GIÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH

PHẦN THỨ NHẤT

 

ĐỀ TÀI III

TỪ  GIÁO HỘI LÀ “MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG”

LÀ “CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA”,

ĐẾN “GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ

MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN

(PARTICIPATORY CHURCH)”

 

 

 

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

            Giúp các học viên nắm bắt được những nét chính yếu và nổi bật nhất trong Giáo hội học ngày nay. Từ sau Công Đồng Vatican II, mỗi khi nói đến Giáo hội thì người ta không thể không trình bày Giáo hội là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn Dân Chúa và là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Trong ngôn ngữ tiếng anh là participatory Church: có người dịch là Giáo hội tham gia).

 

B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

I. PHẦN THAM GIA CỦA HỌC VIÊN:       

           1. Khi nói đến Giáo hội Công giáo, anh chị nghĩ đến cái gì trước nhất: cơ sở vật chất đồ sộ, tổ chức vững mạnh chặt chẽ, thành tích vẻ vang, tinh thần bất khuất hay điều gì khác?

            2. Tại sao trước Công đồng Vatican II người ta thường trình bày Giáo hội bằng hình kim tự tháp: Đức Giáo hoàng ở trên đỉnh cao chót vót; dưới ngài là các tầng khác nhau dành cho các giám mục, linh mục, tu sĩ và dưới cùng, ở đáy kim tự tháp mới là giáo dân. Hình ảnh ấy làm nổi bật điều gì? Có phù hợp với thực tại Giáo hội không? tại sao?

            3. Ngày nay Giáo hội thường được trình bày là cộng đoàn Dân Chúa, là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Giáo hội tham gia). Cách trình này mới này đúng hay sai? Tại sao? Anh chị thử  dùng một hình vẽ để trình bày Giáo hội theo quan điểm của Vatican II.

 

II. PHẦN DẪN Ý CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN:       

Quan điểm Thần học Công giáo phổ biến trước Công đồng Vatican II xem Giáo hội là hình ảnh Chúa Kitô. Đây là một quan niệm mà nhà thần học Y. Congar gọi là “Kitô nhất nguyên: Christomonisme”, nghĩa là đặt quá nặng vào khía cạnh cơ chế hữu hình mà bỏ quên mặt mầu nhiệm và bí tích của Giáo hội. Chính hai chiều kích  sau này mới thực là điểm đầy ơn ích, còn mặt cơ chế chỉ là diện, tức mặt nổi bên ngoài.

Sở dĩ nền Giáo hội học tiền Công đồng đi tới quan niệm thiếu sót đó là vì nhiều lý do:

- Sau khi được vua Constantin cho tự do, Giáo hội từ thế kỷ thứ 4 trở đi phát triển rất mạnh, tới độ cuối cùng đồng hóa luôn thế quyền vào giáo quyền. Phẩm trật cũng theo đó mà phát triển và uy quyền của một số hồng y, giám mục trở nên như những lãnh chúa.

- Cà̀ng phản ứng lại các thuyết đề cao mặt mầu nhiệm vô hình của Giáo hội cũng như chống lại chủ nghĩa bảo hoàng (muốn qui phục thần quyền vào thế quyền) Giáo hội thời Trung cổ lại càng cương lên về mặt cơ chế.

            Cho đến thế kỷ XX Giáo hội học dường như chỉ là những phản ứng chống đỡ các trào lưu bên ngoài, nhưng dựa trên một nền tảng phát triển đã mang phần lệch lạc. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XX, nhất là kể từ sau hai cuộc chiến thế giới, với khủng hoảng niềm tin vào cơ chế, với khuynh hướng quay về với tôn giáo sau những thất vọng của con người về lịch sử đồnng thời với sự thay đổi tâm thức của con người (khuynh hướng tục hóa gia tăng), Giáo hội đã quay trở về với chính mình, nhận chân và suy gẫm những khiếm khuyết sai lầm và nhất quyết trở về lại tinh thần Phúc âm ban đầu qua cuộc triệu tập Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II, vì vậy, có thể nói là một công đồng về Giáo hội. Giáo hội được quan niệm lại và toàn bộ nội dung được đúc kết trong hai Hiến chế: “Ánh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) và “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes). Lumen Gentium nói lên tính chất huyền nhiệm và bí tích, Gaudium et Spes diễn tả khía cạnh hữu hình nhập thế của Giáo hội.

   (Tài liệu Hướng dẫn Khóa Đào tạo cơ bản, Định Hướng Tùng Thư 1996, trang 9-11).

 

C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG

I. GIÁO HỘI LÀ MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG

1.1 Nền tảng Thánh Kinh:

         * Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời  họ mà tin vào con, dế tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,20-21);

         * “Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm gía chuộc mọi người” (1 Tm 2,5-6);

         * “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng; thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể. Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12, 4-6);

           * “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Kitô đòi hỏi. Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 15, 5-6);

          * “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau…..Họ đồng tâm nhất trí…” (Cv 2,44.45);

          * “Các tín hữu thời bấy giờ đông dảo mà chỉ có một lòng một ý…”(Cv 4,32).

