Chuyện Đấng Thánh: Khi Đức Piô XII nằm xuống

 

Từ xưa đến nay, xã hội đời cũng như xã hội đạo, những phát hiện mới bao giờ lúc khởi đầu cũng bị chống đối, phải đi qua cái chết mới được Phục sinh. Lãnh vực tư tưởng cũng như trong cuộc nhân sinh nói chung, là một cánh đồng lúa tốt và cỏ dại cùng mọc với nhau, phải có thời gian đến mùa gặt mới có thể phân biệt rạch ròi.

 

VRNs (09.04.2014) – Hà Nội - Tóm tắt kỳ trước: 1958, Đức Giáo Hoàng Piô XII qua đời, uy tín lẫy lừng, nhưng ngài cũng để lại một số vấn đề tế nhị…

 

Câu hỏi hiện lên một cách rõ ràng hay mông lung trong tâm trí của rất nhiều người trong Giáo hội khi đó là tìm đâu được người nối tiếp sự nghiệp của một đấng kiệt xuất như Đức Piô XII? Đã yêu mến phong cách của ngài, thì phải nhận ngài là một đỉnh cao, khó lòng tìm được ai phát huy được như ngài sức hấp dẫn của phong cách đó. Nhưng còn một điều có thể coi là định luật tất yếu của nhân sinh: dù là vĩ nhân, dù là đấng thánh cũng vẫn có những giới hạn. Không ai, dù tài đức tới đâu, có thể đáp ứng mọi nhu cầu của Giáo hội hay của thế giới. Vĩ nhân hay đấng thánh vẫn để lại sau mình những vấn đề dang dở, phải nhường cho người khác giải quyết.

 

140409002

 

Cũng như nhiều bậc thiên tài khác, Đức Piô XII tập trung mọi quyền lực trong tay mình, lãnh đạo Giáo hội một cách cô đơn trong ngôi vị chí tôn. Ở nơi ngài có một nét kỳ lạ: một mặt ngài là người của công chúng, xuất hiện trước những biển người dào dạt kính yêu, thuyết giảng về mọi vấn đề quan hệ đến đời sống hiện đại. Không một hội nghị quốc tế chuyên biệt nào họp ở Rô Ma mà các thành viên không đến Vatican yết kiến ngài. Ngài đề cập mọi vấn đề, chính trị, văn hóa, khoa học, đạo đức, thần học… Đấy là hiện tượng của một người có kiến thức bách khoa. Nhưng sau những lần tiếp xúc quảng bá và huy hoàng đó, rút vào tư thất trong điện Vatican, ngài làm việc rất cô độc. Chính ngài nói ra: “tôi chỉ cần người thừa hành, không cần người cộng tác”.

 

Đã có người tìm cách lý giải trạng huống này. Sự cô độc này không phải do cá tính lạnh lùng sắt đá của Đức giáo hoàng. Trái lại, số người ít ỏi biết rõ ngài đều làm chứng ngài rất tình cảm. Nhưng chính tình cảm đó lại đẩy ngài vào thế cô độc. Các vị giáo hoàng kế vị nhau mà không giống nhau. Trước Đức Piô XII, Đức Piô XI là người rất thẳng tính, ngài có thể đập bàn quát mắng một vị hồng y. Đức Piô XII thì trái lại, rất tế nhị và tôn trọng người khác, ngài cũng dễ bị tổn thương khi người khác có thái độ tiêu cực đối với ngài, ngài cũng rất băn khoăn nghĩ ngợi khi phải làm phiền lòng người khác. Ngài lại thấy rõ ý tưởng của ngài sáng suốt hơn nhiều so với ý tưởng của người chung quanh. Họ thường hẹp hòi hoặc không thấu hiểu tất cả các khía cạnh của vấn đề như ngài thấy. Từ đó, trong hoàn cảnh ngài phải sống giữa một thời đại đầy những ý kiến trái chiều, trong giáo hội cũng như ngoài xã hội, và để tránh những dị biệt gây cho ngài nhiều phiền muộn u uẩn, ngài chỉ muốn một mình giáp mặt với Chúa và tự mình mang gánh nặng của mình.

