Một Vài Gợi Ý Về Việc Sống Đạo Trong Văn Hóa Việt


 

Lm. Hoàng Sỹ Quý, SJ.

Như ai nấy đều biết, đã có nhiều học giả viết về văn hóa Việt Nam, viết từng cuốn sách một, và hẳn còn nhiều học giả khác tiếp tục nữa. Thế nghĩa là về văn hóa Việt Nam, có quá nhiều cái để nói, nên nói hoài không hết. Mà nếu có cái được nói rồi, thì vẫn có người nói lại được, nhưng khác đi. Bởi lẽ trong văn hóa, chẳng mấy khi có gì “sáng sủa và rõ ràng” hẳn như các ý tưởng của Descartes hay công thức toán học, hầu có thể chỉ đích danh: “Nó ở đây”, trăm phần trăm nó là thế này, chứ không như vậy.

Thế rồi còn những đổi thay nữa chứ. Văn hóa cũng là một thể sống nó sống với con người, mà để sống được, thì nó phải biến hóa luôn luôn, khiến cùng một vùng mà có cái khác nhau, cùng một thời mà cái mất cái còn. Như nước chấm chả hạn, tuy cả ba miền Trung Nam Bắc đều ăn nước mắm cả (khiến nước mắm trở thành một trong những nét đặc trưng của phong tục nước ta), nhưng Bắc thì để nguyên vị mặn, Trung thì chế ớt thật cay, Nam thì thêm ngọt cho dịu bớt. Còn nói về quần áo, nó gần như thay đổi từng tháng, từng ngày. Cái áo dài đặc trưng của người Việt, khi chùng thêm và thêm cúc, lúc lại cộc lốc, thậm chí ngày nay nam giới bỏ hẳn, mà nữ giới cũng đang tấp tểnh theo nam. Cả cái quần lĩnh đen và quần trúc bâu trắng cũng vậy. Đúng là toàn cầu hóa, hay nói cho đúng hơn, toàn cầu Âu-Mỹ hóa.

Chính bởi vấn đề khó thế và mênh mông đến thế, nên tôi đã xin được thu hẹp đề tài, thành “Một gợi ý về v.v”. Mà cũng không phải tất cả các làm Việt Nam, nhưng một nét gì đó của cách ấy. Cố nhiên là phải chọn cái gì sâu một tí, bởi lẽ càng sâu, càng chìm, thì nó càng tổng quát và đổi thay chậm chạp hơn. Như tâm thức (mentality) chả hạn. Vâng, dù Tây hóa đến đâu, người Việt và Á đông nói chung, vẫn có những phản những không giống Âu Mỹ. Người Tây thì, sau khi tranh cãi nảy lửa trong hội nghị rồi, vẫn rủ nhau đi uống cà phê tỉnh bơ, chứ người Việt ta thì sức mấy.

Có điều càng sâu, thì nét văn hóa ấy càng không rõ, khiến diễn tả và chứng minh không dễ gì. Và nếu khá sâu, thì nó càng dễ thuộc những vùng văn hóa lớn rộng. Như văn hóa Hy-La bao trùm cả Hy Lạp, La Mã lẫn các nước Latinh. Dĩ nhiên là Pháp chả hạn vẫn có những gì đặc thù của riêng Pháp, nhưng không vì thế mà Pháp lại không có những gì chung của cả vùng văn hóa Hy-La nói trên. Vùng văn hóa còn có thể lớn rộng hơn thế nữa. Nhất là khi C.G.Jung đưa văn hóa 1 vào sâu tới vô thức, ở đó tiềm ẩn các nguyên tiêu (arkhêtupos) thuộc đại gia đình của nhiều chủng dân, và các nguyên tiêu chung cho tất cả loài người.

Theo tôi, Việt Nam chúng ta nằm ở chỗ giao lưu của ba vùng văn hóa gốc: văn hóa Đông Nam Á phía dưới, văn hóa Ấn Độ mà ta chịu ảnh hưởng qua Phật giáo, qua tiếp cận với các quốc gia Ấn hóa xưa, như Phù Nam, Chân Lạp và Chăm, và cuối cùng, văn hóa Trung Quốc. Các văn hóa của các nước như Pháp đến sau cũng tác động không ít đến bề nổi hơn của chúng ta.

Ở đây, tôi chỉ xin chọn trình bày một cung cách sống và đánh giá rất mềm dẻo mà chúng ta có chung với Trung Quốc và một số quốc gia tiếp giáp Trung Quốc. Đó là Nguyên Lý và biện chứng Âm Dương nó chi phối tư duy và cách sống của chúng ta từ trong ra đến ngoài, từ cá nhân đến xã hội.

Chúng tôi sẽ trình bày bằng cách đối chiếu nó với cách nhìn biện chứng của Phương Tây khi họ tiếp cận thực tại. So sánh với người khác như thế sẽ giúp ta thấy chính mình rõ. Nói như vậy không có ý bảo người Việt khác hẳn người Âu Mỹ đâu. Ai nấy đều nghĩ đàn ông sống lý trí và đàn bà sống tình cảm, nhưng đâu phải vì thế mà đàn ông là thỏi sắt biết đi và đàn bà cần giải phẫu để cấy thêm cái đầu. Bằng chứng là còn có những phụ nữ siêu lãnh như Võ Tắc Thiên xưa của Trung Hoa và siêu thép như M.Thatcher gần đây của Anh Quốc.


BIỆN CHỨNG ĐÔNG TÂY ĐỐI CHIẾU TRONG HIẾU ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO

Để xây dựng một Kitô giáo mang bản sắc châu Á, đã có một số cố gắng, nhưng cá nhân và lẻ tẻ, nên chưa mấy thành công. Như Deleury sống như một bà la môn. Như Monchanin và Dom Le Saux đi vào lối tu và nhập định Ấn giáo. Như Lassalle mở hai trung tâm thiền bên Nhật.

