Giáo Hội Công Giáo có một hình thức thờ phượng đặc biệt gọi là tôn thờ Thánh Thể. Mỗi nhánh tâm linh lớn của Kitô giáo đều có đặc sủng riêng hình thành nên sự đóng góp của nhánh ấy cho sự phong phú của toàn Giáo hội. Đối với những người theo đạo Tin lành, đó là sự tôn kính Lời Chúa; đối với Chính thống giáo, đó là việc tôn kính ảnh tượng; đối với người Công Giáo, đó là sự tôn thờ Thánh Thể. Mỗi một cách trong ba cách này đều đạt được cùng một mục đích chung là chiêm ngưỡng Chúa Kitô trong mầu nhiệm của Ngài.

Sự tôn kính và chầu Thánh Thể ngoài Thánh Lễ là một thành quả tương đối gần đây của lòng đạo đức Kitô giáo. Nó bắt đầu phát triển ở phương Tây từ thế kỷ thứ Mười Một như là một phản ứng chống lại dị giáo Berengar thành Tours, là người đã từ chối sự hiện diện “thật sự” của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và chỉ coi đó như một sự hiện diện mang tính biểu tượng. Kể từ ngày đó, chúng ta có thể nói rằng lòng tôn sùng Thánh Thể có những ảnh hưởng quyết định lên cuộc sống của mọi vị thánh. Đó là nguồn năng lượng tâm linh to lớn, một loại lò sưởi luôn được thắp sáng giữa nhà của Thiên Chúa, qua đó tất cả các con cái thánh thiện của Giáo hội đã sưởi ấm bản thân. Hết thế hệ này sang thế hệ khác các tín hữu Công Giáo đã cảm nhận được sự run rẩy trước sự hiện diện của Thiên Chúa khi họ hát bài “Adoro te devote” – “Con thờ lạy hết tình” - trước Mình Thánh Chúa.

Những gì tôi nói về việc chầu và chiêm niệm Thánh Thể có thể được áp dụng gần như hoàn toàn trong việc chiêm niệm các ảnh tượng. Sự khác biệt là trong trường hợp đầu tiên chúng ta có sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô và trong trường hợp thứ hai chỉ có sự hiện diện trong ý tưởng. Cả hai đều dựa trên sự chắc chắn rằng Chúa Kitô phục sinh vẫn sống và vẫn hiện diện qua các dấu chỉ bí tích và nhờ đức tin.

Khi lắng đọng và im lặng trước Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể, bao lâu có thể, chúng ta có thể nhận thấy những ao ước của Người dành cho chúng ta. Chúng ta gạt các dự án của chúng ta sang một bên để nhường chỗ cho những dự án của Chúa Kitô; khi đó ánh sáng của Thiên Chúa thâm nhập vào trái tim chúng ta từng chút một và chữa lành nó. Một cái gì đó ập đến nhắc nhở chúng ta về những gì xảy ra với những cây cối vào mùa xuân. Lá xanh mọc lên từ cành cây; chúng hấp thụ một số thành phần nhất định từ bầu khí quyển, do tác động của ánh sáng mặt trời, trở thành “gắn bó”và biến thành chất dinh dưỡng cho cây. Không có những chiếc lá xanh như vậy, cây không thể phát triển và sinh hoa trái và sẽ không góp phần tạo ra dưỡng khí mà chính chúng ta thở.

Chúng ta cần phải giống như những chiếc lá xanh! Chúng là biểu tượng của các linh hồn Thánh Thể, những người khi chiêm ngưỡng “Mặt trời công lý”, là Chúa Kitô, “gắn” chính mình vào chất dinh dưỡng là chính Chúa Thánh Thần để mang lại lợi ích cho toàn bộ cây vĩ đại, là Giáo hội. Tông đồ Phaolô nói về điều này bằng những từ khác khi ngài viết: “Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.” (2 Cô 3:18).

Nhà thơ Giuseppe Ungaretti, khi đang chiêm ngưỡng mặt trời mọc vào một buổi sáng sau một đêm dài tăm tối, đã viết một bài thơ gồm hai câu thơ rất ngắn gọn: “M’illumino / d’immenso”: “Tôi tự soi sáng mình / với sự bao la” [8]. Những lời này có thể được lặp đi lặp lại bởi những ai đang chiêm ngắm trước Thánh Thể. Chỉ có Chúa mới biết có bao nhiêu ân sủng đã lặng lẽ đến với Giáo hội qua những người thờ phượng này.