 

Tướng Charles de Gaulle, người hùng của nước Pháp, cũng là một nhà chính trị đại tài và là nhà văn lớn, hình như đã nhìn ra điều tiềm ẩn nơi Đức Piô XII khi ông yết kiến ngài năm 1944: “Đức Thánh cha tiếp tôi. Đằng sau sự tiếp đón nhân hậu và những lời nói đơn sơ, tôi thấm thía vì tư tưởng của ngài có cái gì vừa mẫn cảm vừa mãnh liệt. Đức Piô XII phán đoán mỗi sự việc từ một quan điểm vượt tầm người đời, vượt những mưu đồ cùng tranh chấp của người đời. Nhưng ngài biết mưu đồ cùng tranh chấp như vậy thì phải trả giá thế nào và cùng một lúc ngài đau khổ với mọi người. Nhiệm vụ siêu nhiên mà trên đời này một mình ngài gánh vác, ta cảm nhận được nó nặng nề biết bao với tâm hồn ngài, nhưng ngài vẫn đảm nhiệm không mệt mỏi, xác tín vào mục đích, vững tin về đường đi. Cơn thảm họa đang khuynh đảo toàn cầu, ngài đã từng suy nghĩ và tìm hiểu, chẳng còn gì ngài không biết. Tư tưởng sáng suốt của ngài đã nhắm sâu vào hậu quả: cả hai ý thức hệ cộng sản và dân tộc quốc xã đang hoành hành trên một phần lớn địa cầu. Diệu cảm của ngài cho ngài thấy chỉ có đức tin, cậy, mến của Đức Kitô mới khắc phục được, ngay cả khi tin, cậy, mến bị vùi dập lâu dài ở khắp mọi nơi. Do đó, đối với ngài, mọi sự sẽ tùy thuộc vào đường lối của Giáo hội, Giáo hội làm gì, nói gì, phong cách thế nào? Cho nên Đấng mục tử coi đó là lãnh vực dành riêng cho mình. Ngài triển khai ở đó những thiên bẩm về quyền uy, về sức hấp dẫn, về hùng biện mà Chúa đã phú cho ngài. Đạo hạnh, trắc ẩn, chính trị theo nghĩa cao nhất của những từ đó, đó là điều tôi kính cẩn nhận ra nơi vị thượng tế, vị giáo hoàng này.” (De Gaulle, Mémoires de Guerre, Hồi ký thời chiến, 1956).

 

Chính vì cái lựa chọn “lãnh vực dành riêng cho một mình mình, một mình mình gánh vác’ đã làm cho ngài điều hành Giáo Hội một cách cô đơn. Làm Giáo hoàng 19 năm, ngài chỉ phong Hồng Y hai lần. Những năm thế chiến (1939 – 1945) thì có lý do là các nước đang tàn sát lẫn nhau, không thể triệu tập đại hội Hồng Y về Rô Ma được. Nhưng từ khi thế chiến chấm dứt, chỉ có hai lần phong Hồng Y, một lần năm 1946 và một lần 7 năm sau, 1953. Do đó, số các Hồng Y trong Giáo hội và ở Tòa thánh cứ thưa thớt dần. Đến khi ngài nằm xuống, trong số 21 chức vụ thường do một Hồng Y đứng đầu, chỉ còn 13 vị trí có Hồng Y quản nhiệm. Mọi sự vụ khác hình như Đức giáo hoàng trực tiếp chỉ đạo.

 

Thậm chí chức vụ quan trọng vào bậc nhất ở Vatican là chức vụ Quốc vụ khanh (tương đương như thủ tướng chính phủ) đã bị bỏ trống từ năm 1944 khi Đức Hồng Y Maglione qua đời. Từ đó, Đức Pi ô XII không có Quốc vụ khanh nữa, chỉ có hai thư ký phụ tá trong suốt 14 năm cho đến khi ngài qua đời.

