NHỮNG ĐIỀU PHẢI TIN … THEO CẤU TRÚC “BA NGÔI”

 

 

Dẫn vào

Không đi ngược với tự do của con người, đức tin là một hành vi nhân linh của con người. Khi tin, con người sử dụng trí khôn (wisdom) để “hiểu biết” điều mình đang làm (mặc dù không thể hiểu hết được) và thực sự tự do “ước muốn” (free will) làm điều ấy (có sự ưng thuận của ý chí).

 

Tự do là khả năng, bắt nguồn từ lý trí và ý chí, có thể hành động hay không hành động, có thể làm việc này hoặc việc khác; và như vậy, tự mình làm những hành động có ý thức. Nhờ có ý chí tự do, mỗi người tự quyết định về chính bản thân mình. Trong con người, sự tự do là một sức mạnh để tăng trưởng và trưởng thành trong chân lý và điều thiện. Sự tự do đạt tới mức hoàn hảo, khi nó được quy hướng về Thiên Chúa, là vinh phúc của chúng ta.

 

Thật ra, để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, Giáo hội đã từng đưa ra nhiều tín biểu: những tín biểu thời các tông đồ, tín biểu Quicumque, tín biểu Công đồng Tôlêđô, tín biểu Công đồng Latêranô, tín biểu Công đồng Lyon, tín biểu Công đồng Trentô, tín biểu của Ðức Giáo hoàng Ðamaxiô, bản “Kinh Tin Kính của dân Thiên Chúa” của Ðức Giáo hoàng Phaolô VI (1968). Vậy đâu là những điều một tín hữu Công giáo cần tin; một tín hữu Công giáo thực sự phải tin những gì?

 

Những điều phải tin

Mặc dù sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo có đến hai ngàn tám trăm sáu mươi lăm (2.865) số, người ta vẫn có thể đắc dụng Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople để giải đáp cho câu hỏi “Một tín hữu Công giáo thực sự phải tin những gì?”

 

Các tín hữu Công giáo nói chung phải tin những điều được mạc khải trong Thánh kinh và Thánh truyền, những điều được truyền dạy qua hành vi long trọng định tín của Giáo hội hoặc qua huấn quyền thông thường và phổ quát. Trong ý thức đó, người ta cần nhận ra rằng Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople bao hàm cách “tổng quát mà chi tiết” những điều phải tin, cả những tín điều đã được định tín lẫn chưa được định tín, những giáo huấn tỏ tường và vô ngộ của Giáo hội. Đó là những chân lý phải được tin nhận bằng đức tin.

 

Vì thế, để tìm hiểu thêm về Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople, chúng tôi đặt tín biểu này đối chiếu với Tín biểu Các Tông Đồ. Với sự thêm vào phần Anh ngữ đặt phía dưới phần tiếng Việt (trích dẫn từ số 184 trong Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam; Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2009), ý nghĩa các từ ngữ tiếng Việt trong phần này như rõ rệt thêm hơn dẫu rằng có đôi chỗ nên được sửa lại (khi thuận tiện).

 

Tín biểu Các Tông Đồ

Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

I believe in God the Father almighty, creator of heaven and earth.

Tôi tin kính Ðức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Ðức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi. Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh, chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng, ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

 

I believe in Jesus Christ, his only Son, our Lord. He was conceived by the power of the Holy Spirit and born of the Virgin Mary. Under Pontius Pilate He was crucified, died, and was buried. He descended to the dead. On the third day he rose again. He ascended into heaven and is seated at the right hand of the Father. He will come again to judge the living and the dead.

 

Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

I believe in the Holy Spirit, the holy catholic church, the communion of saints, the forgiveness of sins, the resurrection of the body, and the life everlasting. Amen.

 

Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople

Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.

We believe in one God, the Father, the Almighty, maker of heaven and earth, of all that is, seen and unseen.

