nhưng nhân vị tính của họ không bị hạn định ở chỗ họ chỉ là một Pharisêu hay một viên thu thuế. Anh ta có thể là một tài xế nhưng không phải tất cả mọi tài xế đều lăng nhăng bậy bạ. Chị ta là một cô giáo hay một nữ tu nhưng làm cô giáo hay nữ tu không có nghĩa là không còn cái quyền được vui tươi thoải mái. Ông ta là một linh mục, nghĩa là chọn một con đường sống để nên thánh chứ chưa phải là thánh. Bởi vậy, không thể xem mặt mà bắt hình dong rồi cứ dựa vào đó để mà đối xử với họ như cách ta nắm bắt hay theo cách nghĩ chủ quan. Mỗi người phải được đối xử như một con người dù chỉ là trong ý nghĩ.

Hiểu vậy, nếu chúng ta muốn được đối xử cách công bằng thì “chúng ta có bổn phận phải bộc lộ về mình, cho biết mình muốn được hiểu và được đối xử như thế nào”.[70]Chỉ khi nào chúng ta biết mình là ai và có thông tin thật đúng đắn về người khác thì chúng ta không dễ bị lẫn lộn giữa nhãn hiệu và con người, nhờ vậy dễ có khả năng trao cho nhau lòng kính trọng mà mỗi người cần có. “Tôi ước mơ rằng mọi người chúng ta sẽ gặp nhau như sự thật của nhau, không cần nấp dưới những nhãn hiệu này nọ nữa”.[71]

III. Chuyện vui về nhãn hiệu của cha Anthony de Mello

 1. Có người kia đến với một vị linh mục và thưa: - “Thưa Cha, xin cha làm một lễ cho con chó của con”. Vị linh mục đỏ bừng mặt: - “Ông nói gì, làm lễ cho con chó của ông?”. Người ấy đáp: - “Nó là con chó yêu quí của con. Con quí nó lắm và con xin cha dâng một lễ cho nó”. Vị linh mục bảo: - “Ở đây chúng tôi không dâng lễ cho chó. Hay là ông thử gặp giáo phái ở dưới phố kia xem sao. Hỏi xem họ có thể giúp ông chuyện đó không”. Người ấy vừa quay ra - vừa than thở với vị linh mục: - “Buồn quá. Con mến con chó ấy lắm. Con định dâng một triệu đô la để xin lễ cho nó đấy”. Vị linh mục bảo ông: “Khoan đã, sao ông không nói rõ cho tôi biết rằng con chó của ông là Công giáo!”[72].

2. A farmer named Muldoon lived alone in the Irish countryside with a pet dog he doted on. The dog finally died. Muldoon went to the parish priest and asked, "Father, the dog is dead. Could you be saying a mass for the creature?"

Father Patrick replied, "No, we cannot have services for an animal in the church. But there's a new denomination down the road. No telling what they believe. But maybe they'll do something for the animal."

Muldoon said "I'll go right now. Do you think $50,000 is enough to donate for the service?"

Father Patrick asked, "Why didn't you tell me the dog was Catholic!"

IV. Suy niệm và cầu nguyện

1. “Thưa anh em, anh em đã tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúachúng ta, là Chúa vinh quang, thì đừng đối xử thiên tư. Quả vậy, giả như có một người bước vào nơi anh em hội họp, tay đeo nhẫn vàng, áo quần lộng lẫy, đồng thời có một người nghèo khó, ăn mặc tồi tàn, cũng bước vào, mà anh em kính cẩn nhìn người ăn mặc lộng lẫy và nói: "Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này", còn với người nghèo, anh em lại nói: "Đứng đó!" hoặc: "Ngồi dưới bệ chân tôi đây!", thì anh em đã chẳng tỏ ra kỳ thị và trở thành những thẩm phán đầy tà tâm đó sao?” (Giacôbê 2,1-4).

2. “Khiêm nhường là nền tảng của cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện từ vị trí nào? Từ chỗ cao của tính kiêu căng và ý riêng của chúng ta, hay “từ vực thẳm” (Tv 130,1) của một trái tim khiêm nhường và thống hối?”[73]

3. “Chúng ta tiêu tốn quá nhiều tâm lực trong cuộc sống của chúng ta để đáp ứng cho những nhãn hiệu - những nhãn hiệu của mình và những nhãn hiệu của kẻ khác. Chúng ta đồng hóa những nhãn hiệu ấy với cái “tôi” của mình: Công giáo và Tin Lành là những nhãn hiệu thường thấy nhất”[74].

V. Câu hỏi thảo luận

1. “Nếu bạn quyết không đồng hóa mình với bất cứ nhãn hiệu nào, phần lớn những lo âu của bạn sẽ biến mất”[75]. Đâu là những nỗi phiền toái khi cho mình là người quan trọng?

2. “Chúng ta cần trau giồi một khả năng nhạy bén để phân biệt giữa nhãn hiệu và con người. Đành rằng các nhãn hiệu là cái rất cần thiết, vì chúng phục vụ cho mục đích làm sáng tỏ các chức năng và các mối quan hệ, nhưng không được đánh đồng chúng với con người”[76]. Theo anh chị đó là những khả năng nào mà chúng ta cần trau dồi?

3. “Điều quan trọng là giũ bỏ những nhãn hiệu. Như các thiền sư Nhật Bản vẫn nói: ‘Đừng tìm kiếm chân lý; chỉ cần lột bỏ những quan niệm của mình’” .[77] Theo chị, quan niệm chủ quan cản trở tiến trình hoán cải của mỗi người như thế nào?


 

BIẾT PHÂN ĐỊNH KINH NGHIỆM SỐNG

 

 

I. “Cây nào trái ấy” trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu 12,33-37

"Cây mà tốt thì quả cũng tốt; cây mà sâu thì quả cũng sâu, vì xem quả thì biết cây. Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình. Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án."

II. Khảo sát lòng mình

Chúng ta chưa khảo sát lòng mình hay thành thực để phản tỉnh về đời mình cách đúng đắn. Chúng ta cứ loay hoay trong những nỗi khổ không cần thiết do mình tạo ra chỉ bởi không nhận ra nguyên nhân của nó. Chỉ khi người ta nhận ra được nguồn cội của những nỗi khổ, người ta dễ dàng sống quân bình và hài hòa ngay trong con người của mình.

Những gì chưa được dàn xếp ổn thỏa và chưa có tính thuyết phục từ bên trong sẽ bộc lộ ra ngoài dưới nhiều hình thức thái quá hay bất cập. Người ta đánh mất chính mình chỉ vì đem hành động bên ngoài để che đậy những bất ổn bên trong. Những thái quá hay những bất cập đòi chúng ta phải dừng lại để khảo sát lòng mình, truy tìm ý nghĩa trong các kinh nghiệm trước khi tra tay vào bất cứ hành động nào.

