ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN (P.1)

 

I. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN

VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG CỘNG ĐOÀN

 

1. Các mối tương quan.

Cộng đoàn phải xây dựng một mối tương quan đồng cảm với các ứng sinh. Thương hại là khinh bỉ những người đang gặp khó khăn; đồng cảm không chỉ là nhìn đến những người đang gặp khó khăn thôi, mà còn nhìn đến cả những người gây rắc rối nữa. Đồng cảm tự nó là một tiến trình chữa lành (Mt 11,28). Tình yêu thương huynh đệ lớn mạnh nhờ biết quan tâm tới tha nhân, nhờ việc truyền thông đích thật, nhờ tôn trọng sự độc lập của người khác và biết diễn tả tình yêu sâu sắc ta dành cho họ.

Các mối tương quan rất quan trọng trong việc đào tạo tu sĩ. Đâu là kế hoạch của Thiên Chúa đối với các mối tương quan? Thiên Chúa tạo dựng con người và ban cho họ quyền thống trị trên các thọ tạo khác (St 1,27-28). Cuộc sống chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào sự đón nhận, săn sóc, và các mối tương quan ấm cúng. Những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một trẻ em nào đó có thể trở nên dị dạng, méo mó và thậm chí chết nữa, nếu người ta cắt đứt mọi tương quan với nó. Thiên Chúa tạo nên con người để họ được yêu thương và tạo nên các sự vật cho người ta sử dụng; nhưng ta thường làm đảo lộn trật tự ấy.

Khi trẻ em không được yêu thương, có thể chúng sẽ bắt đầu ăn cắp. Khi những người lớn cảm thấy mình không được yêu thương, họ sẽ đi mua sắm các vật đắt tiền, và dìm mình vào trong các việc hời hợt bên ngoài. Họ cảm thấy thoải mái khi được trả giá cao. Khi hình ảnh về chính mình bị các mối tương quan phá vỡ, họ sẽ tìm cách bù trừ bằng việc mua sắm các thứ đắt tiền. Đây chỉ là những thứ thay thế. Điều gì sẽ xảy ra khi ta yêu các sự vật không thể đáp trả lại tình yêu của ta? Ta sẽ bực bội. Mỗi khi ta yêu một vật không tương xứng nào đó, ta sẽ bực bội. Chỉ khi yêu người, ta mới có được một cuộc gặp gỡ giữa người với người, một sự cho và nhận.

Điều răn thứ nhất của Thiên Chúa là “Hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi” (Đnl 6,4; Mc 12,30), và điều răn thứ hai là “Hãy yêu thương đồng loại như chính mình ngươi” (Lc 19,18; Mc 12,31). Ta thường yêu các sự vật hơn con người. Vì thế, nhiều người sợ không dám yêu, vì họ sợ bị loại bỏ. Ta cố thay thế sự loại bỏ này bằng các sự vật bởi các sự vật ấy không làm khổ ta; cũng không đòi hỏi nhiều. Ví dụ: yêu chó, yêu cây cối, xe cộ, tivi cách quá đáng.

Trong xã hội hiện nay khuynh hướng muốn sử dụng con người đang rất mạnh. Đức Kitô coi trọng con người và các mối tương quan của họ. Theo não trạng hiện đại, thì con người ít quan trọng hơn công việc họ làm. Thời gian và các cơ chế quan trọng hơn con người. Nhưng ta phải yêu thương những người trong cộng đoàn của ta. Họ chỉ phẫn nộ khi bị lạm dụng, bị đả thương. Khi ta sử dụng con người, ta đang nuôi dưỡng một tiến trình tha hóa, một sự hủy diệt và chia cắt. Khi ta tìm kiếm yêu thương, ta sẽ làm cho tiến trình ấy nhẹ bớt đi, vì khi ấy ta sử dụng những người đang yêu thương ta. Khi ta thường xuyên sử dụng họ, chắc chắn họ sẽ tìm cách xa lánh ta. Mối tương quan đích thật chỉ được xây dựng trên tình yêu và sự tin tưởng đích thật.

Cộng đoàn phải bao gồm sự truyền thông và các mối tương quan. Ta cần phải có một tương quan yêu thương với chính mình, với Thiên Chúa và với tha nhân. Khi ta bị tước mất mối tương quan ấy, đau khổ chắc chắn sẽ tràn vào trong đời ta. Yếu tố tốt nhất các bề trên và các nhà đào tạo cần khơi lên đó là phẩm chất và khả năng yêu thương. Tình yêu không phải là một cái gì đó trừu tượng. Yêu có nghĩa là làm cho mình nên yếu đuối. Để phát triển, điều thiết yếu nhất là phải mở ra với mình, với người khác và với môi trường, phải hướng về tương lai và về Thiên Chúa. Nếu ta không mở mình ra, ta sẽ bảo rằng Thiên Chúa đã chết. Trong một số cộng đoàn tu trì, các ứng sinh chỉ được huấn luyện để làm việc, để thành những người say mê công việc nhưng lại không huấn luyện họ cách tận hưởng tình yêu cứu độ của Đức Kitô, cách cử hành tình yêu của Chúa Giêsu. Các ứng sinh phải được huấn luyện nhờ mối tương quan của con người và của môi trường để có được một nhân cách lành mạnh và quân bình. Điều này nhắm tới:

- Mối tương quan thanh thoát và tích cực với những người trong cộng đoàn.

- Tránh mọi xung đột có thể xảy ra.