 

Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Ðức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa; Ánh sáng bởi Ánh sáng; Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật; được sinh ra mà không phải được tạo thành; đồng bản thể với Ðức Chúa Cha: nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng. Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Ðức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.

 

We believe in one Lord, Jesus Christ, the only Son of God, eternally begotten of the Father, God from God, Light from Light, true God from true God, begotten, not made, of one Being with the Father. Through him all things were made. For us men and for our salvation, he came down from heaven: by the power of the Holy Spirit he was born of the Virgin Mary, and became man. For our sake he was crucified under Pontius Pilate; he suffered died and was buried. On the third day he rose again in fulfillment of the Scriptures; he ascended into heaven and is seated at the right hand of the Father. He will come again in glory to judge the living and the dead,  and his kingdom will have no end.

 

Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Ðấng ban sự sống; Người bởi Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.

We believe in the Holy Spirit, the Lord, the giver of life, who proceeds from the Father and the Son. With the Father and the Son he is worshipped and glorified. He has spoken through the Prophets.

 

Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội. Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen.

We believe in one holy catholic and apostolic Church. We acknowledge one baptism for the forgiveness of sins. We look for the resurrection of the dead, and the life of the world to come.Amen.

 

So với Tín biểu nguyên thủy của Công đồng Nicea (325) chống lại các điều nòng cốt của mậu thuyết Arianism, Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople (381): (1) nói nhiều hơn về ngôi vị Chúa Kitô; (2) bỏ cụm từ “từ bản thể của Đức Chúa Cha” sau từ homoousios; (3) nói nhiều hơn về Chúa Thánh Thần; (4) bổ túc một số điều về Giáo hội, về nhiệm tích rửa tội, về sự sống lại và cuộc sống đời đời; và (5) không có một án phạt tuyệt thông nào.

 

… theo cấu trúc “Ba Ngôi”

Vẽ nên những đường nét lớn về thần học Ba Ngôi, Thánh Âutinh cho rằng, để có thể mon men tìm hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa, người ta cần phải có tâm hồn đạo đức, trong sạch, đầy ơn Chúa. Suy luận chỉ là bước đầu để hướng tới chiêm niệm, yêu mến, rồi thực hành. Chính khi cử hành thánh lễ Chúa Ba Ngôi cũng là lúc Giáo hội muốn người Kitô hữu nhìn lại hình ảnh của một Thiên Chúa duy nhất: Cha, Con và Thánh Thần. Sự duy nhất ấy nói lên tình yêu Thiên Chúa. Vì vậy, để ứng với “Ba chương của ấn tín rửa tội”, Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople trước hết không chỉ nói về Thiên Chúa Ngôi Thứ Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Thứ Hai và mầu nhiệm cứu chuộc con người; sau là Thiên Chúa Ngôi Thứ Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa nhân loại, mà còn nói đến yếu tố thực hành của niềm tin này trong Giáo hội, một giáo hội công giáo, duy nhất, thánh thiện và tông truyền.

 

Chính vì thế, Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople gồm bốn phần: ba phần nói về các Ngôi Thiên Chúa —một phần về Chúa Cha, một phần về Chúa Giêsu Kitô, một phần về Chúa Thánh Thần— và phần cuối về Giáo hội Công giáo duy nhất, thánh thiện và tông truyền. Những tín điều này là các chân lý được Thiên Chúa mạc khải, những điều các tín hữu Công giáo phải tin (tin = thái độ đáp ứng phù hợp với tín điều). Hơn nữa, liên quan đến các điều một người Công giáo phải tin, ta không nên quên các chân lý “nền tảng” mặc dù chưa bao giờ được định tín:

 

Bởi vì, nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ. Thánh kinh nói: “Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng.”

Ai khước từ Ta và không đón nhận lời Ta, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Thật vậy, không phải Ta tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai Ta, truyền lệnh cho Ta phải dạy gì hay nói gì.

