Lm. Gioankim

Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)

NGƯỜI GIÁO DÂN

THIÊN NIÊN KỶ MỚI

 
   

 

CẨM NANG ĐÀO LUYỆN 1 & 2

(Lưu hành nội bộ)

05-04-2007

 


MỤC LỤC

 

TẬP MỘT

 

Chương I: TỔNG QUÁT

1. NHẬN THỨC.. 6

2. TỔ CHỨC.. 7

3. ĐỀ TÀI CỤ THỂ. 10

4. TÓM TẮT VÀ THỰC HÀNH.. 10

5. NGHI THỨC:“ĐÓN NHẬN VÀ SAI ĐI”     10

Chương II: KHOA LINH ĐẠO

1. Ý nghĩa. 11

2. Mục đích. 11

3. Sư phạm và kỹ năng. 11

4. Nội dung. 12

 PHƯƠNG THỨC:“CẦU NGUYỆN-CẢM NGHIỆM”

1. Nhận thức. 13

2. Đào Luyện. 14

3. Nhận xét17

Chương III: KHOA MỤC VỤ

1. Ý nghĩa. 19

2. Mục đích. 19

3. Đào luyện mục vụ: “Liên đới-Trách nhiệm”. 20

4. Đào luyện mục vụ: “Yêu Thương-Phục Vụ”. 24

Chương IV: KHOA TRUYỀN GIÁO

1. Ý nghĩa. 27

2. Mục đích. 27

3. Đào luyện: Mục vụ Đối Thoại                        28

                                  ÁP DỤNG

                    ĐỐI THOẠI TÔN GIÁO.. 32

 

                          ÁP DỤNG

     ĐỐI THOẠI “KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT…”      35

4. Đào luyện: Mục vụ Hòa Giải40

                          ÁP DỤNG  

      NƠI MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA VIỆTNAM  49

 

                  KẾT LUẬN CHUNG.. 51

TÓM TẮT VÀ QUYẾT TÂM THỰC HÀNH.. 53

 

TẬP HAI

 

1. Nhận thức. 56

2. Sửa Đức - Lập Uy. 56

3. Nội dung. 58

3.1. Đào Luyện Lãnh Đạo. 58

3.1.1. Giới răn lãnh đạo: (Mười Luật lãnh đạo)58

1. Luật lắng nghe. 58

2. Luật điềm tĩnh. 58

3. Luật ra quyết định. 59

4. Luật tổ chức. 59

5. Luật phân công. 60

6. Luật dùng người và nắm người60

7. Luật đãi người61

8. Luật trách nhiệm.. 61

9. Luật đào tạo lãnh đạo. 61

10. Triết lý lãnh đạo. 62

3.1.2. Kỹ năng lãnh đạo. 62

      1. Rèn luyện kỹ năng khôn ngoan.63

1.1. Nguyên tắc ........................................ 9

1.2. Thực hành........................................ 10

      2. Rèn luyện kỹ năng hiệp thông, hiệp nhất,65

                2.1. Nguyên tắc

              2.2. Thực hành      

3.2. Kỹ năng tham luận. 66

3.2.1. Lược đồ một67

3.2.2. Lược đồ hai67

3.2.3. Lược đồ ba. 67

3.2.4. Lược đồ bốn, có tính cao cấp. 68

 

3.3. Kỹ năng văn hóa ứng xử. 68

       3.3.1. Nguyên tắc. 68

       3.3.2. Thực hành. 69

       3.3.3. Kinh nghiệm.. 70

4. Kết luận. 70

 

TẬP 1

Chương I

1. NHẬN THỨC

1.1. Định hướng: “Chúa Thánh Thần và Giáo Dân”

 Như những thiên niên kỷ trước đã có tiểu chủng viện, đại chủng viện, tu viện, để đào tạo linh mục, tu sĩ. Vì thế, giáo sĩ và tu sĩ đã có những đóng góp mang tính quyết định.