“Không biết biện phân, chúng ta sẽ trở thành nạn nhân của các hoàn cảnh. Chúng ta để cho các biến cố thao túng chúng ta. Trái lại, với sự biện phân, chúng ta sẽ tìm lại được năng lực để lãnh trách nhiệm và để hành động trong cuộc sống mình”[78].

Chấp nhận những giới hạn của mình hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng. Có kẻ bất mãn kinh niên, trước là bất mãn về mình rồi sau đó bất mãn với người khác. Mặc cảm tự ti đưa con người bất mãn thu mình lại. Mặc cảm tự tôn đưa con người bất mãn đả phá kẻ khác và cũng không loại trừ cả cá nhân mình. Cả hai loại mặc cảm đều có cái nhìn tiêu cực và rất xa rời thực tế, không dám đối diện với sự thật của bản thân.

Việc tránh né vấn đề không phải là cách giải quyết tốt nhất; ngược lại nó làm cho vấn đề càng trở nên trầm kha và phức tạp. “Chúng ta phải đều đặn dành thời giờ để xem xét lại từng kinh nghiệm của mình và suy ngẫm về cách mà các kinh nghiệm ấy đang hình thành nên con người hiện tại của chúng ta. Chúng ta phải cảnh giác để không mù loà trước sự thật – do bởi nỗi sợ đau đớn. Chúng ta phải tiếp tục khảo sát lòng mình”[79].Dành thời giờ để khảo sát lòng mình và mở ra cho chân thiện mỹ, chúng ta sẽ lớn lên thêm rất nhiều trong tư cách là những con người trước khi chúng ta nghĩ mình là những vị thánh. Trong con người có một khả năng do Thánh Thần ban cho khiến có thể nhận biết điều chân thiện mỹ khi gặp. Con người có thể đánh mất bất kỳ khả năng nào nếu không chịu sử dụng nó. Vì vậy một người có thể đánh mất khả năng nhận biết điều chân thiện mỹ khi thường xuyên tránh né đối diện với vấn đề.[80]

III. Phân định trách nhiệm

“Dường như ai trong chúng ta cũng ít nhiều mắc chứng đa mang hoặc tắc trách ở một mức độ nào đó. Việc phân định đúng đắn đâu là trách nhiệm của mình và đâu không phải là trách nhiệm của mình há không phải là một trong những vấn đề hệ trọng nhất của cuộc sống đó sao? Đó là thứ công việc mà chúng ta không bao giờ hoàn thành xong xuôi được, vì cuộc sống là một dòng chảy các biến cố mới lạ hoài, trong đó ta không ngừng phải xác định đi xác định lại đâu là phạm vi mà mình trách nhiệm. Việc xác định và tái xác định ấy – nếu được làm một cách nghiêm túc – không phải là một công việc êm ái thoải mái lắm cho chúng ta. Nó đòi chúng ta phải có sự nhiệt tình và khả năng để chấp nhận không ngừng khảo sát chính mình. Thế mà, khả năng ấy và sự nhiệt tình ấy thì lại không có sẵn nơi bất cứ ai…Phải có một bề dày kinh nghiệm đáng kể và một quá trình trưởng thành lâu dài chúng ta mới có được khả năng để nhìn thế giới và hiểu vị trí của mình trong thế giới một cách đúng đắn được. Và một khi đã nhìn và hiểu được như thế, chúng ta mới có thể xác định đúng đắn trách nhiệm của mình đối với chính mình và đối với cuộc sống xung quanh”[81].

IV. Chọn lựa theo lương tâm[82]

Khi phải đứng trước một chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng, hợp theo lý trí và luật Thiên Chúa, hoặc ngược lại, phán đoán sai.

Đôi khi gặp những hoàn cảnh không phán đoán chắc chắn được nên khó quyết định, con người phải luôn luôn tìm kiếm điều công chính và thiện hảo, cũng như nhận định đâu là thánh ý trong lề luật Thiên Chúa.

Muốn vậy, chúng ta phải cố gắng giải thích đúng đắn kinh nghiệm của mình và các dấu chỉ thời đại, nhờ vào đức khôn ngoan, lời khuyên bảo của những người hiểu biết cũng như sự trợ lực của Chúa Thánh Thần và ân sủng của Người.

Một vài quy tắc có thể áp dụng trong mọi trường hợp:

- Không bao giờ được phép làm điều xấu để đạt một kết quả tốt.

- Khuôn vàng thước ngọc:“Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” ( Mt 7,12; x. Lc 6,31;Tb 4,15).

- Đức ái Kitô giáo luôn luôn đòi chúng ta tôn trọng tha nhân và lương tâm của họ. “Phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm của họ... là phạm đến Đức Ki-tô” (1Cr 8,12). “Tốt nhất là tránh những gì gây cớ cho anh em mình vấp ngã” (Rm 14,21).

IV. Suy niệm và cầu nguyện đoạn Tin Mừng Lc 14, 25-33.

"Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, anh chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác tập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: 'Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc.' Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

V. Câu hỏi thảo luận

1. Nhà hiền triết Socrates đã nói: “Cuộc sống không ý thức không đáng sống”[83]. Theo anh chị, đâu là tầm quan trọng của Lời Chúa trong việc giúp chúng ta tìm được ý nghĩa cuộc sống?

2. “Chiến tranh đến từ sự thể hiện bên ngoài những xung đột bên trong chúng ta. Bạn hãy chỉ cho tôi một con người không có xung đột bên trong và tôi sẽ chỉ cho bạn một con người không hề biết đến bạo lực”[84]. Những bất nhẫn của ta thường bắt nguồn từ đâu? Ngoài hậu quả dẫn đến bất nhân, bất nhẫn còn có những hậu quả gì khác?

3. Leo Buscaglia nói: “Đôi khi một phút đau khổ dạy cho ta được nhiều hơn là mười năm huy hoàng”[85]. Những đau đớn do cuộc đời đem lại có giá trị gì trong việc giúp cá nhân trưởng thành?


 

BIẾT HÒA HỢP VỚI HIỆN TẠI

 

 

 

I. Tin Mừng theo thánh Luca 19,41-44

Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Đức Giê su khóc thương và nói: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không trông thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp lũy chung quanh bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm.”

II. “Hôm nay của Ơn Cứu Độ” theo Tin Mừng thánh Luca

Chữ “hôm nay”được tác giả Luca sử dụng đến 24 lần trong Tin Mừng và trong sách Công vụ Tông đồ. Chúng ta có thể nghe từ “hôm nay” từ lúc Chúa sinh ra đến khi Chúa sinh thì trên Thánh Giá đến 13 lần. Như vậy chữ “hôm nay” theo thánh Luca có mang ý nghĩa hiện tại của Ơn Cứu Độ. Nó mang tính chất thời sự vì “ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ"(Cv 4, 12).