 

Sự thưa thớt nhân sự ở Tòa thánh lại đi kèm với một đặc điểm trí thức và tinh thần của Rô Ma. Rô Ma là trung tâm quyền lực của Giáo hội Công giáo. Nhưng xét về mặt địa lý văn hóa thì nước Ý nói chung, Rô Ma nói riêng, không còn là trung tâm của sinh hoạt trí thức hay tư tưởng trên thế giới. Rô Ma chỉ mạnh về luật lệ, pháp lý, hành chính nhưng lại không nắm bắt được những vấn đề mà một thế giới phát triển như vũ bão đặt ra. Nói chung, có sự trì trệ về học thuật trong Giáo hội, hàng Giáo sỹ, các đại học, học viện ở Rô Ma có nhiều phần đã trở nên một tháp ngà cách biệt với thế giới bên ngoài. Tư tưởng của nhiều đấng bậc hình như dừng lại ở thời Trung Cổ kinh viện, với những công thức cô đọng sẵn, không liên hệ gì với những phát hiện và vấn đề mà người Tây phương đặt ra trong thời Cận đại và Hiện đại. Sự thể này tạo ra những thiếu thông cảm và căng thẳng giữa trung tâm Rô Ma và Giáo hội các nước đang tìm đường đi cho mình giữa những cơn khủng hoảng về mọi mặt của thế kỷ 20.

 

Minh họa cho sự thể này, xin trích một khúc ngắn trong nhật ký của nhà thần học nổi tiếng Yves Congar. Congar là nhà thần học người Pháp sau nhiều gian nan lận đận với các cấp thẩm quyền ở Rô Ma, sau này đã đóng góp khá nhiều cho Công đồng Vatican II và vào những ngày cuối đời được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II trao tặng Hồng Y để nhìn nhận công lao của ông đối với Giáo hội. Năm 1946, khi Congar đến thăm Rô Ma, các giới người Pháp ở đây đã nói khá nhiều về tình trạng tụt hậu về tư tưởng của nhiều đấng bậc trong Hội thánh. Congar viết : “cũng như mọi người khác, Đức ông Devresse nói với chúng tôi rằng trừ Đức Pi ô XII, Đức Ông Montini và một vài người họa hiếm khác, ở đây chẳng hề có sự cởi mở về mặt trí thức, chẳng ai nhận ra những vấn đề thế giới đang tìm kiếm và ưu tư”. (Congar, Journal d’un théologien, Nhật ký của một nhà thần học, 1946).

 

Như vậy tức là ở Rô Ma trên hết có Đức Giáo hoàng Piô XII, một trí tuệ lỗi lạc và quảng bác có khả năng vượt ra ngoài những công thức cố hữu thừa hưởng của quá khứ xa xưa. Tuy vậy, ngài vẫn thấy mình có nhiệm vụ giữ gìn cẩn thận truyền thống tư tưởng và di sản quá khứ. Bên cạnh ngài, có một người lỗi lạc và quảng bác nữa là Đức Ông Montini và lác đác đây đó một vài người cởi mở. Còn lại, kể cả các đấng đang nắm trọng trách và quyền bính trong Giáo hội đều sống trong một thế giới tinh thần khép kín đối với lối cảm nghĩ của thời hiện đại. 16 năm sau, sự bất cập này sẽ công khai nổ tung giữa công đồng Vatican II, và đây là vấn đề mà các đấng kế vị Đức Piô XII sẽ phải giải quyết.

 

Nhưng trong khi chờ đợi sự giải quyết trong một tương lai còn hơi xa, thì khá nhiều những sự đáng tiếc đã xảy ra. Có thể nói những người tiên phong đi về nguồn, về chiều sâu để rồi mở đường cho Dân Chúa, và nuôi dưỡng tâm linh và trí tuệ của thời đại, từ Teilhard de Chardin, M.D.Chenu, de Lubac, Congar… đều đã nếm mùi đọa đầy, kỷ luật, từ Rô Ma. Đức Piô XII sẵn tâm hướng cô đơn trước mặt Chúa, hay, như De Gaulle nói “Một mình mình gánh vác”, nên một mặt thì ngài thấy có vấn đề, nhưng mặt khác lại nghi kỵ với những ai có một giọng nói mới. Hầu như ngài chỉ yên tâm khi giọng nói mới ấy là của chính ngài. Người khác tư duy ngoài khổ thì ngài trăn trở liệu có trật đường, có đưa đến liều lĩnh, phiêu lưu… Những sự lo lắng, bất mãn của giới bảo thủ đối với các tư tưởng mới lại càng làm cho Đức giáo hoàng cảnh giác.