Hội nhập văn hóa trong thần học thì vì khó, nên càng hiếm kẻ tham gia, trừ mấy gương mặt quen thuộc bên Ấn là Panikkar và Amalados, bên Sri Lanka là Pierris…

Có điều các vị này, cả mấy chục năm “trau dồi kinh sử” Tây, nên dù đấu với Tây, họ chỉ biết dùng súng Tây, nghĩa là dù suy Ấn hay suy Tàu, họ cứ áp dụng thứ biện chứng pháp họ quen rồi, nghĩa là hơn kém biện chứng pháp Hegel vốn thiên về loại trừ, đối kháng. Do đó, cái mà thần học Tây phương đã tìm ra thì họ muốn gạch đi, viết lại. Và vì Do Thái giáo, Hồi giáo và Kitô giáo xưa coi dân ngoại như kẻ thù, thì nay trong xu thế đối thoại, Amaladoss gần như muốn loại bỏ tính duy nhất của vai trò cứu thế nơi Chúa Giêsu. Riêng Pierris thì cùng với thần học châu Mỹ latinh, chỉ còn hiểu thứ ngôn ngữ giải phóng của Cựu ước (tách khỏi cách hiểu thiêng liêng hơn nếu quy chiếu về Tin mừng); ngược lại với Tây phương thời Trung cổ, do quá nhấn vào tính cánh chung của đạo mà quên rằng Thiên Chúa của chúng ta đã “thành thịt” giữa cõi trần này.

Chúng tôi không phủ nhận công mở đường lớn lao của các thần học gia nói trên cho một thần học châu Á còn quá non yếu. Chúng tôi chỉ xin lưu ý họ, là tránh đừng đi vào vết xe của Tây phương vốn quá nghiêng về  lý tính nên dễ dàng tuyệt đối hóa những kết luận. Chính vì lý do đó mà chúng tôi xin đưa ra đối chiếu ở đây hai cách tiếp cận thực tại của Đông và Tây, cũng là cách sống và đánh giá theo những suy nghĩ ấy.


NHỮNG CẶP ĐỐI NGHỊCH VÀ CÁCH NHÌN BIỆN CHỨNG BÊN TÂY

Để hiểu các thực tại, con người phải thống nhất chúng. Triết gia Hy Lạp cổ đã quy mọi sự vật vào những gì được coi là căn bản làm nên chúng, như nước, khí, lửa, như nguyên tử (atomos) hay đơn tử (monados). Để giải thích làm sao, những gì rời rạc và đơn giản như thế lại có thể làm nên những sự vật phức tạp như ta thấy quanh ta, thì Empedocle (thế kỷ V tr.c.n) đưa vô nguyên lý kép Tán-Tụ, mà ông gọi Ghét và Yêu, với những viên gạch phần nào đa dạng hơn, là Thuỷ, Hỏa, Thổ và Khí. Vâng, khi những viên gạch ấy kết tụ lại, thì có cái nọ cái kia thành hình, còn khi chúng rời ra để tụ lại theo cách khác, thì sẽ có những sự vật mới phát sinh.

Cách suy nghĩ như vậy cũng không có gì khác với Trung Quốc và Ấn Độ. Với học thuyết Sâmkhya Ấn Độ, thì sự tán tụ kia thực hiện trên năm loại gạch Thuỷ, Hỏa, Thổ, Khí, Âkâsa (ête), và, nền tảng hơn, trên tam cách Âm dương lực. Trung Quốc cũng chủ trương, rằng các viên gạch nền tảng nhất là âm dương, với lực tiềm sẵn trong âm dương rồi, khiến đối nghịch thành đối cực (polarisation), sinh bù trừ, hấp dẫn. Còn bớt nền tảng hơn, thì đây là ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hỏa Thổ.

S.Freud lấy lại ý tưởng về cặp đối nghịch Tán-Tụ hay Yêu-Ghét, mà ông gọi cách khác là Yêu-Diệt (Êrôs-Thanatos, với thanatos có nghĩa Chết), nhưng đưa nó vào giải thích sức năng động tâm sinh. Ai cũng biết con người do thể xác mà có hai bản năng: tồn sinh và truyền sinh, nhưng Freud quy hết về hai bản năng nền tảng hơn, là Yêu (hay sinh) và Diệt chúng chi phối mọi sinh hoạt của con người. Vâng, cũng như khi ăn, để thức ăn thành một với mình, rằng phải nhai và dạ dày nghiên nát nó, thì để người yêu thành một với mình, người ta cũng làm đau, thậm chí khi thanatos trội quá, có thể sinh sex-murder, tức dâm sát.

Nếu Freud mang cặp đối nghịch vào năng động tâm sinh libido, thì Hegel và Blondel lại đưa nó lên đầu, vào các ý tưởng. Vâng theo M.Blondel, thì “sức năng động của tâm trí kích sinh ra những ảnh tượng và ý tưởng tương phản”2. Thế nghĩa là nếu nghĩ đến Sáng, sẽ có Tối muốn xuất hiện. Và cũng thế đối với sống-chết, hữu-vô v.v. Riêng Hégel đã lợi dụng những ý tưởng đối nghịch từng đôi ấy để thiết lập một phép biện chứng nổi tiếng, tuy không thể nói là của chung phương Tây, nhưng tiêu biểu hơn cả cho cách suy nghĩ của phương Tây. Phép biện chứng này xướng nhất như sau: Hễ có Đề phải sinh Phản đề, để rồi trên nền tảng của hai cái giao nhau mà huỷ nhau đi sẽ sinh ra một cái mới: Tổng đề. Như thế, biện chứng Hégel nghiêng hẳn về loại trừ, đối kháng. Như đối kháng và loại trừ giữa Hữu và Vô. Hữu suông và Vô suông của Hégel chỉ là ý tưởng, mà gặp nhau thì tạo nên Biến dịch. Để cuối cùng chỉ Biến dịch như một thứ Tổng số mới là cái có thực. Để rồi ngay cả Tuyệt đối, Tinh thần, Thiên Chúa cũng chỉ là cái Toàn thể được tạo dần thành do liên hồi biến dịch của thiên nhiên bên ngoài và liên hồi ý thức (về thiên nhiên) của mọi tâm trí hợp kết lại. Nhìn nhận Biến dịch, Bergson cũng phủ nhận những thể đang biến dịch như thế. Và cũng thế, đã nhấn vào tính nội tại của Thiên Chúa, Spinoza phủ định tính siêu việt của Ngài luôn. Và cứ đà ấy, triết học Tây phương hễ nhận tinh thần thì phủ nhận vật chất, hễ nhận thân xác thì phủ nhận linh hồn, và ngược lại. Không phải hết thảy đâu, nhưng là số đông. Và thần học cũng có khuynh hướng giống thế. Như khi nhìn nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa, ngay thời đầu, họ đã gán cho Ngài một thân xác xem như không thực; nhìn nhận Phép rửa là cần để được cứu vớt, họ liền khinh thị lương dân; rồi nay coi có Thánh Thần hoạt động trong nhiều tôn giáo, không ít kẻ lại xem Tin mừng và Giáo hội là không quan trọng nữa.