 

Vì vậy, niềm tin Công giáo nói chung đòi các tín hữu phải sống công bình và yêu thương, thành thật và can đảm, hòa thuận và tha thứ. Những ai sống như vậy sẽ tìm được sự hướng dẫn cho mình trong Phúc âm và giáo huấn của Giáo hội. Trên thực tế, người Công giáo phải làm tất cả điều này chủ yếu dựa vào quyền giảng dạy của Giáo hội, được gọi là huấn quyền, tức là quyền được thực thi cách long trọng như trong những tuyên bố chính thức của các đức giáo hoàng, trong các công đồng chung gồm các giám mục được các đức giáo hoàng chỉ định, hoặc qua cách bình thường với những phương thế quen hướng dẫn cho các tín hữu.

 

Huấn quyền Giáo hội thi hành quyền bính đã được Chúa Kitô ban cho đến mức độ đầy đủ nhất khi tuyên bố các tín điều, tức là khi đưa ra các chân lý trong mạc khải thánh và buộc các Kitô hữu phải suy phục bằng đức tin không thể đảo ngược, hoặc khi dứt khoát đưa ra các chân lý có mối tương quan thiết yếu với những chân lý này.

Theo Công đồng Vaticanô I, mọi người Công giáo buộc phải tin tất cả các tín điều của Giáo hội vì người ta không thể đạt được ơn công chính hóa và phần rỗi đời đời nếu như không hoàn toàn tin nhận đức tin tín lý đã được Giáo hội Công giáo Rôma xác định. Các tín điều của Giáo hội là những chân lý liên quan đến đức tin và luân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải, được các tông đồ truyền lại trong Thánh kinh hoặc được Thánh truyền và Giáo hội trình giải, được sự phán quyết trang trọng và được huấn quyền phổ quát thông thường giảng dạy (which are truths concerning faith and morals revealed by God, transmitted from the Apostles in the Scriptures or Tradition and proposed by the Church, are taught by solemn judgment and by ordinary universal magisterium).

Phải tin bằng đức tin thần linh và Công giáo tất cả những điều chứa đựng trong lời Chúa, được viết ra hoặc được lưu truyền, và những điều được Giáo hội trình giải, hoặc bằng phán đoán long trọng hoặc bằng nhiệm vụ giảng dạy thông thường và phổ quát, để được tin như đã được Thiên Chúa mạc khải.

 

Ngoài các tín điều được công nhận cách hiển nhiên trong Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople, các điều giáo lý Công giáo trong tín biểu này chắc hẳn có liên quan đến nhiều giáo lý chính yếu khác về đức tin Công giáo, Giáo hội Công giáo, và đời sống Công giáo. Tín biểu đem đến cho người tín hữu Công giáo ánh sáng để hiểu biết các giáo lý khác: trung thành với giáo huấn chung quyết, tôn trọng giáo huấn có thẩm quyền, chấp nhận giáo huấn được chuẩn nhận mà không loại bỏ giáo huấn được cho phép (adhering to definitive teaching, respecting authoritative teaching, accepting approved teaching, not rejecting allowed teaching).Thực vậy, mặc dù phải tin tất cả các tín điều, nhưng tín hữu Công giáo không buộc phải tin các giáo lý bởi vì các giáo lý không được đoàn sủng vô ngộ bảo vệ. Rõ ràng mọi tín điều đều là giáo lý, nhưng không phải giáo lý nào cũng là tín điều. Hơn nữa, “… không có một danh mục các tín điều nào được toàn thể các tín hữu Công giáo chấp nhận, kể cả các giám mục và các nhà thần học” bởi vì không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được sự dị biệt giữa các giáo lý và các tín điều.

 

Tuy nhiên, với Kinh Tin Kính thì khác. Francis A. Sullivan, trong tác phẩm Creative Fidelity: Weighing and Interpreting Documents of the Magisterium, đã khẳng định: “không thể hoài nghi rằng mỗi điều của Kinh Tin Kính đều là một tín điều”. Chẳng vậy mà vào mỗi Chúa nhật, các tín hữu Công giáo công khai tuyên xưng đức tin của mình qua Kinh Tin Kính (Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople).