 

Từ đó, chỉ cần Đức giáo hoàng cảnh giác chung chung về một số khuynh hướng mà không nói tên ai, tác phẩm nào, trường phái thần học nào, như trong thông điệp Nhân Loại (Humani Generis) năm 1950, thế là đủ để một loạt biện pháp kỷ luật dồn lên đầu những nhà tư tưởng lớn, những thần học gia uy tín, nhiều giáo sư nổi tiếng có công đào tạo những thế hệ tương lai cho Giáo hội. Người thì bị cấm viết, cấm nói, cấm dạy học, người thì bị gửi đi lưu vong xa cách với môi trường làm việc và sinh hoạt tự nhiên của mình. Đức Ông Montini là người rất mẫn cảm và cởi mở, bênh vực nhiều cho các tư tưởng mới, nhưng trong cương vị thư ký riêng của Đức Piô XII, cũng không thể đi ngược đường lối chung, chỉ biết cố gắng chữa cháy phần nào bằng cách nói rằng: “Tòa thánh không nhằm lên án những điều đó như là những sai lầm thực sự, mà chỉ nhằm vào những lối suy nghĩ có thể mở đường đưa đến sai lầm, mặc dù tự thân các ý nghĩ đó vẫn đáng được tôn trọng”(Guitton, Đối Thoại với Đức Phaolô VI, Dialogues avec Paul VI, 1967).

 

Những nhân cách lớn ấy của Hội thánh Công giáo thế kỷ XX cũng không thể thoát khỏi một định luật Tin Mừng: Hạt giống gieo xuống lòng đất phải biến tan mới thành mùa vàng. Mấy năm sau, Công Đồng Vatican II đã công nhận giá trị tư tưởng của các vị. Có những vị như Cha De Lubac hay Cha Congar đã được Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II trao tặng Hồng Y để nhìn nhận những đóng góp lớn lao cho Hội Thánh. Đến lúc ấy, Cha De Lubac đã 87 tuổi, cha nhận mũ đỏ, nhưng xin không chịu chức Giám mục vì đã già yếu từ lâu. Cha Congar cũng vậy, nhận áo mũ bên giường bệnh ở Paris, chỉ nửa năm trước khi qua đời.

 

Từ xưa đến nay, xã hội đời cũng như xã hội đạo, những phát hiện mới bao giờ lúc khởi đầu cũng bị chống đối, phải đi qua cái chết mới được Phục sinh. Lãnh vực tư tưởng cũng như trong cuộc nhân sinh nói chung, là một cánh đồng lúa tốt và cỏ dại cùng mọc với nhau, phải có thời gian đến mùa gặt mới có thể phân biệt rạch ròi.

 

Trong lãnh vực mục vụ cũng có những vấn đề gay cấn. Tiêu biểu là vụ linh mục Thợ ở Pháp. Lúc đầu đó là một phong trào đầy quảng đại và phấn chấn, một lớp tông đồ trẻ muốn làm công nhân như các công nhân để đưa giai cấp công nhân về với Hội thánh, (ngày trước Đức Giáo hoàng Piô XI đã đau đớn kêu lên: “Hội thánh đã đánh mất giai cấp công nhân”). Nhưng vào cuộc rồi mới thấy Hội thánh chưa được chuẩn bị đầy đủ để thâm nhập lãnh vực mới này. Thời gian sẽ cho thấy đây không phải công việc dễ dàng mà là một con đường rất dài, ngày nay cũng vẫn còn nhiều khúc mắc phải giải quyết. Cuối cùng khi Rô Ma quyết định chấm dứt thí nghiệm linh mục Thợ, thì đã gây ra nhiều thảm kịch, nơi chính giới linh mục đó cũng như trong dư luận xã hội. Để cho giáo quyền địa phương tìm cách giải quyết dần liệu có kết quả khả quan hơn chăng? Câu hỏi không có trả lời…

 

Trên đây là tóm tắt vài lãnh vực khó khăn mà một triều đại Giáo hoàng lớn để lại cho đấng kế vị…

(còn nữa)

Mátthêu Vũ Khởi Phụng CSsR

Bài viết khác