Ngay trong lãnh vực sống đạo cũng vậy. Vào thời Trung cổ, vì quá đề cao mầu nhiệm thập giá, người ta hạ thấp những giá trị trần thế, như sức khoẻ, tài trí, thông minh, cùng với các giả trí lành mạnh; còn ngày nay khi đã quan tâm đến nhân sinh và môi trường, người ta lại quên mất tính cánh chung và siêu thế của cứu độ, quên rằng con người là những vị-thân (le pour-soi), nên không thể để con người gặp nguy hiểm. Trái lại, họ đã bảo vệ bằng mọi giá những mãnh thú có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào.


CẶP ĐỐI NGHỊCH VÀ CÁCH NHÌN BIỆN CHỨNG CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

Như Blondel phát hiện, người ta luôn tư tưởng trong những cặp đối nghịch như Sáng với Tối, Ác với Thiện, Trong với Ngoài, Có với Không v.v. Phương Đông cũng thế thôi.

Có điều nếu phương Tây thiên về lý trí, mà ý tưởng thì sáng sủa, rõ ràng, nên giới hạn rạch ròi, khó dung hợp nhau. Chứ phương Đông thiên về trực giác, cảm nhận, nên những cặp đối nghịch của họ dính sát với thực tại, nhất là với sự sống, do đó nghiêng về bù trừ hơn là mâu thuẫn. Chính R.N.Tagore cũng nhận định như thế, khi ông nói đến âm dương trong đối lập sinh hóa, cái mà sanskrit gọi là Dvandva (nhị lập)3.

Bởi thế, dù luân lý Khổng giáo chủ trương “Nam nữ thụ thụ bất thân”, người Á Đông vẫn ưa đối đáp nam nữ hai bè, như trong hát trống quân, hát quan họ, và cách hát này còn tìm thấy cả bên Lào và Vân Nam nữa.

Sự đối nghịch hướng hòa ấy sẽ đi vào mọi ngóc ngách của đời sống dù sinh lý hay tâm lý, dù luân lý hay xã hội.

Theo Hoàng đế nội kinh, vì khí dương thanh của trời và âm đục của đất giao cảm khiến cho sinh hóa, điều hòa, và cũng vì hai khí nói trên hợp lại với nhau mà làm nên con người chúng ta, nên khí sinh lý của chúng ta cũng phải tương thông với khí trời đất ấy thì sức khỏe mới tốt, chứ nếu mất thăng bằng âm dương thì cơ thể phải phát bệnh4.

Nếu ở trong tâm, thì sự thăng bằng và điều hòa ấy là giữa đức Nghiêm âm và đức Ái  dương, hoặc giữa Nhân thuộc dương và Nghĩa thuộc Âm 5. Còn trong thuật trị quốc, để dân an và thuận theo, thì vừa phải có luật pháp nghiêm minh, vừa phải có từ tâm và đức độ.

Lòng ưa xứng đối và hài hòa thấm nhuần sâu xa hồn người Việt, Hoa, đến nỗi nó thể hiện trong cả văn chương và nghệ thuật. Ở hội họa thì đó là sự hài hòa của sơn thuỷ, cùng với cỏ hoa chim chóc. Ở kiến trúc, thì đây là dựng chùa ở bên nước biếc non xanh, xây Càn thanh của vua đối xứng với cung Khôn ninh của hoàng hậu, với điện Giao thái ở giữa để có giao hòa như giữa đất trời. Còn ở thơ, thì đây là song đối. Vâng, sự song đối luôn phải có ở phần chính, phần quan trọng nhất của bài thơ thất ngôn bát cú hay song thất lục bát. Mà đối đây là đối cả ý lẫn lời (cùng với đối bằng trắc), và càng đối hay thì thơ càng tuyệt. Sau đây là một vài thí dụ quen thuộc:

Dấu xưa xe ngựa, hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.


Hay:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc (quốc quốc),
Thương nhà mỏi miệng cái da da (gia gia).


Người Do Thái thỉnh thoảng cũng đối đấy, nhưng chỉ đối lời mà không thêm ý, tức dùng lời khác để nói lại cùng một ý, rất thô sơ, như:

Con người là chi để Chúa nghĩ đến nó,
Con của loài người là gì để Chúa bận tâm về nó (Tv.8)


Hay:

Một cái chồi từ gốc cây Giessê đâm ra.
Một cái mầm từ rễ cây vọt ra. (Is.11.1)


Chẳng những có đối trong thơ, mà câu đối còn vượt ra ngoài khuôn khổ thơ, do một thứ sính câu đối của cả người Việt lẫn người Trung Quốc, để rồi có mặt ở những chỗ trang trọng nhất trong nhà cũng như vào những dịp lễ lớn nhất như Tết.

Cặp đối nghịch mà tương tác đã phổ biến từ xa xưa, dù chưa có tên Âm Dương, như bằng chứng tìm được trong Kinh Dịch. Căn bản thứ nhất của Kinh Dịch là các quẻ cùng với các vạch dài và vạch đứt. Vạch dài và vạch đứt, hay lẻ và chẵn, tiền thân của âm dương, sẽ nối kết với nhau mà làm nên các quẻ và tất cả. Thậm chí làm nên lưỡng cực âm dương bao quát nhất là Càn và Khôn, hay trời và đất, mà tất cả lệ thuộc vào, như một thứ Mệnh và Đạo.