 

1.2 Giáo huấn của Công đồng:

           “Vì Giáo hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên dựa trên giáo huấn của các Công đồng trước, Giáo hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới…..

            “Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài dã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Ađam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kiô Đấng Cứu thế, là ‘hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật ‘ (Cl 1,15).Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha ‘đã biết trước và đã tiền định cho họ trở nên giống hình ảnh Con Chúa hầu người Con đó được trở nên trưởng tử trong nhiều anh em’ (Rm 8,29).Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo hội”……

            “Như thế Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sư hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”  (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 1.2.4).

 

1.3 Khai triển của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”:

             “Vì Thiên Chúa đã muốn «toàn thể nhân loại trở thành một Dân của Thiên Chúa, làm nên một Thân Thể của Đức Kitô và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa nên trong thế giới này, Giáo Hội chính là «kế hoạch hữu hình của tình thương Thiên Chúa đối với nhân loại, là bí tích của ơn cứu độ» Bởi đó, không thể hiểu Giáo Hội như là một tổ chức xã hội hay cơ quan phúc lợi xã hội. Dù còn gồm chứa nhiều người tội lỗi, Giáo Hội vẫn phải được coi là môi trường ưu việt cho Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau, cũng là nơi Thiên Chúa chọn mặc khải đời sống mầu nhiệm sâu xa của Ngài và thực hiện chương trình cứu độ thế giới.

             “Mầu nhiệm kế hoạch tình yêu ấy của Thiên Chúa đã hiện diện và hoạt động trong chính cộng đoàn những người đã từng nhờ phép Rửa mà cùng được mai táng trong cái chết với Đức Kitô, để rồi cũng như Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết nhờ vinh quang của Chúa Cha, họ cũng được bước đi trong cuộc sống mới (x. Rm 6,4).Trọng tâm của mầu nhiệm Giáo hội chính là mối hiệp thông nối kết Đức Kitô Lang Quân với mọi người đã lãnh nhận phép Rửa. Nhờ sự hiệp thông sống động và có khả năng đem lại sự sống ấy, «các Kitô hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc hẳn về Chúa»  Một khi kết hợp với Chúa Con trong mối dây yêu thương của Thánh Thần, các Kitô hữu cũng kết hợp với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này mà các Kitô hữu được hiệp thông với nhau qua Đức Kitô trong Thánh Thần” Nếu thế, mục tiêu trước tiên của Giáo Hội là phải sống bí tích biểu hiện sự kết hiệp thâm sâu của con người với Thiên Chúa và, vì sự hiệp thông giữa con người với nhau xuất phát từ sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa nên Giáo hội cũng là bí tích của sự hiệp nhất của nhân loại. Nơi Giáo hội sự hiệp nhất ấy đã khởi sự. Nhưng Giáo Hội cũng đồng thời «là dấu chỉ và là dụng cụ» của sự hiệp nhất sẽ được hoàn thành trong tương lai.

              “Một đòi hỏi thiết yếu của đời sống trong Đức Kitô là bất cứ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả: «Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái» (Ga 15,5).Như thế, cũng đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì người ấy đã không ở trong sự hiệp thông: «Cành nào không sinh hoa trái thì (Cha Thầy) sẽ tỉa đi» (Ga 15,2).Hiệp thông với Đức Giêsu, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, chính là điều kiện rất cần thiết để sinh hoa kết quả; và sự hiệp thông với người khác, một món quà của Đức Kitô và Thánh Thần, chính là hoa quả tuyệt vời mà cành cây có thể sinh ra. Hiểu như thế thì hiệp thông và truyền giáo là hai việc không thể tách rời nhau. Chúng thấm nhập và bao hàm lẫn nhau đến nỗi «hiệp thông vừa là gốc vừa là hoa quả của truyền giáo: hiệp thông phát sinh truyền giáo và truyền giáo được hoàn thành trong hiệp thông» (số 24).

 

II. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA

2.1 Nền tảng Thánh Kinh:

             “Này đây sẽ tới ngày Ta ký giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa…Ta sẽ ban luật Ta trong lòng chúng và khắc ghi luật ấy vào trái tim chúng và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ trở thành dân Ta….Tất cả những người từ nhỏ chí lớn đều nhận biết Ta. Đó là Lời Chúa phán” (Gr 31, 32-34, được “Ánh sáng muôn dân” số 9 trích lại).

 

2.2 Giáo huấn của Công Đồng:

            “Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện. Vì thế Ngài đã chọn dân Israel là dân Ngài, đã thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần bằng cách tỏ chính mình và ý định mình qua lịch sử ấy, và Ngài đã thánh hóa họ để dành riêng cho mình. Tuy nhiên tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của giao ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Đức Kitô, và là chuẩn bị cho mạc khải trọn vẹn hơn do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể mang đến…..