 Thiên niên kỷ mới được coi là thiên niên kỷ của Chúa Thánh Thần và của Giáo Dân. Chúa Thánh Thần đang làm cho Giáo Dân hôm nay mỗi ngày ý thức hơn phần trách nhiệm riêng của mình và thúc bách Giáo Dân mọi nơi phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.[1]

 Quả thực,người tín hữu giáo dân có một vai trò nổi bật trong Giáo Hội, nhất là về mặt nên thánh và chứng nhân giữa thực tại trần thế. Nếu được đào tạo chính qui, nhất định hàng giáo dân sẽ tự tin, đồng trách nhiệm thực sự với hàng giáo sĩ trong bản chất cũng như trong hoạt động của Giáo Hội.[2]Hầu góp phần thiết lập Giáo Hội thực sự.

1.2. Giáo Hội: “Dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô”

Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có Hàng Giáo Dân đích thực và nếu Hàng Giáo Dân này chưa cùng làm việc với Hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một Dân Tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một Hàng Giáo Dân Kitô giáo trưởng thành.[3]

1.3. Giáo Phận:“Ưu tiên mục vụ”

Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ. Làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sĩ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này.[4]

2. TỔ CHỨC

2.1. Nhận thức

Đức Gioan Phaolô II đã biểu tỏ tâm đắc rằng: “Tôi xin hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đề nghị thành lập ở cấp Giáo Phận hay cấp Quốc Gia những Trung Tâm Đào Tạo Giáo Dân.”[5]

 Alvin Toffler, nhà tương lai học cũng đã nhận định: “Con người nào không được đào luyện, sẽ bị xã hội loại bỏ; dân tộc nào không được đào tạo sẽ bị đào thải.”

 Kinh nghiệm Quốc Tế cho thấy, đầu tư đào luyện nguồn nhân lực, trong cùng một thời gian và cùng một số vốn với các nguồn đầu tư khác, nhưng đặc biệt đầu tư đào luyện nguồn nhân lực đã đem lại kết quả gấp rất nhiều lần.

2.2. Mục Tiêu Sứ Mệnh(Mission Statement)

Đào luyện Hàng Giáo Dân đích thực và trưởng thành về: “Linh Đạo (Tu Đức)-Mục Vụ và Truyền Giáo”,theo tinh thần Công Đồng Vat. II, mang tính tổng hợp Đông-Tây, Khoa học-Hội Thánh - Hầu trở thành những người “Đạo Đức, Khôn Ngoan, Tự Tin, Kiên Quyết, Nhìn Xa Trông Rộng, và có Tinh Thần Tông Đồ Thực Thụ[6]– Biết “Hợp Tác Phục Vụ Hữu Hiệu” với hàng Giáo Phẩm và những người thiện chí để góp phần thiết lập một Giáo Hội thực sự, kiến tạo mùa xuân Hội Thánh và Dân Tộc.”

2.3. Nhận định

Đào luyện là ý định của Thiên Chúa và là chủ trương của Giáo Hội. Hơn nữa, còn là sự tồn tại của mỗi con người, của Giáo Hội và của Dân Tộc. Đúng như nhận định của Alvin Toffler: “Người nào không được đào luyện sẽ bị xã hội loại bỏ; dân tộc nào không được đào tạo sẽ bị đào thải.”

 Tuy nhiên, kết quả sau cùng vẫn còn tuỳ thuộc vào Ơn Chúa, như Chúa đã dạy: “Không có Thầy các con không thể làm được gì.” Vì thế, hai yếu tố “Cầu Nguyện và Hy Sinh” là then chốt và chủ yếu, thẳm sâu, để tạo chuyển biến và làm nên mùa xuân Hội Thánh và Dân Tộc.

2.4. Phân Khoa Đào Luyện

2.4.1. Khoa Linh Đạo: Gồm các môn có liên quan tới đời sống tâm linh. Ví dụ: Tu đức, Thánh Kinh, Tín Lý, Bí Tích, Phụng Vụ…

2.4.2. Khoa Mục Vụ: Gồm các môn có liên quan tới mục vụ. Ví dụ: Giáo Luật, Giáo Hội, Luân Lý, Lãnh Đạo, Quản Trị, Triết Lý, Nhân Bản, Kinh Tế, Chính Trị, Truyền Thông…

2.4.3. Khoa Truyền Giáo: Gồm các môn có liên quan tới truyền giáo. Ví dụ: Truyền Giáo, Văn Hóa, Xã Hội, Tâm Lý, Dân Tộc, Tín Ngưỡng, Tôn Giáo…

2.5. Phương Thức Đào Luyện

2.5.1. Đơn giản: Gồm 1 Ý, 2 Hình, 1 Lời Khuyên

2.5.2. Tương tác: (Hiện đại, hiệu quả tốt)

 - Giảng viên và Học viên cùng tham gia thảo luận đề tài.