Theo cái nhìn về các giai đoạn trong lịch sự cứu độ, Luca thấy giai đoạn sinh thời của Đức Giêsu là trung tâm điểm của thời gian. Đó là điểm quy chiếu cho mọi chiều kích của lịch sử cứu độ. Với cái nhìn đó, ngài đã trình bày gia phả của Đức Giêsu đi từ hiện tại ngược về quá khứ. Hiện tại đóng vai trò mới mẻ vì sự hiện diện của Đức Giêsu ở đó. Đức Giêsu luôn mãi là hiện tại trong Giáo Hội bởi tác động của Chúa Thánh Thần. Đời sống của người Kitô hữu tìm được ý tròn đầy bởi tính hiện tại của “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy đến muôn đời”(Dt 13,8). Với cái nhìn này mà cũng theo tác giả Luca, Giêrusalem vừa là điểm tới của Chúa Giêsu vừa là khởi điểm cho các Tông Đồ.

Chỉ trong cái hôm nay của Chúa Giêsu mà cái hôm nay của con người của chúng ta mới có một hy vọng tươi sáng. Những hy vọng đổi đời “hôm nay” của Thúy Kiều cũng không quá khó khi ở trong cái “hôm nay” của Đức Kitô:

“Trời còn để có hôm nay,

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời .

Hoa tàn mà lại thêm tươi,

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”[86].

Muốn để cho tính hiện tại của ơn cứu độ của Chúa Giêsu đi vào trong tâm hồn của mình, người Kitô hữu cần ‘nhận biết thời giờ’ qua việc hối cải và tin vào Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Đó là sứ điệp mà Giáo Hội không ngừng công bố cho con người mọi nơi và mọi thời.

III. Tin Mừng theo Mátthêu 9,14-17

Bấy giờ, các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?" Đức Giêsu trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai."

IV. Hòa hợp với hiện tại

Các môn đệ của Gioan đã có thắc mắc lý do vì sao Chúa Giêsu và các Tông Đồ không ăn chay. Họ đã không biết rằng việc ăn chay để mong đợi Đấng Cứu Thế đến không còn cần thiết nữa bởi Ngài đang hiện diện ở đây và lúc này ngay trước mặt họ. Điều cần thiết chẳng phải là ăn chay mà là thay đổi não trạng để đi vào thời đại mới mà Chúa Giêsu đã khai mở. Cơ hội được trao tặng cho con người không phải ở trong quá khứ hay trong tương lai mà ở ngay trong hiện tại, ở đây và lúc này.

Không ai có thể trưởng thành thay cho chúng ta. Chúng ta đừng để những vấn đề chưa giải quyết được của cha mẹ hay ai đó áp đặt trên đời ta và tước đi mất cuộc sống của riêng mình. Sự phóng chiếu của họ trên cuộc đời ta chẳng giải quyết được điều gì cho họ và cho mình. Quá khứ là những gì đã qua, hiện tại là cái ta đang sống, tương lai chỉ là một giấc mơ. Hiện tại là lúc mà phải tận dụng để dàn xếp các vấn đề đang làm khựng lại sự trưởng thành của chính mình. Cái Tôi quá khứ chỉ là dang dở, cái Tôi hiện tại phải được làm cho nó tròn đầy.

Không sống với hiện tại mà chỉ hướng đến tương lai, đời sống chỉ có thật nhiều những chữ nếu xa vời vợi[87]. Nó mang tính mai mỉa như câu ca dao đã nói: “Nếu nếu thì rều rệu cũng hóa mun lim”. Hạnh phúc đang cạnh bên nhưng ta đang mơ tưởng nơi xa xôi nào đó để thuyền lòng trôi bập bềnh về nơi ấy. Thời gian qua có bao giờ trở lại, cơ hội mất thật khó tìm lần hai. Ta không quên quá khứ cũng như có những dự định cho tương lai. Tuy nhiên cả quá khứ và tương lai phải được quy chiếu và được bắt đầu từ ngày hôm nay.

Trong quyển sách mang tựa đề “Stress, Sanity, and Survival – Căng thẳng, Sáng suốt và tồn tại” của mình, Woolfalk và Richardson đã đưa ra hai chỉ dẫn để giải phóng căng thẳng như sau: “Những cuộc chiến đấu trong đời chỉ thay đổi chứ không bao giờ chấm dứt. Bạn hãy ngừng ngay việc chờ đợi cái ngày mà ‘mình có thể an nhàn thảnh thơi’ hay cái ngày mà ‘mọi vấn đề của mình sẽ không còn’. Cái ngày ấy sẽ không bao giờ xảy đến đâu! Kìa, phần lớn các điều tốt lành trong cuộc sống của bạn đang lướt qua hôm nay - và chúng ngắn ngủi lắm. Bạn hãy thưởng thức chúng, cảm nếm chúng. Đừng phí thời gian ngưỡng vọng một hồi kết cục của mọi mối phiền não!”

“Quá khứ của chúng ta được chiếm lĩnh phần lớn bởi những bóng ma vốn không ích dụng gì cho cuộc sống hiện tại của chúng ta. Thường đó là những trường hợp bị chúng ta đổ lỗi là cớ sự của những thiếu thốn của mình, đó cũng có thể là những chuẩn mực của cha mẹ mà chúng ta cố sống theo một cách triệt để, hoặc đó cũng có thể là những hoài niệm không chính xác về ‘ngày xưa huy hoàng ấy’. Nói tắt, dồn hết tâm lực vào quá khứ là cướp mất của hiện tại niềm vui và sức sống.”[88]

Khi ta nhìn trở lại quá khứ với thái độ chấp nhận và tha thứ, thì tương lai của ta xanh lên màu hy vọng dạt dào. Đồng thời, ta cảm nghiệm được nhiều niềm vui và nhiều sự an bình hơn trong cuộc sống hiện tại. Kẻ ở lỳ trong quá khứ sẽ cố chấp trong việc tha thứ cho chính mình và cho người khác.

Sống cuộc đời viên mãn là sống cho tròn đầy cái hôm nay của mình. Đó là một sự tròn đầy bởi có sự hòa hợp Thiên địa nhân ngay trong lòng mình vì đã vượt qua được cái hôm nay của sự ngủ quên trong sự thiếu trưởng thành để không ngừng vươn lên mãi.

V. Tính quan trọng của hiện tại

Quá khứ, hiện tại và tương lai được phân biệt thật rõ ràng trong văn phạm. Thế nhưng trong đời sống tâm lý, nó lại chẳng đơn giản như con người đang giỡn với từ ngữ. Người ta sống trong hiện tại nhưng lại neo bám vào quá khứ, ở lì trong đó không chịu lớn lên hay chỉ trông mong điều viễn vông. In medio stat virtus, thái quá hay bất cập đều không tốt lành.