            “Chúa Kitô đã thiết lập minh ước mới trong máu Người (x. 1 Cr 11,25),Người triệu tập dân chúng từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa” (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9)

 

2.3 Đặc điểm của Dân Chúa:

2.3.1 Dân Chúa có Đức Giêsu Kitô là thủ lãnh, là đầu:

            “Dân thiên sai này có vị thủ lãnh là Chúa Kitô, “Đấng đã bị nộp vì tội lỗi ta và phục sinh cho ta nên công chính” (Rm 4,25)và bây giờ Người được một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và đang hiển trị trên trời” (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).

2.3.2 Dân Chúa có địa vị:

            “Là được vinh dự và tự do làm con Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ”(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).

            “Những ai tin kính Chúa  Kitô….được trở thành một dòng giống dược tuyển chọn, thành hàng tư tế vương gỉa, dân tộc thánh, dân tộc được Thiên Chúa thu phục (x. 1 P 2,9-10; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).

2.3.3 Luật của Dân Chúa:

            “Luật của họ là giới răn mới: phải yêu thương nhau như chính Chúa Kitô dã yêu thương chúng ta (x. Ga 13, 34; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).

2.3.4 Cứu cánh của Dân Chúa:

            “Cứu cánh của họ tức là phát triển thêm Nước Thiên Chúa, đã được Ngài khai nguyên trên trần gian, cho tới khi được Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).

2.3.5 Dân Chúa tham dự chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Giêsu Kitô:

           “Chức linh mục cộng đồng của các tín hữu và chức linh mục thừa tác hay phẩm trật cùng tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình. ……Phần tín hữu, nhờ chức linh mục vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn , bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực”

           “Dân thánh Thiên Chúa cũng tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô bằng cách phổ biến chứng ta sống động về Người, nhất là qua đời sống đức tin và đức ái; và dâng lên Thiên Chúa của lễ ca tụng, hoa trái của những miệng lưỡi ngợi khen thánh Danh Người (x. Dt 13,15).

 

III. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN

3.1 Nền tảng Thánh Kinh:

        * Dụ ngôn những nén bạc:

        “Quả thế, cũng như người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến mà giao phó của cải mình cho hô. Ông cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào ỗ chôn giấu số bạc cuả chủ…..” (Mt 25,14-30).

     * Một Thân Thể, một Thần Khí, một Phép Rửa….  nhiều ân sủng:

      “Chỉ có một Thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng, Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người.

       Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho…(Ep 4, 4-7).

   * Đặc sủng tuy nhiều, nhưng chung một gốc:

    “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự̣ trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người8 mỗi cách, là vì ích chung…….” (1 Cr 12,4-30).

 

3.2 Giáo huấn của Công Đồng:

          “ Giáo hữu được qui tụ trong Dân Thiên Chúa và cấu thành Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô dưới quyền của một Đầu duy nhất; dù họ là ai, họ vẫn được kêu gọi dùng hết sức lực đã nhận lãnh do lòng từ ái của Đấng Tạo Hóa và do ân huệ Đấng Cứu Thế để như những chi thể sống động, phát triển và thánh hóa Giáo hội không ngừng” (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 33).

 

3.3 Triển khai tại châu Á:

         Khái niệm Giáo hội mà trong đó mọi người có phần và góp phần (cũng được gôi là Giáo hội tham gia hay dự phần) được Liên Hội đồng Giám mục Á châu và các Giáo hội tại châu Á rất coi trọng và triển khai trong việc thiết lập cơ cấu mục vụ (Hội đồng linh mục, Hội đồng mục vụ giáo phận, Hội đồng mục vụ giáo xứ) và xây dựng cộng đoàn (cộng đoàn Giáo hội cơ bản, cộng đoàn nhân sinh cơ bản). Khi triển khai “tính tham gia” hay “dự phần” của mọi thành phần Dân Chúa vào việc thực thi sứ mạng của Giáo hội, Giáo hội vừa sống tính mầu nhiệm hiệp thông và tính cộng đoàn Dân Chúa của Giáo hội vừa áp dụng tính dân chủ - là một trong những đặc trưng của xã hội văn  minh - vào sinh hoạt của Giáo hội.

 

D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG

“Giáo hội là cộng đoàn hiệp thông, cộng đoàn Dân Chúa, cộng đoàn mà trong dó mọi người có phần và phải góp phần.”

1. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của gia đình mình: 

1.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?

1.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?

1.3 Anh chị quyết tâm điều chỉnh gì để gia đình mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên gia đình?

2. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của nhóm (chia sẻ Lời Chúa, công tác xã hội…) hay cộng đoàn mình (hội đoàn, tu hội đời, dòng tu):  

2.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?

2.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?

2.3 Anh chị muốn đề nghị gì để nhóm hay cộng đoàn mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên nhóm hay cộng đoàn?

3. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo xứ mình: 

3.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?

3.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?

3.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo xứ thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo xứ?

4. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo phận mình: 

4.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?

4.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?

4.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo phận thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo phận?


 

Bài viết khác