Hai từ Âm Dương xuất hiện trong Đạo Đức kinh của Lão tử (thế kỷ V tr.c.n), xuất hiện mới chỉ một lần, ở mãi phía cuối, trong chương XLII: “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi bão dương. Xung khí dĩ vi hòa”.

Nhưng có lẽ Âm Dương có mặt từ rất sớm, như bằng chứng tìm thấy ngay cả trong Kinh Thi, Hoàng Đế trạch kinh, Dịch truyện (truyền) v.v.6


Kể từ đó, âm dương ngày càng được nói đến và nói rất nhiều, đến nỗi gần như không một dòng triết lý nào lại không bàn về âm dương hay dựa vào nguyên lý âm dương mà suy luận, suy không những về sự hình thành thế giới, mà còn về con người, về sự sống và đạo làm người, về cả thuật cai trị lẫn xem phong thuỷ.

Về tạo thế, người xưa coi nền tảng của tất cả là Khí: khí âm và khí dương. Nhưng khí để phân thành âm dương và biến hóa được thì nó lại cần đến Lý, cái Lý ấy là “Nhất âm nhất dương”, nghĩa là có âm phải có dương, chúng tương bằng với nhau và tương tác vào nhau để có Xung hay kích động, mà cái đích của sự xung biến không phải là tan, loạn, nhưng Trung hòa: “Vạn vật đều cõng âm bồng dương, do xung nhau mà có được hòa” (Đạo Đức kinh, ch.42). Vâng, trong bất cứ triết thuyết âm dương nào, người ta cũng gặp Dĩ vi hòa, giống như Đạo Đức kinh.

Với Hoàng Đế nội kinh, khí là bản nguyên của thiên địa nhân, nên “khí tương đắc tắc hòa, bất tương đắc tắc bệnh”7.

Với Hoài Nam tử (178-122 tr.c.n) thì “Âm dương giả, thừa thiên địa chi hòa” (Khí, tr.128-129).

Với Đổng Trọng Thư (179-104 tr.c.n), nguyên khí là gốc của thiên địa nhân, mà đặc tính của nguyên khí là (hướng về) Thuận hòa hay Trung hòa. Mà để có trung hòa thì phải có thăng bằng âm dương: “Hòa giả, thiên chi chính (cốt yếu) dã, âm dương bình dã”8. Và sự thăng bằng âm dương ấy phải diễn ra trong trời đất để có mưa thuận gió hòa, để rồi nương theo đường trời phải diễn ra trong xã hội để có thịnh vượng và bình ổn, và đây là phép cai trị đúng đắn gọi là Vương chính. 9


Với Thái bình kinh (bộ sách kinh điển của Đạo giáo thời Đông Hán) thì “Âm dương cốt ở trung hòa. Đạt tới khí trung hòa thì vạn vật sinh sôi, nhân dân hòa thuận, vương trị thái bình”.10

Với Chu Hy, “âm dương biến hóa” khiến “vạn vật sinh sinh” (Chu tử ngữ loại, quyển 74).

Khổng tử, tuy không nói gì về âm dương trong Đại học và Trung dung, nhưng cái hướng Trung hòa của âm dương rất rõ trong toàn cuốn Trung dung, nhất là ở câu: “Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, Hòa là chỗ đạt đạo của thiên hạ. Trung hòa đến hết mức thì trời đất yên vị và vạn vật sinh hóa định ổn”. Còn trong Kinh Dịch thì ở Hệ từ thượng (nếu quả Hệ từ là do đức Khổng viết), ngài cũng nói rõ: “Nhất âm nhất dương chi vị đạo” sẽ sinh biến hóa ổn định mãi mãi, “Sinh sinh chi vị Dịch”, để sống theo đó thì là Thiện, thành được theo đó thì là Tính.

Trung hòa nói đây không được hiểu là Tĩnh hòa, hay do Tĩnh mà có, nhưng Động hòa và do Động mà nên: “Xung khí dĩ vi hòa”, nghĩa là do xung động tương giao tương tác giữa hai khí âm dương, khiến hòa đây là sinh sinh biến hóa một cách điều hòa, ổn định. Sở dĩ âm dương xung tác mạnh như thế, vì đối nghịch âm dương không chỉ là đối nghịch ý tưởng lạnh lẽo, mà đối nghịch phân cực (polarisation), như trong lãnh vực điện từ ấy.

Ấn Độ cũng chủ trương biến dịch do tương tác âm dương, với lực (rajas) đã tiềm sẵn trong âm (tamas) và dương (sattva) để có sự hấp dẫn và tương tác đó. Cho nên, tuy ba đấy mà là hai, để tất cả thành nhị lập, dvandva, khiến bù trừ mà sinh sinh hóa hóa.

Vậy, như trên đã nói, đạo âm dương chính là Dịch đạo vậy: “Sinh sinh chi vị Dịch”, “Âm dương tương thôi nhi sinh biến hóa”. Dịch và biến hóa đấy, nhưng không trong xáo trộn mà điều hòa: “Âm dương biến hóa, vạn vật sinh sinh”, với sự tương giao và tương bằng của “Nhất âm nhất dương”. Giống như bốn mùa điều hòa thay đổi, cứ âm cho đến cực là mùa đông thì lại dương lên, dương cho đến cực là mùa hạ thì lại âm tới, cốt cho không gì khắc nghiệt quá. Thật ra thì trời đất hướng về Sinh: “Thiên địa chi đại đức, viết Sinh”, nên cứ để tự nhiên đi thì thiên nhiên biết tự điều chỉnh, để hễ “cùng” thì “tắc biến” để “biến tắc phản” và “phản tắc thông”.