 - Học viên về nghiên cứu, viết bài tham cứu (tiền luận án).

 - Hội thảo chung, đặt câu hỏi, góp ý, phê bình, ứng dụng.

 - Tổng kết (Mọi người cùng học hỏi lẫn nhau).

2.5.3. Công giáo tiến hành: “Xem, Xét, Làm”

2.5.4. Văn Hóa: “Nhận Thức, Tổ Chức, Ứng Xử”

2.5.5. Cursillo: “Nghe, Viết riêng, Cùng Vẽ, Hội Thảo, Làm”

2.5.6. Nghị luận: “Luận đề. Luận điểm 1, 2, 3. Trong mỗi luận điểm, cần đưa ra 1,2 luận cứ. Sau mỗi luận điểm, đều có tiểu kết. Sau cùng là đại kết: Tóm tắt và mở rộng.”

2.5.7. Đại học: “Đọc sách, tóm sách, suy tư, phê bình, áp dụng vào môi trường và giúp người khác sống. Nêu 3-5 câu hỏi. Hội thảo. Định đề. Viết khảo luận. Làm luận án.”

2.6. Chiều Kích Đào Luyện(Theogương Chúa Giêsu)[7]

2.6.1. Tâm Linh

2.6.2. Tinh Thần

2.6.3. Thể Chất

3. ĐỀ TÀI CỤ THỂ

4. TÓM TẮT VÀ QUYẾT TÂM THỰC HÀNH

5. NGHI THỨC “ĐÓN NHẬN VÀ SAI ĐI”

 

Chương II

KHOA LINH ĐẠO

1. Ý nghĩa

 Linh đạo là con đường xây dựng và phát triển đời sống tâm linh. Theo phương pháp “Khoa học-Hội thánh” và xu thế Thời-đại “Đông-Tây” hòa hợp. Linh đạo thời nay, tập trung vào Chúa Kitô và Phúc Âm.

2. Mục đích

 Thực thi giới răn: “Mến Chúa.” Hầu đạt tới Đức Kitô, theo lý tưởng của thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi…”[8]

3. Sư phạm và kỹ năng

 Chúa Giêsu, nhà Đào Luyện. Ngài đã đào luyện Phêrô với tinh thần “Khoa học-Hội thánh.” Hai yếu tố khoa học được lưu ý: Sư phạm và kỹ năng.

 Sư phạm có đặc điểm là kiên trì, tiệm tiến, lặp đi lặp lại. Cổ nhân dạy: “Quá tam ba bận.” Cũng giống như nhân đức là một tập quán hành thiện. Muốn có tập quán, phải làm đi làm lại nhiều lần.

 Kỹ năng tập trung tác động vào ba khả năng quan yếu: “Tâm, Trí và Ý Chí.” Khi “Tâm –Trí hòa quyện với nhau, sẽ biến thành “Ý Chí.” Ý chí quyết tâm, với Ơn Chúa, thực hành bền vững, sẽ trở thành nhân đức.

4. Nội dung

4.1. Lời Chúa (Jn. 21: 15-19)

 Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy."Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy."16 Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy."17 Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?" Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."

4.2. Áp dụng

Chúa Giêsu, “Đấng Sư Phạm” đại tài. Khi đào luyện Phêrô, Người Lãnh Đạo Hội Thánh, Chúa đã lặp đi lặp lại 3 lần. Ngài bắt đầu từ Tâm: “Con có yêu…”; rồi Trí: “Thầy biết… Thầy biết con yêu…” Sau đó, khi thấy “Tâm-Trí” của Phêrô đã quyện lại với nhau, Ngài kêu gọi ý chí “Hãy theo Thầy.” Quyết tâm theo, thì phải từ bỏ ý riêng, thuận theo Ý Chúa.