 

Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha: nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh nữ Maria, và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con: Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy. Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội. Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen.

 

Tạm kết

Tóm lại, vì lý trí không đủ để giúp chúng ta biết về các sự thật siêu nhiên mà cần phải có đức tin như một ân huệ của Thiên Chúa, người Công giáo buộc phải tin cả các tín điều đã được định tín lẫn chưa được định tín. Họ phải tin Thánh kinh và Thánh truyền, qua đó, các chân lý đã được truyền lại. Nghĩa là, họ phải tin (credenda) những điều đã được mạc khải trong Thánh kinh và Thánh truyền, những điều đã được giảng dạy cách phổ quát qua việc định tín trang trọng hoặc qua huấn quyền phổ quát và thông thường. Họ không được quên niềm tin Công giáo vào Chúa Giêsu Kitô và các giáo huấn của Người. Đây là những điều tối cần thiết như phương thế để được công chính hóa và được cứu độ: “Hễ ai tin và chịu phép Rửa thì sẽ được cứu độ; còn kẻ nào không tin sẽ bị luận phạt”.

Qua các bản văn của mình, Thánh Gioan nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tin vào Chúa Giêsu Kitô để có thể đạt đến phần phúc muôn đời mà mọi người Công giáo đều mong ước.

 

Như ông Môsê đã treo con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thương thế gian đến độ đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị kết án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin tôi Hằng Hữu (I Am), các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.

 

Để sở đắc niềm tin này, niềm tin “theo cấu trúc Ba Ngôi”, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài thúc đẩy và giúp quy hướng con tim chúng ta về cùng Thiên Chúa là Cha yêu thương, mở mắt lý trí và ban sự dịu ngọt cho những ai thành tâm đón nhận và tin theo chân lý mạc khải.

30-6-2012

Lm. Giuse Tạ Huy Hoàng

 

X. http://en.wikipedia.org/wiki/Free_will (22-6-2012).

GLHTCG, số 1731, theo bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin (HĐGMVN), Giáo lý của Hội thánh Công giáo (Catechismus Catholicae Ecclesiae) (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2009), 515.

DS 164.

DS 75-76.

DS 525-541.

DS 800-802.

DS851-861.

DS 1862-1870.

DS 71-72.

Năm 1968, SPF.

Ngày 11 tháng 10 năm 1992, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành Tông hiến “Kho tàng đức tin” (Constitutio Apostolica “Fidei Depositum”) công bố sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo (Catechismus Catholicae Ecclesiae).

Trong tất cả các tín biểu, có hai tín biểu chiếm một địa vị rất đặc biệt: Tín biểu Các Tông Đồ (tóm lược trung thành đức tin của các tông đồ) và Tín biểu Công đồng Nicea-Constantinople (phát xuất từ hai công đồng đầu tiên, năm 325 và năm 381); x. http://education.yahoo.com/reference/dictionary/entry/Nicene+Creed.

X. Francis A. Sullivan, Creative Fidelity: Weighing and Interpreting Documents of the Magisterium (Eugene, OR: Wipt and Stock Publishers, 2003), 13; 41-108.

Thí dụ: Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy (I believe in the Holy Spirit, the holy catholic church, the communion of saints, the forgiveness of sins, the resurrection of the body, and the life everlasting).

X. GLHTCG, số 184.

X. GLHTCG, số 184.

“Tại Công đồng Nicea (năm 325), Giáo hội tuyên bố một phong trào vào thế kỷ IV là rối đạo vì chối bỏ thần tính thực sự của Chúa Kitô” (McBrien, The HarperCollins Encyclopedia, 92-3).

“(1) has more about the person of Christ; (2) omits the phrase ‘from the substance of the Father’ after homoousios; (3) says more about the Holy Spirit; (4) adds the articles on the Church, baptism, the resurrection, and eternal life; and (5) contains no anathemas” (Hardon, Pocket Catholic Dictionary, 285).