Theo tác giả Scott Peck những đứa trẻ thiếu tình thương khi còn nhỏ sẽ bước tới tuổi trưởng thành cách khó khăn. Đối với chúng, tương lai mờ mịt, bất quyết chứa đựng nhiều điều e ngại khiến chúng cố thủ trong hiện tại, lo lắng sợ hãi khi phải “quên đi chặng đường đã qua để lao mình về phía trước”(Pl 3,13)[89]. Cách sống mạch lạc và khôn ngoan đòi hỏi con người phải không ngừng lớn lên, có khả năng sống và hành động đầy nhiệt tình trong giây phút hiện tại nhưng lại biết hướng nhìn về tương lai với những cái mới mẻ và độc đáo của nó.[90] Đó là điều mà thần học gia Sam Keen đã mô tả như“một cuộc nhổ rễ đối với bản ngã[91].

Những điểm đặc trưng trong tâm lý của nữ giới đưa tới bất lợi trong đời sống tôn giáo, chẳng hạn: “xu hướng tự lừa dối mình, tính chất khả ám thị, tính dễ nên cơn chướng, tính nhõng nhẽo, tính bất định về cảm xúc và tính ưa phù phiếm của nữ giới”[92]có thể làm cho họ quên mất tính chất quan trọng của hiện tại khiến khó có được sự trọn lành thánh thiện. “Bạn hãy sống giây phút hiện tại. Đây là một trong những điều mà bạn sẽ cảm nghiệm được một khi bạn thức tỉnh”[93]. Cha Anthony de Mello nhắc nhở với những ai quên điều tốt đẹp và hạnh phúc đang có trong hiện tại để chỉ mong ngóng những cái không có ở tương lai:“Rồi tương lai, đến lượt nó, cũng lại là một cái bẫy khác!”[94].

Với tư cách là những lữ khách trên đường hy vọng đạt được ơn cứu độ, con người nên lưu tâm tới điều mà Đức Giáo Hoàng Piô XII nhắc nhở: «Trong hoàn cảnh hiện tại, con người tội lỗi rất cần đến ân sủng và mặc khải để nhận biết các chân lý tôn giáo và luân lý “một cách trọn vẹn, dễ dàng, chắc chắn và không pha lẫn sai lầm”»[95].

VI. Suy niệm và cầu nguyện

1. «Khi đến gần thành Giêrusalem và trông thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được."» (Lc 19:42).

2. Thánh Ambrôsiô nói: “Nếu mỗi ngày bạn lãnh nhận lương thực, thì mỗi ngày điều là ngày hôm nay cho bạn. Nếu Đức Kitô hôm nay là của bạn, thì mỗi ngày Người sống lại cho bạn. Làm sao lại như thế được? ‘Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con’ (Tv 2,7). Vì vậy, ngày Hôm Nay là khi Đức Kitô sống lại” (SGL 2836; 1165).

VII. Câu hỏi thảo luận

1. “Những băn khoăn của chúng ta về tương lai đôi khi làm cho chúng ta hành động một cách điên rồ trong hiện tại”[96]. Hãy chia sẻ những kinh nghiệm của anh chị về thái độ sống thiếu khôn ngoan ấy?

2. “Khi chúng ta loay hoay quá nhiều về tương lai, chúng ta sẽ hụt mất hiện tại”[97]. Theo anh chị, giây phút hiện tại quan trọng như thế nào trong đời sống làm người và làm con Chúa?


 

KẾT LUẬN

 

I. Truyền tin cho Đức Maria theo Tin Mừng Lc 1,26-38

Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

II. Ra đi xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống

Chúng ta có khuynh hướng đánh giá không đúng mức về các tiềm năng của mình. Chúng ta có thể lo rất nhiều việc khác nhau nhưng lại quên đi chính việc quan trọng nhất là tìm hiểu chính mình để điều chỉnh, bồi bổ, biến đổi và làm cho nó phong phú và tròn đầy. Chỉ khi có đời sống tròn đầy, con người mới trân trọng sự sống. Chúng ta có thể phí bỏ sự sống của chính mình khi bó mình lại trong một đời sống thiếu trách nhiệm với chính mình. Ngược lại, khi can đảm để nhận lấy trách nhiệm sống, chúng ta sẽ trở nên một con người tràn đầy sức sống và tình yêu. Chỉ khi sống hết mình, chúng ta mới dám làm “Tất cả là để phục vụ Vương Quốc Thiên Chúa, vương quốc sự thật, sự sống, công chính, yêu thương và bình an”[98].

Những bước mà chúng ta đã dõi theo qua 7 bước tựa như tiến trình tuần tự của một người trồng cây và chăm sóc cho chiếc cây đó sinh hoa kết trái:

1. Trồng cây: Nhận trách nhiệm đối với chính mình.

“Làm người là nhận trách nhiệm”[99].Chẳng ai có thể lãnh trách nhiệm sống đời con người thay cho chính chúng ta. Hạnh phúc hay khổ đau hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ sống hay chọn lựa của mỗi người chứ không phải do hoàn cảnh: “Ta chỉ có thể trả lời cho đời sống nói chung một khi ta biết nhận lấy trách nhiệm về cuộc đời của riêng mình”[100]. Sự thay đổi không bắt đầu từ bên ngoài nhưng phát xuất từ lòng mỗi người.

2. Chăm cây: Chấp nhận đầu tư chính mình.

“Không thể có sự thánh thiện, nếu không có sự từ bỏ và cuộc chiến đấu thiêng liêng”(SGL 2015). Con người lớn lên và trưởng thành hơn chủ yếu là nhờ ở sự đầu tư chính mình, đầu tư cuộc đời cho một nền văn minh tình thương và sự sống.

3. Cắt tỉa: Biết mở ra để thay đổi và phát huy nội lực.

Cởi mở là đem con người của mình ra khỏi chính mình để làm điều gì đó đúng đắn và hợp lý. Chỉ trong thực hành mà chúng ta có thể mở rộng nhận thức, khơi dậy tiềm năng và phá vỡ cái không dễ chịu vẫn bao bọc bản ngã chúng ta. Nhưng người thành công trong mọi lãnh vực là những người luôn biết sẵn sàng để vươn ra bất chấp sự khó chịu đến từ trong mình hay từ ngoại cảnh.

4. Bắt sâu: Biết thành thực để biến đổi nội tâm

Sự thành thực trong khiêm nhường giúp người ta ý thức các khả năng được ban cho mình, biết đảm nhận lấy nhân tính và thần tính của mình[101]. Sự thành thực tâm lý để chống lại những mặt nạ và những hệ thống tự vệ là điều kiện quyết định để lớn lên.

5. Nhổ cỏ: Biết giải trừ các nhãn hiệu

“Việc giải trừ nhãn hiệu là khả năng không cho phép các nhãn hiệu hạn định kinh nghiệm của chúng ta về nhân vị tính của mình và của người khác”[102].Mỗi người phải được đối xử như một con người dù chỉ là trong ý nghĩ.