Quyết tâm thi hành bền vững, với Ơn Chúa, sẽ trở thành nhân đức. Người có nhân đức là người nên giống Chúa. Nên giống Chúa là nên Thánh. Nên Thánh là được nên Một trong Chúa. Đó là mục đích sau cùng của việc đào luyện tâm linh, đào luyện đời sống nội tâm.

PHƯƠNG THỨC
“CẦU NGUYỆN-CẢM NGHIỆM.”

1. Nhận thức

1.1. Ý nghĩa

 Phương thức“Cầu Nguyện-Cảm Nghiệm,” là phương thứcĐào luyện Tâm Linh. Dựa trên định hướng: “Khoa học-Hội thánh” và xu thế thời đại: “Đông -Tây” hòa hợp. Dung hòa: “Động và Tĩnh”; “Tình và Lý.” Dẫn tới “Ý Chí” quyết tâm.

1.2. Mục đích

 Cầu Nguyện-Cảm Nghiệm, giúp ta xác tín mạnh mẽ sự hiện diện của Chúa, đang ở trong trung tâm sâu thẳm của cõi lòng ta. Giúp ta ý thức sự hiện diện của Chúa ở khắp mọi nơi và mọi lúc, ngay cả ngoài lúc cầu nguyện. Giúp ta chuyển đổi đức tin truyền thống, cộng đồng trở thành đức tin xác tín bản thân. Đặc biệt giúp ta đạt tới lý tưởng linh đạo: “Chúa Kitô sống trong tôi.”

 Đáp ứng nhu cầu thời đại “Tâm Linh”.

1.3. Đặc điểm

1.3.1.      Đón nhận Chúa Thánh Thần: Đấng trực tiếp đào luyện và giúp ta tự đào luyện.

1.3.2.      Khi chia trí, ta cứ nhẹ nhàng đưa trí khôn trở lại Lời Nguyện.

1.3.3.      Thực hành: Từ 15 phút tới 30phút mỗi lần. Ngày 2 lần, sáng chiều.

2. Đào Luyện

2.1.              Định tâm xác tín

 Tư thế ngồi thanh thản. Nhắm mắt. Hoặc mở ¼, nhìn xuống đầu mũi. Im lặng. Tâm trí nhớ lại lời hứa của Chúa “Ở đâu có hai ba người, họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”[9]. Nếu sau rước lễ, cố gắng xác tín Chúa hiện diện và giục lòng yêu mến Ngài. Cảm nghiệm sống với Ngài, để được Ngài biến đổi. (1 phút)

2.2.              Khởi động

 “Con nhìn Chúa. Chúa nhìn con. Con yêu mến Chúa. Xin Chúa biến đổi con nên giống Chúa: “Hiền Lành và Khiêm Nhường.” Xin Chúa thực hiện Thánh Ý Chúa nơi con: “Sống Liên Đới Trách Nhiệm và Yêu Thương Phục Vụ.” “Qua con đường Đối Thoại và Hòa Giải.”

2.3.              Cầu nguyện

 (Chọn một hai Lời Chúa trong Kinh Thánh, gọi là Lời Nguyện, làm như cái đà để đưa lòng trí ta tới sự hiện diện và hoạt động của Chúa trong trung tâm cõi lòng ta. Tôi thường hay chọn hai Lời sau đây. Xin mọi người đọc hay hát tùy ý.)

 “Thầy là cây nho, các con là cành, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái, cành nào lìa cây sẽ khô héo liền, các con hãy ở trong tình yêu của Thầy;” “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được.”

2.4. Cảm nghiệm: (Nói trong tâm hồn.)

“Con sống trong Chúa như cá trong biển.”

“Chúa sống trong con như kho tàng trong nhà.”

“Con và Chúa nên một, như bột dậy men.”

“Như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt, bất ngờ và lạ lùng.” (1)

Im lặng 2 phút.

Cứ 2 phút lặp lại 1 lần. Lặp đi lặp lại 3-5 lần.

2.5. Cầu nguyện

 “Thầy là cây nho, các con là cành, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái, cành nào lìa cây sẽ khô héo liền, các con hãy ở trong tình yêu của Thầy;” “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được.”