Quả đúng Sinh là sức mạnh lớn nhất của trời đất, khiến cho từ khoáng chất phải sinh ra sự sống, và sự sống ấy tự bảo vệ mình bằng dị ứng, hệ kháng thể, tự phát triển bằng bản năng truyền sinh và tiềm năng tiến hóa hướng về những giống loại ngày càng phức tạp và hoàn hảo hơn, như ngày nay khoa học cho thấy rõ.

Sở dị phương Đông chủ dịch hiếu hòa, hẳn là vì họ nhìn ra sự đối nghịch từng cặp không qua tư tưởng cho bằng qua sự sống với sự giao hợp đực cái và gắn bó nữ nam. Mà đây là đối nghịch không loại trừ, nhưng bù trừ, vừa sâu đậm vừa phong nhiêu. Và đấy là một cái nhìn biện chứng thật sống động, với đích tới là sinh hóa và trung hòa.

Tuy bắt nguồn từ sự sống, mà cái nhìn âm dương kia không dừng ở sự sống, nhưng vượt sự sống về phía những cảnh giới cao siêu và vô cùng bao la, chúng bao trùm hết, từ đất lên trời, từ ngoài vô nội tâm, từ cá nhân sang xã hội. Và đấy là Nguyên lý siêu hình, nguyên lý siêu hình Âm dương, do tác động của nó mà càn khôn liên kết, để rồi tất cả phải nương theo đạo trời đất ấy mà đi vào con đường thái hòa. Vâng, chúng ta đã bước sang lãnh vực của Hình nhi thượng, khiến chẳng những âm dương có mặt trong Khí và Tâm, mà còn trong Lý và Đạo nữa. Vâng, có triết gia đặt âm dương trong khí hay tâm, có triết gia trong lý hay đạo, với khí có trước lý hay lý có trước khí, nhưng lý và khí luônlà hai phạm trù đồng đại, không thể thiếu nhau trong việc hình thành và biến hóa của tất cả. Thế nghĩa là nếu Khí là nền tảng của vật chất, thì Khí cũng không thể hiện diện và biến hóa nếu không trong đường đi và quy luật, nghĩa là dưới tác động của Lý. Vâng, cả Lý và Khí đều cần cho nhau.

Tuy Chu Hy lấy Lý làm gốc của Khí, với Lý có trước Khí, nhưng ông cũng cho rằng Lý không thể hiển ra khi chưa có Khí đi cùng. Nếu Khí hiển là khí âm khí dương, thì Lý hiển lại là Nhất âm nhất dương để âm dương tương xung mà sinh biến hóa. Để rồi liền sau đấy, thể hiện kế tiếp của Lý sẽ là các quy luật. Vâng, Lý được xem như thụôc Hình nhi thượng và Khí thuộc Hình như hạ, chúng phải dựa vào nhau và tương tại với nhau, mật thiết đến nỗi không thể không có Khí để Lý dựa vô, không thể  không có Lý để Khí hiện thể và biến hóa (Xx. Khí, tr.365-374).

Ngô Trừng cùng chủ trương với Chu Hy, tuy coi Lý là chúa tể của Khí, nghĩa là nó điều khiển Khí, nhưng Lý Khí phải tương tại mà thành Đạo âm dương của trời đất, của cả đời sống sinh lý lẫn tâm linh. Mà không phải chỉ Khí mới âm dương, cả Đạo và Lý cũng âm dương luôn, thành: “Đạo âm và dương của trời, đạo mềm và cứng của đất, đạo nhân và nghĩa của con người”. Bởi thế, để tất cả biến dịch trong tương thông và ổn định, thì dù nơi vật hay người, dù trong tâm hay ngoài thế, tất cả phải đi vào quy luật âm dương. (Lý, tr.399-403)

Đổng Trọng Thư trước đó cũng coi Lý là Lý âm dương luôn (Lý, tr.135,138). Mà âm dương thì hướng về Bình, tức tương bằng, với Trung hòa là đích nhắm. Do đó, dù trong thuật dưỡng sinh hay vi chính, không thể không cố đạt sự bình ổn âm dương. Có điều trong vi chính, tức cai trị, và có lẽ trong những địa hạt khác cũng thế, Đổng Trọng Thư luôn chủ trương, rằng dương phải nhỉnh hơn âm một tí thì mới tốt; như để dân an, ta phải dùng đức (dương) nhiều hơn là hình (hình phạt, âm). (Lý, tr.137-138)


NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ BIỆN CHỨNG ÂM DƯƠNG

Qua những trình bày và phân tích trên, chúng ta rút ra được những đặc điểm sau đây của luật âm dương:

1. Hướng hòa. Dù âm dương được nhìn trong hỗ tương đối nghịch, nhưng đối nghịch có nhiều loại: đối nghịch bù trừ như giữa nam và nữ; đối nghịch loại trừ như giữa sáng với tối, ác với thiện, hữu với vô; đối nghịch kháng nhau tích cực như giữa nước với lửa. Đối nghịch âm dương xem ra bao trùm mọi thứ đối nghịch ấy, nhưng nghiêng hẳn về bù trừ và dung hòa, như chính hương vị âm dương nói lên và các học thuyết âm dương tỏ rõ. Vâng, biện chúng âm dương không hướng về tương diệt âm dương, để từ đó sinh ra cái mới như trong biện chứng Hégel, mà hướng về hòa hợp âm dương như giữa cái với đực, từ đó có sinh sinh hóa hóa.

2. Chủ dịch. Vâng, như bốn mùa đẩy nhau để có dịch chuyển, như nam nữ hút nhau để có hóa hóa sinh sinh: “Sinh sinh chi vị Dịch” mà!

3. Lạc quan: Hướng sinh, không hướng tử. Không như S.Freud đặt Erôs (Yêu tức Sinh) và Thanatos (Tử hay Diệt) ngang bằng nhau, Khổng tử trái lại nói về Sinh như cái đức lớn của trời đất, trong khi Đổng Trọng Thư chủ trương dùng đức nhiều hơn hình phạt để cai trị, còn các nhà âm dương luận nói chung thì luôn thuyết về sinh hóa, chứ không nhắc gì đến tử. Thế nghĩa là Á Đông có một cái nhìn thật lạc quan về biến dịch, coi Tử hay Tán chỉ là chiếc cầu nhún để vượt về phía Tụ và Sinh, y như đông tới chỉ là bước phải qua cho xuân xuất hiện.