6. Theo dõi: Biết phân định kinh nghiệm sống

“Chúng ta phải đều đặn dành thời giờ để xem xét lại từng kinh nghiệm của mình và suy ngẫm về cách mà các kinh nghiệm ấy đang hình thành nên con người hiện tại của chúng ta. Chúng ta phải cảnh giác để không mù loà trước sự thật – do bởi nỗi sợ đau đớn. Chúng ta phải tiếp tục khảo sát lòng mình”[103].

7. Can thiệp: Biết hòa hợp với hiện tại

“Bạn hãy sống giây phút hiện tại. Đây là một trong những điều mà bạn sẽ cảm nghiệm được một khi bạn thức tỉnh”[104].

Tiến trình của một đời sống tiến đến sự tròn đầy đòi hỏi phải dám đương đầu với những thách đố của cuộc sống, không tránh né để đảm nhận trách nhiệm sống, luôn biết phụng sự cho sự thật, có một đời sống quân bình và sống hài hòa với mọi người.

Khi chúng ta tiến xa hơn trong việc loại trừ chứng tự yêu nơi mình, loại trừ xu hướng qui ngã của mình, thì chúng ta càng nhận ra rằng mình không chỉ ít sợ chết hơn mà còn trở nên ít sợ sống hơn nữa! Tấm lòng chúng ta sẽ rộng mở hơn. Chúng ta không còn bị áp lực phải bảo vệ chính mình nữa. Chúng ta có thể ngước mắt lên, thôi nhìn mình, để thật sự nhận ra người khác. Và chúng ta bắt đầu cảm nghiệm một niềm hạnh phúc sâu xa mà trước kia mình chưa bao giờ cảm nghiệm được. Vì bấy giờ chúng ta ngày càng quên mình hơn nên chúng ta có khả năng nhớ đến Thiên Chúa hơn[105].

Chỉ khi có sự trưởng thành trong đời sống nhân bản, ta mới tiến tới “sự trưởng thành đức tin, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập mọi lãnh vực đời sống xã hội và văn hóa. Do đó có mối liên hệ mật thiết giữa sứ vụ loan báo Tin Mừng và việc phục vụ sự sống cùng sự phát triển con người toàn diện”[106].

Trong sự trưởng thành về mặt tâm lý cũng như về mặt tâm linh, chúng ta luôn phải học nơi gương Mẹ Maria. Mẹ là người đã sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm qua hai tiếng “xin vâng”. Mẹ để cho Lời Chúa lớn lên trong lòng Mẹ. Mẹ đã chẳng ngại đón nhận Thập Giá xảy đến trong đời Mẹ. Mẹ đã luôn sống giây phút hiện tại cách tròn đầy nhất. “Cùng với Mẹ, chúng ta hăng hái lên đường thi hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước chúng ta”[107].

III. Suy niệm và cầu nguyện

1. "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng"(Mt 11,28-30).

2. Leo Buscaglia nói: “Sống là một tiến trình năng động. Vì thế, nó chào mừng bất cứ ai đón nhận lời mời để trở nên một thành phần năng động của nó. Điều mà chúng ta gọi là bí quyết hạnh phúc chung qui chỉ là thái độ chúng ta sẵn lòng chọn lựa sự sống.”

3. “Rõ ràng là việc hành xử vai trò tác động trên căn bản yêu thương là một việc đầy thách đố. Tại sao đầy thách đố? Vì khi người ta càng yêu thương nhiều hơn thì người ta càng khiêm tốn nhiều hơn; và khi người ta càng khiêm tốn thì người ta càng dè dặt trong việc tác động, dẫn dắt người khác. Tôi là ai mà dám điều chỉnh, uốn nắn người ta?”[108].

IV. Câu hỏi thảo luận

1. “Một trong những dấu hiệu lớn nhất cho thấy một con người đang sống hết mình, đó là đương sự có can đảm để dám đưa ra những tuyên bố và những hành động hậu thuẫn cho sự sống”[109]. Ý tưởng đó quan trọng như thế nào trong hoàn cảnh văn minh sự chết trong xã hội hiện nay?

2. “Căn tính của sự hiền hòa không gì khác hơn là hiểu biết và cảm nhận chính mình đúng như sự thực của mình. Bất cứ ai thực sự biết và cảm nhận chính mình đúng như sự thực của mình thì đương nhiên sẽ hiền hòa”[110]. Theo anh chị đó có phải là điểm căn bản nhất của đời sống tu đức hay không? Tại sao?

3. Đối với những con người biết yêu thương đích thực, hành vi phản kháng và phê phán là điều mà họ rất dè dặt. Họ biết rằng phản ứng như thế rất dễ chủ quan và trịch thượng[111]. Anh chị nghĩ sao về người hay phê phán kẻ khác?

 

 
  Description: http://kingsenglish.info/wp-content/uploads/2011/10/foot+washing.gif


 

SÁCH THAM KHẢO

 

André Frossard, Đối thoại với Đức Gioan Phaolô II, Thời sự tôn giáo, tr. 233.

Anthony de Mello, S.J., (Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ), Thức tỉnh.

Bruno Ferrero, Genitori felici con il sistema di Don Bosco – Cha mẹ hài lòng với hệ thống của Don Bosco, Editrice Elle Di Ci, Torino 2004.

Dale Carnegie, Đắc nhân tâm, bí quyết của thành công, Nguyễn Hiến Lê va P. Hiếu lược dịch, NXB Tổng Hợp Đồng Tháp – 1994.

Elmer Wheeler, Muốn thành công trên đường đời, chương III.

Ernest L. Tan, Living Life Fully, requisites for Personal Growth and Change - Sống hết mình để trưởng thành nhân cách và thay đổi, Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ, Spiritus Works Publication, 2000.

Gioan Phaolô II, Tông huấnFamiliaris Consortio – Về những bổn phận của gia đình Kitô hữu, 22.11.1981, bản dịch của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Rôma – 2001.

HĐGM VN, Thư chung Hậu Đại hội Dân Chúa năm 2010.

HĐGM VN – UBGLĐT, Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2011.

Harriet Lerner, Ph.D., The Dance of Intimacy – Vũ điệu của sự mật thiết (Lm. Lê Công Đức dịch), Harper Paperbacks xuất bản, 1990.

Jean-Louis Bruguès, Từ điển luân lý Công giáo, mục “giả hình”, cuốn thượng, 225.

John Powell, Happiness Is an Inside Job – Hạnh phúc Là một Việc Bên Trong, Tabor, 1989.

Joseph Ratzinger – ĐGH Bênêđictô VI,Đức Giêsu thành Nazareth, phần II, từ lúc vào Giêrrusalem cho đến Phục Sinh, NXB Tôn Giáo, Hà Nội – 2011.