2.6.Cảm nghiệm: (Nói trong tâm hồn)

“Con sống trong Chúa như cá trong biển.”

“Chúa sống trong con như kho tàng trong nhà.”

“Con và Chúa nên một, như bột dậy men.”

“Như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt, bất ngờ và lạ lùng.” (1)

Im lặng 2 phút.

2.7. Cầu nguyện

 “Thầy là cây nho, các con là cành, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái, cành nào lìa cây sẽ khô héo liền, các con hãy ở trong tình yêu của Thầy”. “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được.”

2.8. Cảm nghiệm: (Nói trong tâm hồn)

“Con sống trong Chúa như cá trong biển.”

“Chúa sống trong con như kho tàng trong nhà.”

“Con và Chúa nên một, như bột dậy men.”

“Như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt, bất ngờ và lạ lùng.” (1)

Im lặng 2 phút.

Lặp lại lời nguyện. Cảm nghiệm nội tâm.

Cứ 2 phút lặp lại 1 lần. Lặp đi lặp lại 3-5 lần.

2.9. Lời nguyện tự phát: Kết quả của tâm và trí quyện lại với nhau, trở thành ý chí, quyết tâm theo Chúa.Nói lênđiều quyết tâm. Xin ơn thực hiện bền vững điều quyết tâm.Ví dụ: "Lạy Chúa Giêsu, con đang ở với Chúa. Con yêu mến Chúa. Con cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen và tôn vinh Chúa. Khi về với cuộc sống đời thường, con quyết tâm sống hiền lành và khiêm nhường. Xin Chúa trợ giúp con sống bền vững điều con quyết tâm"

2.10. Kết thúc

 Lặp lại bước đầu (con nhìn Chúa…); sau cùng, đọc rất chậm kinh Lạy Cha, được đọc theo lối cảm nghiệm, nhận thức.

2.11. Xin ơn Thánh Thần: (Giơ cao hai tay)

 “Xin Chúa Giêsu sai Thánh Thần đến với con. Cùng với Mẹ Maria, con đón nhận Thánh Thần. Xin Thánh Thần ban ơn: Khôn Ngoan, Sức Mạnh và Tầm Nhìn cho con. Amen.”

3. Nhận xét

Kinh nghiệm thực hiện trong một năm, tôi cảm nghiệm được sự Thiên Chúa biến đổi nội tâm và trong mục vụ. Bản thân an vui, nhẫn nại, hiền hòa, nhân hậu, trung tín, yêu thương. Hay nghĩ tới hạnh phúc mọi người, mong ước họ bớt khổ. Tóm lại, cảm thấy trở nên người mới trong Chúa Giêsu và mới với mọi người. Hiện nay, tôi tiếp tục thực hành, và phổ biến phương pháp cầu nguyện này, mỗi khi có dịp giúp tĩnh tâm.

(1) Cảm nghiệm theo thánh Bernard và Đức Cố Viện Phụ Giuse Chu Công.

Trước hết, “Con sống trong Chúa,” như cá trong biển. Một ngày kia, cá con hỏi cá mẹ rằng: “Biển là gì?” Cá mẹ nói: “Từ khi chào đời, con đã sống trong biển. Biển là tất cả những gì bao bọc con. Con hằng đùa giỡn trong biển. Nếu không có biển, thì loài cá chúng ta sống sao được!”

Thứ đến, “Chúa sống trong con,” như kho tàng quí giá trong nhà. Mấy năm gần đây, ở vùng quê tiểu bang Oklahoma, có hai vợ chồng già sống trong một căn nhà nghèo nàn. Một hôm, có kỹ sư tới nhà, xin khoan một lỗ để xem có dầu ở dưới nền nhà bếp của ông bà không. May mắn, kỹ sư đã tìm ra dầu và bơm lên hàng ngàn thùng dầu. Sau đó hai ông bà trở nên giàu có và sống đàng hoàng ở phố “Easy Street.” Một ngày kia, nhớ lại vận may, ông cụ thốt ra câu: “Chỉ nghĩ đến cái gì nằm dưới chân đã đủ sướng!”[10]