4. Thiếu hướng cách mạng? Biện chứng âm dương nhắm đích trung hòa, nên xem ra không ưa loạn và cách mạng. Có điều khi tiên liệu “cùng tắc biến, biến tắc phản”, học thuyết cũng đã tiên liệu có loạn và cách mạng nếu không đi vào sự quân bình âm dương, do đó phải tránh những gì cực đoan. Nghĩa là thuyết âm dương muốn ngăn ngừa loạn bằng cách không gây mầm loạn, thế thôi. Riêng với cá nhân, khi công thành danh toại đến đỉnh rồi, họ phải tránh “cùng tắc biến” bằng cách lui về ở ẩn, để khỏi “trèo cao ngã đau”.

5. Thiếu hướng tiến bộ? Do hướng trung hòa và chủ trương điều hòa giống như trong chu kỳ bốn mùa tiếp nối, xem ra biện chứng âm dương thiên về ổn định, hơn là tiến hóa với những bước nhảy vọt giống như trong biện chứng Hégel. Có điều nó cũng không chống lại một tiến hóa điều hòa theo đường lối tự nhiên của trời đất.

6. Hướng trung dung. Chính vì “cùng tắc biến”, nên đạo âm dương là đạo Trung, nó đòi phải ngay thẳng, khách quan, đồng thời tránh những gì thái quá hay bất cập. Theo thuật dưỡng sinh, nếu dương khí quá thịnh thì âm sẽ suy: tình trạng Cách (nghẹt); trái lại nếu âm khí dư thì dương suy: trạng thái Quan (đóng lại).11

Tuy âm dương đòi “Nhất âm nhất dương” nên cân bằng, nhưng phương Đông thường nhấn vào âm – hay nói cho đúng, nhu- hơn. Bởi thế trong cai trị, các học giả nghĩ rằng phải Ái, Nhân, Từ hơn là Hình và Pháp. Nếu họ xếp Ái và Nhân vào vị thế dương, thì thật ra, Ái và Nhân thuộc nhu, nên đúng ra là âm mới phải. Mà đạo Nhu thì được nhấn mạnh và đề cao suốt tập Đạo Đức kinh, được đưa áp dụng trong võ Judo và Thái cực.

7. Tính tương đối của âm dương. Âm hay Dương không hề có Âm tuyệt đối hay Dương tuyệt đối. Nghĩa là hễ có Âm liền có Dương, và ngược lại. Nghĩa là âm và dương sóng đôi với nhau và “tương đối” với nhau, tương đối đến nỗi, xét về Lý, thì mỗi bên chỉ là những thế (đứng) đối với bên kia, nên thay đổi tuỳ theo bên kia, cũng như tuỳ theo môi trường và hoàn cảnh. Như ngoài hè là sáng (dương) đối với trong nhà, nhưng lại là tối (âm) đối với ngoài nắng; như gỗ là cứng (dương) đối với bùn, nhưng lại là mềm (âm) đối với đá. Quả đúng thế, như Hoàng Đế nội kinh nói, ở cơ thể con người có khí trong (dương), khí đục (âm), nhưng riêng ở khí trong, cũng có chỗ bớt trong thành âm, và ở khí đục, có chỗ bớt đục thành dương (Khí tr.112). Bởi thế, kẻ có cái nhìn biện chứng âm dương thì luôn trọng chữ Tuỳ, không dễ gì tuyệt đối hóa bất cứ cái chi chi, dù một sự vật, một học thuyết hay nguyên tắc. Mà thật sự, dù phân định rõ như đàn ông đàn bà, cũng chẳng ai nam hay nữ trăm phần trăm đâu, nhất là về mặt tâm lý. Riêng về mặt sinh lý, thì nguồn gốc của tính đực và cái cũng chẳng rõ ràng gì cho lắm. Vâng, dù nữ hay nam ai nấy đều có hormone nam testosterone và hormone nữ oestradiol, và chỉ cần thay đổi phần nào tỷ lệ là có rối loạn ngay, khiến một con chuột đực có thể động ham muốn khi gặp con chuột khác đồng giới tính với mình. Thế rồi, lại còn trường hợp có người sinh ra với hạ bộ nam mà lại với tử cung cùng buồng trứng nữa. Chính vì thực tại không mấy khi rõ nét như ý tưởng, nên người Việt ta, dù có thể chết vì tôn giáo, tổ quốc hay người yêu của mình, nhưng chết vì một học thuyết hay ý thức hệ như Tây thì không dễ.

8. Cân bằng âm dương và ảnh hưởng của văn hóa. Hẳn là từ trong kinh nghiệm về tình yêu lứa đôi và hấp dẫn đực cái mà phương Đông đã phát minh nguyên lý Âm Dương. Thế mà khi yêu nhau, thì người ta muốn hai bên đồng đẳng với nhau, nên dù hoàng tử hay công chúa, lấy ai thì người ấy cũng trở thành phò mã hay công nương luôn. Bằng như nếu không lấy nhau được, ông hoàng thà làm thứ dân để được gần người mình ngày đêm thương nhớ. Chính vì thế, bàn về Âm Dương, người ta không so sánh cái gì hơn cái gì kém, trừ trong trường hợp Âm Dương hiểu theo lý, như sáng tối và thiện ác, chúng vốn chống nhau, chứ không bù đắp cho nhau.

Thế nhưng đôi khi, một số nhà nho cũng có những so đo khác lạ. Rõ ràng trong Kinh Dịch ở phần Truyện và Lời bàn, người ta luôn coi Cứng là dương, Mềm là âm, mà khi nghĩ về cai trị và tu đức, người ta lại đặt Nhân và Ái vốn mềm vào vị thế dương, còn Nghiêm và hình luật vốn cương lại được liệt vào loại âm. Mà lý do chỉ vì để cảm hóa dân, Nhân và Ái phải được coi trọng hơn là sự nghiêm của hình phạt, dù cả hai phải đi đôi với nhau. Và cũng chỉ vì trong tu đức, Nhân được coi là trung tâm và cao đỉnh của tòa nhà đạo đức. Phải chăng vì dòng máu phụ hệ của Hán tộc đã có ảnh hưởng trong việc trọng dương khinh âm, khiến có đảo lộn âm dương này?