Marcel Neusch & Bruno Chenu, Tham quan xứ sở thần học, l.m. Nguyễn Hồng Giáo phiên dịch, 2004, 94-101.

Millball Demad, O.S.B.D.D., Tâm lý mục vụ thực hành, đóng góp tâm lý học cho các linh mục và các nhà giáo dục.

Morgan Scott Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, quyển 1.

Phanxicô, Tông huấnAmoris Laetitia – Niềm vui của Tình yêu, 19.03.2016, bản dịch của Văn phòng HĐGMVN,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Tp. HCM – 2016.

Richard P. Vaughan, S.J., Basic Skills for Christian Counselors – An Introduction for Pastoral Ministers – Tư vấn Mục vụ những Kỹ năng Căn bản (Lm. Lê Công Đức dịch), nhà Paulist Press, New York / Mahwah xuất bản, 1987.

Saint-Exupéry, Cõi người ta – Terre des Homme, Bùi Giáng dịch, Văn Nghệ, TP HCM – 2005.

Stephen R.Covey, A. Roger Merill, Rebecca R. Merill, Kim chỉ nam cuộc đời, NXB Phụ Nữ, Hà Nội – 1999.

Têrêsa Avila, Tiểu Sử Tự Thuật, 218.

Têrêsa Lê Thị Thanh Hằng, bài viết “Má ơi! Con yêu má” trong Gánh đời Mẹ, NXB Tôn Giáo, Sài Gòn – 2011.

Timothy M. Dolan, Priests for the third millelium - Linh mục cho ngàn năm thứ ba, người dịch: L.m. Micae Trần Đình Quảng, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2009, 144.

Trần Mỹ Duyệt, Ph.D., Vai trò khải dẫn tâm lý trong đời sống hôn nhân gia đình, trong tập Hôn Nhân và Gia Đình, Lm. Matthêu Nguyễn Khắc Hy, P.S.S. chủ biên, Antôn & Đuốc Sáng – 2015, 465-482.

Vũ Hữu Hiền, Nhân bản toát yếu, Giáo lý Giáo phận Sài Gòn.

William Barclay, Giải nghĩa Kinh Thánh, Phúc Âm Gioan II, Văn Phẩm Nguồn Sống Anaheim, CA, (Lưu hành nội bộ).

 

 

 

 

Bộ Giáo Dục Công Giáo, Những định hướng cho việc giáo dục về tình yêu nhân bản – Đề cương cho việc giáo dục giới tính, 01.11.1983.

Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngônPersona humana - về một số vấn đề liên quan đến đạo đức tính dục, 29.12.1975.

Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi các Giám mục Giáo Hội Công giáo về chăm sóc mục vụ cho các người đồng tính luyến ái,01.10.1986.

Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lýLumen Gentium – Về Giáo Hội, 21.11.1964.

Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụGaudium et Spes – Về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay, 21.11.1964.

Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnhPresbyterorum Ordinis – Sứ vụ và đời sống linh mục, 07.12.1965.

Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnhOptatam Totitus – Việc đào tạo linh mục, 28.10.1965.

Công Đồng Vaticanô II, Tuyên ngônGravissimum Educationis – Về Giáo dục Kitô Giáo, 28.10.1965.

Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnhPerfectae Caritatis – Canh tân đời sống tu trì, 28.10.1965.

Công Đồng Vaticanô II, Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo – Dignitatis Humanae, 07.12.1965.

Gioan Phaolô II, Thần Học về Thân Xác – Tình Yêu Phàm Nhân trong Kế Hoạch Thần Linh, người dịch: Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn, nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2016.

Gioan Phaolô II, Tông thư gửi người trẻ toàn cầu Parati Semper – Hãy luôn luôn sẵn sàng, 31.03.1985. 

Gioan Phaolô II, Tông huấnFamiliaris Consortio – Về những bổn phận của gia đình Kitô hữu, 22.11.1981, bản dịch của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Rôma – 2001.

Gioan Phaolô II, Tông thưMulieris Dignitatem – Phẩm giá người nữ, ban hành ngày 15.08.1988.

Gioan Phaolô II, Tông huấnChristifideles Laici – Kitô hữu giáo dân, 30.12.1988.

Gioan Phaolô II, Tông huấnRedemptoris Custos – Đấng chăm sóc Đấng Cứu Thế, 15.08.1989.

Gioan Phaolô II, Thông điệp Bách chu niên – Centesimus Annus, 10.05.1991.

Gioan Phaolô II, Thông điệpVeritatis Splendor – Ánh rạng ngời chân lý, 06.08.1993.

Gioan Phaolô II, Lá thư gửi các gia đình Gratissimam Sane – Lời chào thăm hết sức ưu ái, 02.02.1994.

Gioan Phaolô II, Thông điệp Sự sống con người – Evangelium Vitae, 25.03.1995, số 92.

Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae – Dạy Giáo Lý trong Thời Đại Chúng Ta, ban hành ngày 16.10.1979,

Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae – Dạy Giáo Lý trong Thời Đại Chúng Ta, 16.10.1979.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Catechismus Catholicae Ecclesiae - Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2011.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Công Đồng Vaticanô II, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2012.

Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, Hiến Chương về Các Quyền của Gia đình, 22.10.1983.

Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, Enchiridion della Famiglia, Documenti Magisteriali e Pastorali su Familia e Vita 1965-2004 – Tuyển tập về Gia đình, Các tài liệu Huấn quyền và Mục vụ liên quan đến Gia đình và sự sống, Edizioni Dehoniane Bologna, Bologna 2004, tr. 681-752.

Jean-Louis Bruguès, O.P., Từ điển Luân lý Công giáo, C.L.D.

Phanxicô, Tông huấnAmoris Laetitia – Niềm vui của Tình yêu, 19.03.2016, bản dịch của Văn phòng HĐGMVN,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Tp. HCM – 2016.

Phaolô VI, Thông điệpHumanae Vitae – Sự sống con người, 25.07.1968.

Phaolô VI, Tự sắcSanctitatis Clarior – Tổ chức lại diễn tiến án phong chân phước và phong thánh, 19.03.1969.

Ủy ban Phụng Tự, trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Sách Nghi Lễ Rôma, Nghi thức cử hành hôn phối, 20.02.2008, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2008.

 



[1]
Amoris Laetitia các số 239-240.

[2]X. Dietrich Bonhoeffer, Đời sống chung (Gemeinsames Leben), Munich, 1973, tr. 18.

[3]Amoris Laetitia số 320.

[4]Morgan Scott Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, quyển 1, tr. 19.

[5]Têrêsa Avila, Tiểu sử tự thuật, 218.

[6]Jeans Paul Sartre có lý khi nói rằng “tự do là bản chất của con người tôi”. Nhưng đó không phải là thứ tự do phóng túng mà là “khả năng con người được thật sự là mình và đạt tới sự sung mãn của mình” (Jean-Louis Bruguès).