Tác phẩm De Trinitate của Thánh Âutinh kết thúc bằng lời cầu nguyện: “Xin cho con nhớ đến Chúa, hiểu biết Chúa và yêu mến Chúa”.

X. 1 Ga 4,8.

Irênê, Dem 100.

Qua các thế kỷ, có nhiều cuộc tranh luận liên quan đến Chúa Giêsu về những đặc tính phức tạp và mầu nhiệm của Người. Người đồng thời vừa là Thiên Chúa vừa là con người, có hai bản tính và hai ý chí riêng biệt.

Những vấn đề liên quan đến nguồn gốc và các đặc tính của Chúa Thánh Thần cũng như quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa đã được giải đáp trong các tín điều được định tín.

X. Sullivan, Creative Fidelity, 41.

Rm 10,9-11.

Ga 12,48-49.

Tuy nhiên, về mặt đức tin và luân lý, các chân lý linh thánh thường được các công đồng chung hoặc đức giáo hoàng ngự tòa công bố để phi bác những giải thích sai lạc về đức tin. Do đó, số tín điều ít hơn các giáo lý thuộc huấn quyền phổ quát và thông thường (x. McBrien, The HarperCollins Encyclopedia, 425).

GLHTCG, số 88.

X. http://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=6330 (22-6-2012).

DS3011; ND 121; x. Karl Rahner, Foundations of Christian Faith: An Introduction to the Idea of Christianity (London, 1978).

Chúng có liên quan nhiều hơn đến sự hiện hữu của Thiên Chúa, bản tính của Thiên Chúa, mạc khải của Thiên Chúa, tất cả các thánh, nhất là Đức Trinh nữ Maria (các tín điều về Đức Mẹ đã được định tín liên quan đến sự cá biệt của Mẹ), đức giáo hoàng (những cuộc tranh cãi về Giáo hội và quyền bính của các vị lãnh đạo Giáo hội cũng dẫn đến việc thiết lập các tín điều), các nhiệm tích và phụ tích, sự sống đời đời, thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục, lời cầu nguyện, kinh Tin Kính, các giới răn, đức ái, hạnh phúc, đau khổ. Vì thế, trong số giáo lý này, cũng có thể tìm được những tín điều khác nữa, đã được cũng như chưa được định tín.

X. http://www.the-pope.com/magchuco.html (22-6-2012).

McBrien, The HarperCollins Encyclopedia, 425.

X. Sullivan, Creative Fidelity, 96; x. Leo J. O’Donovan, “A Journey into Time: The Legacy of Karl Rahner’s Last Years,” Theological Studies 46 (1985), 621-44.

Đó cũng là đoạn dài nhất trong công thức Tuyên xưng đức tin “được những người mà giáo luật buộc phải tuyên xưng đức tin, sử dụng khi bắt đầu nhiệm kỳ một giáo vụ nào đó trong Giáo hội” (“used by those who are obliged by canon law to make a profession of faith at the beginning of their term of office in some responsible position in the church”) (Sullivan, Creative Fidelity, 13).

Ủy ban Phụng tự (HĐGMVN), Sách lễ Rôma (Missale Romanum, Rôma: Nxb. Vaticanô, 1975) (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2010), 427-28.

“Nhiều điều trong Kinh Tin Kính vẫn là những tín điều chưa được định tín, vì Giáo hội thấy không cần phải định tín những điều ấy.” (Sullivan, Creative Fidelity, 57).

“Không phải tất cả các chân lý như vậy đều có thể tìm được trong Thánh kinh cách rõ ràng, nhưng chúng phải được Giáo hội nhìn nhận là thực sự tiềm ẩn trong kho tàng linh thánh được ủy thác cho Giáo hội.” (Sullivan, Creative Fidelity, 13).

Mc 16,16.

Ga 3,14-18.

Ga 8,24.

Bài viết khác