Sau cùng, “Con và Chúa nên một,” như bột dậy men, như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng, bất ngờ và lạ lùng. Ở chân núi Khôn Ngoan, có bà cụ mở quán trà giải khát. Bất kỳ tu sĩ nào hỏi bà, phải đi lối nào để lên núi Khôn, bà đều trả lời: “Cứ đi thẳng.” Nhưng khi họ đi thẳng, thì bà lại bảo họ là “coi có vẻ khôi ngô, nhưng sao lại quẹo ngang như thế, thật là khờ dại, vụng về!” Tại sao vậy? Con đường đưa tới Núi Khôn là con đường thẳng đưa tới sự khôn ngoan ở trong tâm trí ta, không phải ở ngoài ta. Như lời Chúa Giêsu dạy: “Nước Thiên Đàng ở trong các con.”[11]Và: “Này chị, giờ đã đến, khi người tôn thờ Chúa không còn thờ Chúa trên núi này hay núi nọ; những ai tôn thờ thực sự sẽ tôn thờ trong tinh thần và chân lý.”[12]“Và nước mà Ta cho chị sẽ trở nên mạch nước trào lên từ lòng chị tới sự sống đời đời.”[13]

Tóm lại, ta sống trong Chúa và Chúa sống trong ta, như hạt sương tan biến trong biển cả, như chim bay trong bầu trời, như cá bơi lặn trong đại dương. Chúa trở nên một với linh hồn. Một lối sống được thay đổi sâu xa. Hạnh phúc cho linh hồn có Chúa ở trong họ, linh hồn sống với Chúa, sống cho Chúa và được chuyển biến bởi Chúa. Đúng như kinh nghiệm tâm linh thánh Phaolô: “Bây giờ không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi.”[14]Mục đích sau cùng của đời nội tâm là thế.

Chương III

KHOA MỤC VỤ

1. Ý nghĩa

 Mục vụ là khoa học và nghệ thuật phục vụ, chăm sóc, dẫn dắt, truy tìm mãnh lực cá nhân, lãnh đạo tinh thần, nghệ thuật lãnh đạo Dân Chúa. Như người Mục tử chăn dắt đàn chiên. Mục vụ thời nay, tập trung vào Con Người và Môi Trường.

2. Mục đích

 Thực thi giới răn: “Yêu Người.” Đáp trả Kinh Thánh: “Cựu Ước-Tân Ước” và văn hóa “Đông-Tây.” Qua hai định hướng: “Liên đới - Trách nhiệm” và “Yêu thương - Phục vụ.” Hầu đạt tới Con Người toàn diện như Đức Kitô, với ba chiều kích: “Thể chất, Tinh thần, Tâm linh.”[15]

3. Đào luyện mục vụ: “Liên đới-Trách nhiệm”

3.1. Lý do

3.1.1. Đáp trả Cựu Ước

 Trước khi ăn quả Chúa cấm, Eva không liên đới với Adam và với Chúa. Sau khi ăn, đã đổ lỗi mà không chịu trách nhiệm.

3.1.2. Đáp trả văn hóa Tây Phương

 Văn hóa Tây Phương đề cao chủ nghĩa tự do cá nhân. Dẫn tới thiếu liên đới và trách nhiệm. Hậu quả khôn lường.

3.2. Nội dung

3.2.1. Dẫn nhập

 Câu chuyện về loài hoa Thủy Tiên, trong thần thoại Hy Lạp.

 Có chàng Narcis đẹp trai. Biết bao cô gái để mắt. Anh không màng. Suốt ngày say mê săn bắn. Một hôm vào rừng săn, quên cả thời gian. Mãi đến xế chiều, anh giật mình, vì đã đi quá sâu, quên cả lối về. Anh hốt hoảng kêu: “Có ai đó không?” Chỉ duy có tiếng vọng: “Có ai đó không?” Đến khi kiệt sức, anh ngồi trên bờ giếng trong vắt. Ngó thấy một khuôn mặt thật đẹp. Đẹp đến nỗi anh cũng phải si mê. Nên cúi xuống, đưa hai bàn tay vục xuống, ôm lấy khuôn mặt đó. Nhưng mỗi khi vừa chạm tới, khuôn mặt loang loáng từ chối và càng chìm xuống xa hơn. Chàng si mê nhân tình, cố liều. Cuối cùng chàng đã lao xuống giếng. Chết. Hóa thành loài hoa Thủy Tiên.