[7]Amoris Laetitiasố 275.

[8]M. S. Peck, sđd, tr. 11.

[9]“Theo một nghĩa nào đó, nữ giới luôn luôn ấu thơ và giữ được tính tự phát, sống động và thẳng thắn tự nhiên của trẻ em. Vì vậy mà một nhà hiền triết nào đó có nói: ‘Phụ nữ là những trẻ em lớn’”. (Millball Demad, O.S.B.D.D., Tâm lý mục vụ thực hành, đóng góp tâm lý học cho các linh mục và các nhà giáo dục, tr. 79).

[10]Hải Trang, “Sống hết mình vì những điều mình mơ ước” trong https://tuoitre.vn/song-het-minh-vi-nhung-dieu-minh-mo-uoc-226821.htm [15.06.2018].

[11]"More the knowledge lesser the ego, lesser the knowledge more the ego.”

[12]Theo cách nói của cố linh mục Phêrô Hoàng Ngọc Dao(29/09/1945-22/03/2005).

[13]M. S. Peck, sđd, tr.5.

[14]Timothy M. Dolan, Linh mục cho ngàn năm thứ ba, người dịch: L.m. Micae Trần Đình Quảng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2009, 184.

[15]André Frossard, Đối thoại với Đức Gioan Phaolô II, Thời sự tôn giáo, tr. 233.

[16]Tiếng La tinh: “Vita communis est mea maxima penitentia”; tiếng Anh: “Life in common is my greatest penance”.

[17]Elmer Wheeler, Muốn thành công trên đường đời, Tế Xuyên lược dịch, chương III.

[18]Saint-Exupéry, Cõi người ta – Terre des Homme, Bùi Giáng dịch, Nxb Văn nghệ, TP HCM – 2005, 58.

[19]Sđd, 57.

[20]Têrêsa Lê Thị Thanh Hằng, bài viết trong Gánh đời Mẹ, Nxb Tôn Giáo, Sài Gòn – 2011, 9.

[21]Dale Carnegie, Đắc nhân tâm, bí quyết của thành công, Nguyễn Hiến Lê va P. Hiếu lược dịch, Nxb Tổng Hợp Đồng Tháp – 1994, 57.

[22]Viktor Frank, Man’s Search for Meaning – Con người tìm kiếm ý nghĩa trích lại trong Ernest L. Tan, Sống hết mình, Lê Công Đức dịch, 16.

[23]Scott Peck, Sđd, 34.

[24]Sđd, 39.

[25]Sđd, 44.

[26]Ernest L. Tan, Sđd, 17.

[27]TGM Timothy M. Dolan, Sđd, 144.

[28]Ernest L. Tan, Sđd,19.

[29]Bruno Ferrero, Genitori felici con il sistema di Don Bosco – Cha mẹ hài lòng với hệ thống của Don Bosco, Editrice Elle Di Ci, Torino 20046, 76.

[30]Ernest L. Tan, Sđd, 23.

[31]Harriet Lerner, Ph.D., The Dance of Intimacy– Vũ điệu của sự mật thiết(Lm. Lê Công Đức dịch), Nxb Harper Paperbacks, 1990,ch. 3.

[32]Richard P. Vaughan, S.J., Basic Skills for Christian Counselors – An Introduction for Pastoral Ministers – Tư vấn Mục vụ những Kỹ năng Căn bản (Lm. Lê Công Đứcdịch),NxbPaulist Press, New York / Mahwah, 1987, 81.

[33]Tác giả Thomson kể rằng có nhiều người sinh sống bẳng nghề đi tìm các kho tàng chôn giấu thời Alexander Đại Đế, có người vui mừng đến nỗi khi mới bắt gặp chỉ một đồng tiền bằng vàng thôi đã ngã ra bất tỉnh. (Cf. William Barclay, Phúc Âm Matthêô13,44; 202).

[34]Stephen R.Covey, A. Roger Merill, Rebecca R. Merill, Kim chỉ nam cuộc đời, NxbPhụ Nữ, Hà Nội – 1999, Phần một: Đồng hồ và la bàn, 13.

[35]Scott Peck, Sđd, 161.

[36]Amoris Laetitia số 95.

[37]Earnest L. Tan, Sđd, 30.

[38]Scotte Peck, Sđd, 222.

[39]Earnest L. Tan, Sđd, 31.

[40]André Frossard, Sđd, 7.

[41]Thánh Gregorio de Nisse, bài giảng 8; SGL 2015.

[42]Scott Peck, Sđd, 99.

[43]Richard P. Vaughan, S.J.,Sđd, 163.

[44]Sđd, 86, 118, 124, 154-155, 161, 178, 223; Scott Peck, Tín ngưỡng và ân sủng, 147.

[45]Marcel Neusch & Bruno Chenu, Tham quan xứ sở thần học, l.m. Nguyễn Hồng Giáo phiên dịch, 2004, 94-101.

[46]Joseph Ratzinger – ĐGH Bênêđictô VI,Đức Giêsu thành Nazareth, phần II, từ lúc vào Giêrrusalem cho đến Phục Sinh, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội – 2011, 346 – 349.

[47]Xuân Diệu,YÊU – 1935:

Yêu là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu .

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu ;

Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết ...

[48]Earnest L. Tan, Sđd, 39.

[49]Lm. Vũ Hữu Hiền, Nhân bản toát yếu, Giáo lý Giáo phận Sài Gòn, 1991, 11-12.

[50]Vô Danh, “Hiện tượng luận của E. Husserl và sự tự sáng tạo của chủ thể tư duy” trong http://cafesangtao.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1406&Itemid=23[xem ngày 28.05.2011].

[51]Earnest L. Tan, Sđd, 45.

[52]Ôn cố nhi tri tân (khả dĩ vi sư hĩ)" là lời nhắn nhủ của Khổng Tử (trong Luận Ngữ, chương Vi Chính).

[53]Earnest L. Tan, Sđd, 47.

[54]“Stretching challenges us to do something that seems right and reasonable, but from which we have always been inhibited by…” Cfr. John Powell, Happiness Is an Inside Job – Hạnh phúc Là một Việc Bên Trong, Tabor, 1989.

[55]Earnest L. Tan, Sđd, 55.

[56]William Barclay, Giải nghĩa Kinh Thánh, Phúc Âm Giăng II, Văn Phẩm Nguồn Sống Anaheim, CA, (Lưu hành nội bộ), 201-202.

[57]Scott Peck, Sđd, tập 1, 65.

[58]Earnest L. Tan, Sđd, 45-46.

[59]SGL 2482 – 2486.

[60]Jean-Louis Bruguès, Từ điển luân lý Công giáo, mục “giả hình”, cuốn thượng, 225.

