VĂN KIỆN JUSTITIA IN MUNDO – CÔNG BẰNG TRÊN THẾ GIỚI

THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC, ĐẠI HỘI ĐỒNG LẦN THỨ HAI

JUSTITIA IN MUNDO

CÔNG BẰNG TRÊN THẾ GIỚI

 

 

 

 

Thăng Tiến Công Bằng Trên Thế Giới

30.11.1971

LỜI TỰA

Do nhu cầu học hỏi, chúng tôi đã chuyển ngữ văn kiện « La justice dans le monde » (« Iustitia in mundo ») của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971, diễn ra tại Vatican, từ 30/9 đến 6/11/1971. Thượng Hội Đồng này quy tụ 212 Giám mục, đa số đến từ thế giới thứ ba. Nếu với Gaudium et spes, niềm vui và nỗi buồn đi đôi với nhau, thì tại Thượng Hội Đồng này, nỗi buồn và lo âu xem ra thắng thế trên niềm vui.

Quả thế, văn kiện này ra đời trong bối cảnh thế giới đầy những bất công, được kinh tế gia người Anh, bà Barbara Ward-Jackson, mô tả như là « Những năm 70 phẫn nộ ». Đó là tiếng kêu cứu của các dân tộc ở các nước thế giới thứ ba đang đau khổ và phẫn nộ, sau cuộc Chiến Tranh Thế Giới lần II và sau thập niên phát triển đầu tiên (những năm 60) được Liên Hiệp Quốc phát động. Sự chênh lệch to lớn giữa người giàu và người nghèo, giữa nước giàu và nước nghèo ; những con người bất hạnh phải chịu cảnh đói nghèo và sống trong những điều kiện phi nhân ; « những bất công nghiêm trọng đang dệt nên một mạng lưới những thống trị, những áp bức, những bóc lột trên mảnh đất nhân sinh. Chúng bóp nghẹt các quyền tự do…» (số 3)… tất cả đó đưa đến những kinh nghiệm tiêu cực và từ đó khơi dậy ý thức mạnh mẽ về công bằng để « nâng dậy thế giới » (số 4). Đặc biệt, nó giúp Giáo Hội, dưới ánh sáng của Tin Mừng, « ý thức về ơn gọi … hiện diện giữa lòng thế giới để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, sự giải thoát cho người bị áp bức, niềm vui cho người sầu khổ» (số 5). Đó cũng là thời kỳ của những nền thần học giải phóng đầu tiên.

Đây là văn kiện đặc biệt được dành riêng bàn về vấn đề công bằng trên thế giới. Nó mạnh mẽ khẳng định rằng « cuộc đấu tranh cho công bằng và việc tham gia biến đổi thế giới xuất hiện… như là một chiều kích cấu thànhcủa việc rao giảng Tin Mừng » (số 7). Lời khẳng định này được tiếp sức bởi Đức Bênêđictô XVI, tuy nhiên với một thay đổi từ ngữ không phải là không có ý nghĩa : « Dấn thân cho công bằng và nhằm biến đổi thế giới là một đòi hỏi thuộc về bản chấtcủa công cuộc Phúc Âm hóa » (Verbum Domini, số 100).

« Công bằng trên thế giới » có những ảnh hưởng đáng kể. Nó mang lại những thay đổi trong nếp sống cá nhân và cộng đoàn, đặc biệt nơi các dòng tu. Nó làm mới lại sự chọn lựa ưu tiên của Tin Mừng cho người nghèo, những người bên lề xã hội, đấu tranh cho công lý và nhân quyền chống lại những cơ chế bất công, ưu tư về môi trường. Điều thú vị là các cộng đoàn Kitô hữu có cơ hội xét lại vấn đề công bằng ngay trong nội bộ của mình : chỗ đứng của giáo dân và nữ giới, liên đới tài chính, sự tham gia chủ động trong các cộng đoàn và vấn đề thực hành công bằng ở đó, thậm chí vấn đề công bằng được đặt lên hàng đầu trong định hướng tu trì và cả một linh đạo về công bằng được khơi lên.

Học hỏi về công bằng đặt ra một vấn đề cụ thể và cấp bách : giáo dục về công bằng, ý thức rằng những bất công xã hội sẽ không thể được sửa chữa, nếu trước tiên nó không được thay đổi nơi tâm hồn mỗi người, « nếu mỗi người không tuân giữ các trật tự mà Thiên Chúa đã thiết lập » (Mater et Magistra, số 165).