- Đạt đến sự trưởng thành tình cảm nhờ trao hiến chính mình và những cuộc gặp gỡ.

- Sự trưởng thành dần dần đối với tự do, và khả năng có những quyết định chắc chắn, dám lãnh trách nhiệm và lớn lên trong sự sáng tạo.

- Sự khôn ngoan nhân hậu với sự quân bình năng động và có tính sư phạm.

- Hướng tới tương lai của họ đến một chọn lựa ơn gọi chính xác.[1]

2. Các hiện tượng cộng đoàn:12 loại.

Charles Serrao đã khai triển 12 típ tương quan trong việc sống cộng đoàn. Sự phân chia này chỉ là một cố gắng làm sáng tỏ hơn vấn đề này thôi. Có lẽ ta không tìm được những phân biệt rõ ràng như thế trong cộng đoàn. Nhưng ta cũng có thể tìm được hai hoặc hơn hai trong số các típ tương quan này trong một cộng đoàn nào đó.

2.1. Mối tương quan đối lập– hai nhóm trong một cộng đoàn chống đối nhau. Đây là dấu chỉ của sự thiếu trưởng thành nơi các thành viên. Trong hoàn cảnh này, một số các cá nhân yếu hơn có thể dễ dàng bị lôi kéo vào một trong hai phe ấy. Trong trường hợp ấy, lợi ích của các nhóm thường không hòa hợp với lợi ích của cộng đoàn. Chỉ những người trưởng thành mới làm nên cộng đoàn được thôi.

2.2. Mối tương quan đối nghịch- ở đây, tương quan giữa các thành viên luôn luôn được trang bị bằng những cuộc tấn công mỉa mai, không có tình yêu. Không ai muốn học điều gì nơi người khác cả. Mọi người đều chống lại nhau. Cộng đoàn trở thành nơi đầy căng thẳng và xung đột.

2.3. Mối tương quan gây chiến– người ta tập trung chú ý vào quyền lợi đang bị tranh chấp, họ không có khuynh hướng chiến thắng mà là loại trừ. Mối tương quan này có tính phá hủy ngay trong bản chất của nó.

2.4. Mối tương quan băng nhóm– có nhiều kênh truyền thông khác nhau nhưng không có cái gì chung cả. Mọi sự đều là vì “bạn tôi”, vì “nhóm của tôi”, và “dự án của chúng tôi”. Đó là một khẩu hiệu không có tính gia đình chút nào và rất nên tránh.

2.5. Mối tương quan độc quyền– một thành viên nào đó của cộng đoàn có thể độc quyền trên người này hoặc người khác của cộng đoàn nhờ thái độ cha chú (họ là “các vị chúa biết hết mọi sự của tôi” và muốn bảo vệ tôi), hoặc nhờ thái độ biến người khác thành dụng cụ (sử dụng người khác cho những lợi ích của riêng mình).

2.6. Mối tương quan cô lập và thiếu tính xã hội- trong loại cộng đoàn này chỉ có im lặng và lạnh lùng thôi. Mỗi người chỉ biết tập trung vào mình, vào những vấn đề của mình, sợ cởi mở với nhóm của mình; các thành viên thường trải qua kinh nghiệm của việc bị hất ra bên lề.

2.7. Mối tương quan lạnh lùng– chỉ biết chú ý đến một vấn đề nào đó chứ không biết để ý đến con người. Trong mối tương quan này không còn những tình cảm sâu đậm với nhau nữa mà chỉ còn liên lạc hỏi tại sao trả lời vậy thôi. Con người bị bỏ quên, và luôn luôn có những nghi kỵ và sợ hãi.

2.8. Mối tương quan lãnh đạm- ở đây, các thành viên trong cộng đoàn không hợp tác và không sống cho nhau. Họ vẫn có thể vâng nghe sự chỉ dẫn của các vị lãnh đạo nhưng lại hoàn toàn lạnh lùng với linh hoạt viên của cộng đoàn.

2.9. Mối tương quan ổn định giả tạo– một hay nhiều thành viên của cộng đoàn chỉ biết bám vào ý tưởng của riêng mình; họ trở nên thiếu khoan dung, cứng nhắc và chỉ thích chỉ trích thôi. Khi liên hệ với nhau, họ thường trả lời đúng, nhưng bao giờ cũng nói lời hai nghĩa.

2.10. Mối tương quan hình tròn– mối tương quan này tùy thuộc vai trò của mọi người trong cộng đoàn. Mối tương quan này xoay quanh các nhiệm vụ và các chức vụ trong cộng đoàn chứ không xoay quanh con người. Cộng đoàn này có thể rất hời hợt và thụ động về bản chất, tuy bề ngoài họ có thể dựng nên những khuôn mặt thật tốt.

2.11. Mối tương quan giữa hai người– đây là mối tương quan giữa “you-you”, nghĩa là mối tương quan giữa hai người. Hai người gắn bó với nhau trong cộng đoàn. Đó là một nhóm nhỏ trong một nhóm lớn. Khi gặp những trường hợp này, ta có thể kết luận rằng cộng đoàn đang mất dần tác dụng.

2.12. Mối tương quan của sự truyền thông và tương tác lý tưởng– các thành viên đạt được một thái độ trưởng thành và một tính cách hoàn chỉnh nhờ gia đình và nhờ nền đào tạo tu trì. Sự tương tác của họ thì tự do và không hề có sợ hãi hoặc tự vệ.[2]

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

 

HỘI THỪA SAI VIỆT NAM


Bài viết khác