Chính bởi những trục trặc nói trên, theo tôi nghĩ, dù học thuyết âm dương đã được khai triển rộng sâu bên Trung Quốc thì nguồn gốc của nó có thể đã nằm ngoài Trung Quốc, ở một trong những vùng thuộc địa mà xưa người Hán gọi là Tây di và Nam man. Cách đây mấy chục năm, Kim Định đã đưa ra giả thuyết, rằng Kinh Dịch là của dòng Lạc Việt. Trước đó nữa, chuyên gia nghiên cứu về văn minh Đông Nam Á, bà E.P.Maspero cũng nhận định rằng triết lý Âm Dương của Trung Quốc đã bắt nguồn từ cảm nhận nhị lập của người Đông Dương (trong đó có Việt Nam) vốn sống thông thoáng về mặt giao tiếp nam nữ, chứ không “nam nữ thụ thụ bất thân” như Trung Hoa12. Và đây cũng là quan điểm của giáo sư Phan Đăng Nhật trong Kiến thức ngày nay số 487 (tr.8). Theo tôi, cái sơ đồ của Âm Dương có thể đã được phác họa nên bởi một trong những dân tộc mẫu hệ hay bán mẫu hệ giáo với Trung Hoa, chứ không phải dân Hán và Mãn vốn rất phụ hệ.

Theo Montandin và một số học giả trước ông, thì Đông Dương xưa thuộc vùng “văn hóa cây cung”, mà một trong những đặc điểm của văn hóa này là chế độ mẫu hệ. Ngay gần đây, Đông Nam Á vẫn còn nhiều dân tộc mẫu hệ, và đây là Chăm (Thuận Hải) ở Việt Nam, Khassi ở Assam, Minangkabau ở Sumatra, Negri Sembilan ở Malaysia. Họ giữ tập tục mẫu hệ lâu bền được hẳn là nhờ môi trường thuận lợi xung quanh, môi trường ít là không trọng nam khinh nữ, đến nỗi sau này dù Đông Nam Á có bị Ấn giáo hay Hồi giáo phụ hệ đến thống trị, thì người phụ nữ ở đây vẫn không bị “cấm cung”, ông cậu và ông bà ngoại vẫn được quý mến, và tục gửi rể tồn tại.

Người Việt chúng ta cũng thế, dù bị người Hán đô hộ cả ngàn năm, mà luật Hồng Đức của nhà Lê vẫn không có biểu hiện khinh nữ. Như phân chia tài sản và điền sản thì con cái bằng nhau, dù nữ hay nam, con riêng vợ hay con riêng chồng 13. Thậm chí về quản trị hương hỏa, nếu thiếu con trai trưởng, thì lập con gái trưởng14.

Như đã nói trên, sở dĩ nhiều dân Đông Nam Á có thể sinh hoạt mẫu hệ được, là vì môi trường trọng nữ xung quanh cho phép như thế. Để rồi đến lượt chế độ trọng nữ, cũng như trọng giới tích và quan hệ nam nữ thường đi kèm (chứ không vì xấu hổ mà phải che đậy) cũng ảnh hưởng ra xung quanh, khiến chỉ từ những vùng trời này mới có thể xuất xưởng những cảm nhận căn bản đầy hương vị sự sống như nguyên lý và biện chứng âm dương. Vâng, nguyên lý âm dương có thể đã được thai nghén xưa ở miền đất Rồng Tiên, nơi có bình đẳng nam nữ mà phần nào dấu vết còn để lại trong bộ luật Hồng Đức của nhà Lê, nó khác hẳn với bộ luật nhà Nguyễn gần như bản sao của bộ luật Thanh triều.

Một nguồn gốc khả dĩ thứ hai cho thuyết âm dương, đó là vùng Đông Ấn, nơi sản sinh truyền thống tu luyện bằng phối hợp vợ chồng. Và đây là Mật giáo (Tantra), nó ảnh hưởng sang Ấn giáo thành Sakti-giáo và sang Phật giáo Tây Tạng thành Phật giáo Mật Tông. Và chắc cũng do cùng một ảnh hưởng ấy mà có Đạo giáo Trung Quốc, để rồi qua Đạo giáo có nguyên lý và biện chứng âm dương này.

Nếu chế độ phụ hệ Hán tộc khiến đôi khi do mặc cảm tự tôn mà người ta đặt nhu vào vị thế dương, để có thể vẫn coi dương là cao hơn, thì ngược lại, tính tương bình tự nhiên của âm dương chắc cũng ảnh hưởng đến tâm tư khiến họ bớt khinh rẻ nữ tính đi. Trong khi đó, chế độ nghiêng về mẫu hệ lại khiến dù trọng âm dương luận, người ta vẫn nghiêng về âm nhu để phát hiện nguyên tắc “Nhu thắng cương” như trong Lão giáo.

9. Đạo Âm Dương thuộc Hình nhi thượng. Như ở phần cuối tiểu đề trước chúng ta đã xác định, Âm Dương không chỉ là khí âm khí dương, càng không chỉ là đực cái hay nam nữ. Âm Dương đã được siêu hình hóa để thành Lý, tức nguyên lý, và Đạo.

Hơn nữa, cái Đạo và Lý ấy không dừng ở vật chất và sự sống, mà bao trùm hết, tới tận Trời (Kiền) và toàn bộ hiện hữu. Và như thế, con người không tách riêng. Nó thuộc về vũ trụ và nó phản ánh Đạo Trời thành Tính ở lương tri. Nên về phía Trời thì lặng nhìn vô nội tâm, nó hiểu được Thiên mệnh; nhìn ra ngoại thế, nó hiểu mình thuộc hoàn vũ. Do đó mà để khoẻ mạnh, người ta phải sống thuận với môi trường; để bình an và tiến phát, người ta phải quan tâm đến phong thuỷ.