Tôn sùng Thánh Thể cũng là một hình thức truyền giáo, và là một trong số những cách hiệu quả nhất. Nhiều giáo xứ và cộng đồng đã thêm việc tôn thờ Thánh Thể vào các chương trình hàng ngày hoặc hàng tuần của họ, và đã trải nghiệm điều đó. Khi nhìn thấy một nhà thờ ở trung tâm thành phố vào ban đêm mở cửa và thắp sáng cho mọi người thờ phượng trong sự im lặng trước Mình Thánh Chúa, nhiều người qua đường đã dừng lại, nhìn xung quanh và thốt lên “Chúa đang ở đây!” – hệt như những người ngoại đạo đã làm khi họ đặt chân vào một trong những buổi nhóm họp các tín hữu Kitô thời sơ khai (xem 1 Cô 14:25).

Chiêm niệm Kitô giáo không bao giờ là con đường một chiều. Điều đó không có nghĩa là nhìn chằm chằm vào rốn của mình, như người ta thường nói, để tìm kiếm bản thể sâu sắc nhất của mình. Nó luôn liên quan đến hai ánh mắt chạm trán nhau. Một người nông dân ở giáo xứ Ars đã tham dự vào một hình thái tôn sùng Thánh Thể tốt nhất khi anh dành hàng giờ trong nhà thờ với ánh mắt chăm chú nhìn vào nhà tạm. Khi thánh Curé thành Ars hỏi anh ta đang làm gì trong nhà thờ, anh ta trả lời: “Không có gì. Tôi nhìn Ngài và Ngài nhìn tôi!”

Nếu đôi khi chúng ta nhìn xuống hoặc rút lại cái nhìn của mình, Thiên Chúa không bao giờ nhìn xuống hoặc rút lại cái nhìn của Người. Đôi khi chiêm niệm Thánh Thể chỉ đơn giản là ở cùng Chúa Giêsu, ngồi dưới ánh mắt của Người, cho Người niềm vui nhìn ngắm chúng ta. Cho dù chúng ta chỉ là những tạo vật, không đáng chi và chỉ là những người tội lỗi, chúng ta dẫu sao cũng vẫn là hoa trái của cuộc thương khó Chúa, là những người mà Ngài hiến mạng sống mình: “Ngài nhìn tôi!” Điều đó có nghĩa là chấp nhận lời mời của Chúa Giêsu đưa ra với các tông đồ trong vườn Giệtsimani “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” (Mt 26:38).

Do đó, việc tôn thờ Thánh Thể không bị cản trở bởi sự khô khan mà đôi khi chúng ta có thể trải nghiệm, cho dù đó là do những lối sống bê tha của chúng ta hay vì Chúa cho phép điều đó xảy ra để thanh tẩy chúng ta. Sự khô khan đó thực sự có thể có ý nghĩa nếu chúng ta từ bỏ ước muốn riêng để làm hài lòng Ngài và nói, như Chân Phước Charles de Foucauld thường nói với Chúa Giêsu “Hạnh phúc của Chúa là quá đủ cho con”, nghĩa là con thấy Chúa vui là con mãn nguyện.[9] Chúa Giêsu có tất cả sự vĩnh cửu để làm cho chúng ta hạnh phúc; chúng ta chỉ có khoảng thời gian ngắn ngủi này để làm cho Người vui, vậy làm thế nào chúng ta lại có thể để trôi mất đi cơ hội này, một cơ hội sẽ không bao giờ trở lại trong cõi vĩnh hằng?

Khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu trong Bí tích trên bàn thờ, chúng ta thực hiện lời tiên tri được loan báo vào lúc Chúa Giêsu chết trên thập tự giá: “Họ sẽ nhìn vào Đấng mà họ đã đâm xuyên qua” (Ga 19,37). Việc chiêm ngưỡng như vậy tự nó cũng là tiên tri bởi vì nó tiên báo những gì chúng ta sẽ làm mãi mãi ở Giêrusalem trên trời. Đó là hoạt động cánh chung và tiên tri nhất mà chúng ta có thể thực hiện trong Giáo hội. Khi thời giờ đã tận, Chiên Con sẽ không còn bị hy sinh và thịt Người sẽ không còn tiếp tục bị ăn nữa. Sự thánh hiến và hiệp thông sẽ chấm dứt, nhưng sự chiêm ngưỡng Chiên Con bị giết vì chúng ta sẽ không bao giờ chấm dứt. Thực tế đây là những gì các thánh hiện đang làm trên thiên đàng (xem Rev 5: 1ff). Khi chúng ta ở trước nhà tạm, chúng ta tạo thành một ca đoàn duy nhất với Giáo hội trên Thiên Quốc: họ đứng trước bàn thờ, còn chúng ta đứng phía sau bàn thờ, có thể nói như vậy; họ trải nghiệm thiên nhan Chiên Con trong khi chúng ta cảm nhận qua đức tin.