[61]Earnest L. Tan, Sđd, 58.

[62]Nguyễn Du, Truyện Kiều (câu 1855 – 1856):

“Cùng chung một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.”

[63]Xem SGL 460.

[64]Đối chiếu với hai câu ca dao:

“Khôn ngoan quỷquyệt chết lao chết tù,

 Lủ khủ lù khù chết già chết rũ.”

[65]Earnest L. Tan, Sđd, 75.

[66]Ibidem64.

[67]Earnest L. Tan, Sđd, 74.

[68]William Barclay, Phúc Âm Luca 18,9-14, 248.

[69]Earnest L. Tan, Sđd, 82.

[70]Earnest L. Tan, Sđd, 87.

[71]Earnest L. Tan, Sđd, 89.

[72]Anthony de Mello, S.J., (Lê Công Đức chuyển ngữ), Thức tỉnh, bài “Lột cho đến tận cái Tôi”.

[73]SGL 2559.

[74]Anthony de Mello, S.J., Sđd, bài “Lột cho đến tận cái Tôi”.

[75]Anthony de Mello, S.J., Sđd, bài “Những rào cản hạnh phúc”.

[76]Earnest L. Tan, Sđd, 82.

[77]Anthony de Mello, S.J., (Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ), Thức tỉnh, bài “Những nhãn hiệu”.

[78]Earnest L. Tan, Sđd, 96.

[79]Earnest L. Tan, Sđd, 99.

[80]William Barclay, Phúc Âm Mt 12,31-33.

[81]Scott Peck, Sđd, tập 1, 37.

[82]SGL 1786 – 1789.

[83]Anthony de Mello, S.J., Sđd, bài “Nhận thức chứ không đánh giá”.

[84]Sđd, bài “Địa đàng tình yêu”

[85]Earnest L. Tan, Sđd, 98.

[86]Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 3121-3124.

[87]“Nếu mà không lấy đặng em, /Anh về đóng cửa cài rèm đi tu.” Hay “Nếu mà không lấy được nàng, / Anh chèo thuyền ra biển rồi vội vàng chèo vô.”

[88]Cfr. Earnest L. Tan, Sđd, 110.

[89]Scott Peck, Sđd, 20.Scott Peck, Tín ngưỡng và ân sủng, 143.

[90]Scott Peck, Sđd, 77.

[91]Sam Keen, “Hướng đến một Thiên Chúa đang múa nhảy”. Cfr. Scott Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, 90.

[92]Millball Demad, O.S.B.D.D., Sdd, 73.

[93]Anthony de Mello, Sđd, bài “Dính chặt vào ảo tưởng”

[94]Anthony de Mello, Thức tỉnh, bài “Ảo tưởng của ta về người khác” và bài “Làm sao để có hạnh phúc”.

[95]Piô XII, Humani generis; DS 3876.

[96]Earnest L. Tan, Sđd, 108.

[97]Earnest L. Tan, Sđd, 109.

[98]HĐGM VN, Thư chung Hậu Đại hội Dân Chúa năm 2010, số 2.

[99]Saint-Exupéry, Cõi người ta – Terre des Homme, Bùi Giáng dịch, Văn Nghệ, TP HCM – 2005, 58.

[100]Viktor Frank, Man’s Search for Meaning – Con người tìm kiếm ý nghĩa trích lại trong Ernest L. Tan, Sống hết mình, Lê Công Đức dịch, 16.

[101]Xem SGL 460.

[102]Earnest L. Tan, Sđd, 82.

[103]Earnest L. Tan, Sđd, 99.

[104]Anthony de Mello, Sđd, bài “Dính chặt vào ảo tưởng”

[105]Scott Peck, Bước tiếp trên con đường chẳng mấy ai đi, 80-81.

[106]HĐGM VN, Sđd, số 32.

[107]Như trên, số 48.

[108]Scotr Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, 215.

[109]Earnest L. Tan, Sđd, 112-113.

[110]Scotr Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, 208.

[111]Scotr Peck, Con đường chẳng mấy ai đi, 209.

Các tin khác

VIDEO

  nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daiveritas

  Emlalinhhoncuaanh

  Nhintuvatican

  Giaodanloanbaotinmung

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Thongdiepphucsinh2018

  Nhintuvatican

  DaiVatican

  Tổng thống Donald Trump nói về ân sủng Chúa

  Nhintuvatcan

  Daivatican

  Daichanlyachau

  Nhintuvatican

  NhintuvaticanDientu

  Nhintuvatican

  Nhintuvatican

  Daivatican

  ChanLyAChau

  ́́́́Tam muoi nam thanh lap giao phan Vinh Long

  Chanlyachau 8:30

  Chanlyachau

  Daicatican

  Nhintuvatcan

  Thoisu

  Thoisu

  Daiveritas

  Daiveritas

  LeGiangSinh

  Nhac Giang Sinh 2018

  Suyniemvoiducthanhcha

  Vatican

  tintucvatican

  LeAnTangDucCha Dom.

  Daivatican

  Veritas

  nhintuvatican

  Daivatican

  nhintuvatican

  Hangdakienlao

  Hangda

  Hangda2017

  Chanlyachau

  Nhintuvatican

  daivatican

  Chanlyachau

  Tintucvatican

  Bai Giang be mac

  Dien nguyen

  Be mac

  Khai mac dai hoi gioi tre 15 Thanh Hoa

  Van nghe giopi tre lan xv Thanh Hoa

  Dai phat thanh vatican

  nhintuvatican

  ky niem 40 nam linh muc

  Thánh Lễ Tuyên Thánh Jacinta và Francisco Marto

  Muối và ánh sáng

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Nghi thức đóng Cửa Thánh

  Xin Mẹ Thương

  Thế Giới Nhìn Từ Vatican

  Suy Niệm với Đức Thánh Cha Phanxicô

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__3

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__1

  Thường huấn HĐMVGX Giáo hạt Rach Giá 2014__2

  Thường huấn HĐMVGX Ban Mê Thuật

  Quốc tế thiếu nhi 01-6-2014

  Thể dục Dưỡng Sinh

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  Mục vụ Thể chất

  CƠM TRƯA TRUNG THU 2013

  Thi đấu thăng cấp sơ đẳng Vovinam

  Khai mạc kỳ thi thăng cấp Vovinam

  Vovinam

  Đào luyện tâm linh

  Nghệ thuật cân bằng

  Đào Luyện Tinh Thần

  Đào Luyện Thể Chất

Bài viết mới
Suy tư MVGĐ số 8 năm 2018: Tự do chứ không bị ép buộc
Suy tư MVGĐ số 8 năm 2018: Tự do chứ không bị ép buộc
Công bố tài liệu làm việc Thượng Hội Đồng Giám Mục về giới trẻ
Công bố tài liệu làm việc Thượng Hội Đồng Giám Mục về giới ...