ÂM DƯƠNG VỚI THỰC TẠI VÀ TRƯỚC ỐNG KÍNH KHOA HỌC

Đúng như Blondel thấy, trong đầu ta, các ý tưởng và hình ảnh luôn sắp thành những cặp đối nghịch, như trắng với đen, động với tĩnh, sai với đúng, ác với thiện… Và do đó chúng phân định rõ và loại trừ nhau. Chứ trong thực tế, thì giữa trắng với đen có biết bao trung gian, khiến cái áo này tuy trắng so với cái khăn kia, nhưng lại là đen so với tấm vải khác. Và nếu thiện ác không thể đội trời chung, thì người thiện nhất cũng vẫn sống chung với một vài khuyết điểm, và người ác nhất cũng tiềm tàng một hai cái tốt, khiến chỉ cần “buông đao đồ tể là… thành Phật” ngay. Chính vì thế, người sống lý trí quá sẽ cứng nhắc với các nguyên tắc của mình, trong khi người sống thực tế thì ứng xử mềm dẻo. Người Á Đông thường là loại người sau, bởi Á Đông chính cống thì nhìn bằng trực giác, đánh giá bằng cảm nhận, chứ không mấy trừu tượng. Trực giác, đó là điểm mạnh của ta, nhưng nếu vì thế mà bớt lý tính, kém khách quan, thì đây lại là điểm yếu. Vậy việc phải làm là phát huy sở trường của mình, trong khi vẫn cố học cái tốt của người để bù vào chỗ yếu của ta.

Nếu đi vào vũ trụ siêu vi mô và vĩ mô, thì với khoa học mới nó đang tìm về nguồn gốc cũng như nền tảng của vật chất và sự sống, ta sẽ thấy khá rõ sức ngự trị của âm dương.

Trước hết, thế giới muôn mầu của trái đất chúng ta được kiến thiết trên nền tảng của những phân tử, mà phân tử thì hợp thành bởi nguyên tử, với nguyên tử ấy làm nên do sự bó kết của những électron dấu âm bị hút, với hạt nhân dấu dương hút chúng (sức hút ấy cần đủ để cân bằng với lực ly tâm do sự quay vòng của các electron sinh ra). Riêng hạt nhân thì hợp thành bởi proton dấu dương và neutron trung tính. Có điều dù dương hay trung tính, chúng cũng do quark kết hợp mà thành. Có tất cả 7 loại quark, quark thứ bảy vì mới được khám phá nên tôi chưa có nhiều thông tin về nó. Chứ với sáu quark kia, thì ba quark up, charm và top mang điện tích +2/3, trong khi ba quark down, strange và bottom thì lại mang điện tích –1/3. Chính vì thế, proton do 2 quark up (bốc) kết với 2 quark down (dịu) thành +4/3 sánh với –2/3 nên có dấu dương, còn neutron do 2 quark down kết với một quark up thành –2/3 sánh với +2/3 nên triệt tiêu thành trung tính. Vậy đứng về mặt vật chất với các hạt tử rất nhẹ như electron và rất nặng như quark làm nên hạt nhân, tất cả đều do âm dương thống trị… Riêng lực hay năng lượng thì từ bosons sinh ra. Tất cả có bốn lực: lực điện từ và lực hấp dẫn, lực hạt nhân yếu và lực hạt nhân mạnh. Nay nhiều nhà vật lý muốn quy lực hấp dẫn vào lực điện từ. Nghĩa là, ngoại lực điện từ, chỉ còn lực hạt nhân thôi, nên lực điện từ (đặt nền trên phân cực âm dương) chiếm ít là phân nửa của toàn bộ năng lượng. Lại nữa, mới đây người ta còn khám phá thấy trong chân không có những dao động điện từ15. Dù chân không cũng có năng lượng điện từ, há phải chăng điện từ là năng lượng nền của mọi năng lượng? Nếu đúng thế thì không phải có bốn lực cơ bản, mà cơ bản nhất chỉ có một thôi (như một số nhà khoa học nghĩ, họ muốn quy cả bốn lực vào một), và lực cơ bản duy nhứt này hoạt động bằng đối cực âm dương.

Ngoài ra, ở nền tảng của tất cả, thì nơi mỗi hạt cơ bản nhẹ electron âm có tiềm ẩn một positron dấu dương, và nơi mỗi hạt cơ bản nặng hadron (như proton, neutron, hay cơ bản hơn là quark) luôn tiềm ẩn một antihadron dấu nghịch lại! Để rồi nếu hai bên cùng hiển thị cũng cùng tiêu biến đi luôn. Mà tiêu đây không phải là thành hư vô đâu, bởi vô trung vẫn tiềm hữu khi mà trước đó trong hữu là vật chất cũng tiềm vô nó là phản vật chất. Lại nữa như chúng ta đều biết, trong khối lượng m (làm nên hạt và vật chất) có năng lượng, và trong năng lượng có khối lượng theo công thức E=mc2. Để rồi trước giây phút Bigbang là cái gì đây, là hữu hay là vô, bởi chưa có hạt thì làm sao có chỗ dựa cho năng lượng tồn tại? Mà thế thì Hữu và Vô không phải những ý tưởng rõ ràng chúng loại trừ nhau như phương Tây nghĩ, mà là những siêu thực thể chúng tiềm bên dưới những thực tại muôn màu của thế giới này. phải hiểu như thế, ta mới dễ hiểu Phật, Ấn, Đạo giáo khi họ nói không theo lý cho bằng theo kinh nghiệm (thiêng liêng hay huyền ẩn) về cái thực tại mong manh là Sắc-tướng (nâma-rupa hay danh và hình), và về cái gốc của chúng là Vô, Vô vi…

Cũng như mầu đen thực ra chỉ là không mầu, do ánh sáng bị hút hết nên không phản chiếu, nên không có chi từ đó đến được mắt ta, thì Vô thực ra cũng không là gì, để có thể được biết là gì. V&ac

Bài viết khác