Năm 1967 khi phong trào Canh Tân Đặc Sủng bắt đầu mà trong năm mươi năm đã chạm đến và canh tân hàng triệu cuộc sống và làm phát sinh vô số những điều mới trong Giáo hội, cả cá nhân và cộng đồng. Chúng ta không nhấn mạnh đủ rằng đó không phải là một “phong trào giáo hội” theo nghĩa thông thường của từ này; đó là một dòng ân sủng được ban cho toàn thể Giáo hội, một “mũi tiêm của Chúa Thánh Thần” rất cần thiết. Nó giống như một cú điện giựt được nhắm vào đám đông là Giáo hội, và một khi mục tiêu này đã đạt được, thì sẵn sàng biến mất.

Tôi đề cập đến điều đó ở đây bởi vì nó bắt đầu chính xác với một kinh nghiệm phi thường trong việc tôn thờ Thiên Chúa hằng sống vốn là chủ đề của bài tĩnh tâm này. Nhóm sinh viên tại Đại học Duquesne ở vùng Pittsburg, những người đang tham gia vào một khóa tĩnh tâm, vào một buổi tối thấy mình trong nhà nguyện trước Thánh Thể thì bất ngờ có một điều bất thường xảy ra mà một phụ nữ trong số họ sau đó đã mô tả như sau:

“Nỗi sợ hãi Chúa tràn ngập trong chúng tôi; một nỗi sợ hãi khiến chúng tôi không dám nhìn lên. Ngài hiện diện một cách thực sự cá nhân và chúng tôi sợ Ngài quá yêu chúng tôi. Chúng tôi tôn thờ Ngài, và lần đầu tiên biết ý nghĩa của việc thờ phượng. Chúng tôi nhận ra một kinh nghiệm cháy bỏng về một thực tại quá choáng ngợp, và sự hiện diện của Chúa mà từ đó đã khiến chúng tôi hiểu được những hình ảnh về Giavê trên Núi Sinai khi nó rung chuyển và bùng nổ trước ngọn lửa là sự Hiện Hữu của Ngài, và kinh nghiệm của tiên tri Isaia (Is 6: 1-5), cũng như lời công bố rằng Thiên Chúa của chúng ta như một ngọn lửa đang tiêu đốt. Nỗi sợ thánh này cách nào đó giống như tình yêu hay một tình yêu gợi lên khi chúng ta thực sự nhìn thấy Ngài. Ngài thực sự đáng yêu và xinh đẹp, nhưng chúng tôi không thấy hình ảnh nào. Như thể trong ánh quang huy hoàng, rực rỡ chính Chúa đã đi vào phòng và lấp đầy cả căn phòng lẫn chúng tôi.” [10]

Sự hiện diện đồng thời cả sự uy nghi lẫn sự tốt lành nơi Thiên Chúa, cũng như nỗi sợ hãi và lòng yêu mến nơi tạo vật là một “mầu nhiệm đầy cảm hứng và hấp dẫn”, như các học giả tôn giáo mô tả [11]. Người phụ nữ đã mô tả thời điểm đó như thế không biết rằng đây là một bản tóm tắt hoàn hảo về những đặc điểm của Thiên Chúa hằng sống trong Kinh thánh.

Chúng ta hãy kết thúc bằng một câu của Thánh vịnh 95 mà Lời mời gọi trong Các Giờ Kinh Phụng vụ cho chúng ta bắt đầu mỗi ngày mới:

Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, 
quỳ trước tôn nhan CHÚA là Đấng dựng nên ta. 
Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.

 

(1) Cantalamessa, You Shall Worship The Lord Your God - Fourth Lent Sermon 2019

Bài viết khác