 Narcis đã chết vì chủ nghĩa tự do cá nhân.

3.2.2. Đọc Lời Chúa: Dụ ngôn người Samari tốt lành[16]

“Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Ðức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?" Ðức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác". Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?" Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Ðức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".

3.2.3. Suy niệm

 Chúa dạy: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy." Nghĩa là hãy sống tinh thần “Liên đới và Trách nhiệm.”

 Cha Coriden khẳng định: “Tình Liên Đớichất keo đính kết các tín hữu với nhau… Nó mang sức mạnh và sự ổn định đến cho cộng đoàn, và là động cơ thúc đẩy các hoạt động vì công lý và bác ái của cộng đoàn.”[17]

 Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rất coi trọng sự Liên Đới, đến nỗi Ngài cho Liên Đới là một Nhân Đức. Ngài nói “nó là một quyết tâm mạnh mẽ và kiên định để dấn thân vì lợi ích chung.”[18]Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI xác nhận tinh thần “Đồng Trách Nhiệm” giữa hàng giáo sĩ và hàng giáo dân.

 Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, vừa công bố: “Sứ Điệp về Đồng Trách Nhiệm Trong Cộng Đoàn Kitô Hữu.” Ngài khẳng định: “Giáo Phận Long Xuyên không có con đường nào khác ngoài con đường trở về xây dựng Giáo Phận thành một Hội Thánh Tham Gia và Hiệp Thông trong tinh thần Đồng trách Nhiệm.”

 Sống “Liên đới - Trách nhiệm” là con đường mục vụ thời nay. Đáp trả tinh thần Cựu Ước và nền văn hóa Tây phương.

 Gương sống đạo “Liên Đới - Trách Nhiệm”

 Câu chuyện: Tội vô tình.

 Có một tu viện công giáo, trước kia rất sầm uất, như một trung tâm thu hút khách hành hương. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác gì như ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thưa thớt, cuộc sống thật buồn! Tu Viện Trưởng tìm hiểu nguyên nhân hay lỗi lầm gì đã đưa tu viện tới tình trạng thảm thương này. Có vị Ẩn Sĩ cho biết: “Tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội Vô Tình.” Và ông giải thích: “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quí vị, nhưng quí vị không nhận ra Ngài.” Nhận được lời giải đáp, Tu Viện Trưởng liền triệu tập mọi người lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang vậy?

Và từ đó mọi người đều sống “Liên đới-Trách nhiệm,” đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đến xin gia nhập cộng đoàn (Trích món quà Giáng sinh).

Thực hành          

1.      Quan tâm, đối xử với nhau như với Đức Giêsu Cứu Thế.

2.      Cụ thể, qua tiếp xúc, giao lưu, đối thoại, chúng ta nhận ra ưu và khuyết điểm nơi người chung quanh. Rồi tìm cách khích lệ, phát huy ưu điểm và giúp khắc phục khuyết điểm, để mỗi ngày chúng ta được thăng tiến. Hầu nên giống Chúa Kitô hơn.

3.      Liên đới-Trách nhiệm với xã hội, các Tôn giáo trong địa phương…

4.      Liên đới-Trách nhiệm với các tang gia, gia đình neo đơn, khó khăn…

4. Đào luyện mục vụ: “Yêu Thương-Phục Vụ”

4.1. Lý do

4.1.1. Đáp trả Tân Ước

 Chúa Giêsu dạy: “Ta đến để phục vụ.”[19]Và truyền: “Hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con.”[20]

4.1.2. Đáp trả văn hóa Đông Phương

 Văn hóa Phương Đông có gốc nông nghiệp. Mặt bằng nông nghiệp tác động thêm vào việc hình thành tính cách con người. Vì thế, con người vốn sẵn tính ghen ghét, lại càng thêm: “Đố kỵ cào bằng.”

 Mặt khác, do ảnh hưởng của văn hóa khu vực, nhất là

Bài viết khác