Chính trong tinh thần đó mà chúng tôi chuyển ngữ văn kiện làm nên phần gia sản của Giáo Hội này, không phải trước tiên với mục đích giới thiệu và phổ biến chúng, nhưng là để học hỏi và hun đúc nơi bản thân chúng tôi ý thức về công bằng và thực hành đức công bằng trong xã hội hôm nay như là một phần đòi hỏi thiết yếu và có tính ngôn sứ của sứ điệp Tin Mừng.

Đại Chủng Viện Huế, ngày 01.01.2013

Lớp Thần học III (Khóa VII)

LỜI GIỚI THIỆU

Văn kiện sau đây có tác giả là Thượng Hội Đồng Giám Mục, cấp đoàn thể mới, xuất thân từ Công đồng Vatican II. Thượng Hội Đồng nhóm họp vào năm 1971 (từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 6 tháng 11) là Thượng Hội Đồng thứ ba tính từ các Thượng Hội Đồng chung đã nối tiếp nhau kể từ Công Đồng. Có một Thượng Hội Đồng, gọi là “thông thường”, vào năm 1967; một Thượng Hội Đồng khác, được gọi là “ngoại thường”, giới hạn hơn, vào năm 1969. Thượng Hội Đồng năm 1971 một lần nữa được gọi là thông thường.

Thượng Hội Đồng 1971 có hai chủ đề trong chương trình làm việc: – Thừa tác vụ linh mục, – Công bằng trên thế giới. Trên mỗi một chủ đề này, Thượng Hội Đồng đã soạn thảo và bỏ phiếu một văn kiện tập hợp các quan điểm quan trọng nhất và các mong ước của Hội nghị. Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã công bố cả hai văn kiện vào ngày 30 tháng 11 năm 1971.

***

Chủ đề Công bằng trên thế giới đã được giới thiệu ở Thượng Hội Đồng ngày 14 tháng 10 năm 1971, qua bản báo cáo của Đức cha Alberto y Valderrama, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Phi-líp-pin. Tuy nhiên, cuộc thảo luận chỉ bắt đầu vào ngày 20 tháng Mười, như thế là khá muộn, trong một Hội nghị vừa mới nghiên cứu các vấn đề khó khăn, đặc biệt về vấn đề độc thân linh mục, trong một bầu khí căng thẳng; thế nhưng việc bàn luận về vấn đề Công bằng trên thế giới thì cụ thể, cởi mở và phóng khoáng.

Các buổi họp thảo luận đầu tiên (20-22 tháng 10) đều được khai mạc, không phải bởi các giám mục, nhưng bởi các chuyên gia giáo dân thuộc Uỷ ban Giáo Hoàng “Công Lý và Hoà Bình”: Barbara Ward (Phu nhân Jackson), chuyên gia kinh tế nổi tiếng người Anh, giảng viên ở Hoa Kỳ sau khi làm việc ở Ghana mãi đến năm 1961; Candido Mendes de Almeida, hiệu trưởng một viện đại học ở Rio de Janeiro; cuối cùng là Kinhide Mushakoji, giáo sư tại Đại học Sofia, ở Tokyo.

Chính vấn đề công bằng quốc tế từ rất sớm đã nằm ở hàng đầu. Hơn nữa, tình hình đang thúc giục cách cấp bách. Chắc chắn vào năm 1971, người ta vẫn còn ở đỉnh cao của làn sóng tăng trưởng ngoạn mục đánh dấu các nền kinh tế được công nghiệp hoá từ sau chiến tranh. Chỉ vào năm 1973 mới xảy ra vụ “sốc” dầu hoả đầu tiên. Tuy nhiên, đã có cuộc “bất ổn văn minh” đáng lo ngại này vào cuối thập niên 60, báo hiệu cuộc khủng hoảng. Nhưng nhất là hố ngăn cách được đào sâu giữa Phương Tây vẫn còn đang phát triển và thế giới thứ ba, đang bị thất bại cay đắng trong niềm hy vọng phát triển nhanh chóng. Thập niên phát triển đầu tiên của Liên Hiệp Quốc, bao gồm những năm 60, đã không giữ được lời hứa của mình. (Vả lại, thập niên đó hẳn đã có thể (phát triển) được chăng? Phải chăng người ta đã không khuyến khích vài ảo tưởng về sự dễ dàng của “các cuộc thoát khỏi tình trạng lạc hậu”?). Một thập niên thứ hai vừa mới bắt đầu, trong một bầu khí khá suy sút. Có cảm giác rằng có điều gì đó thực sự không ổn trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đàng khác, một cơn giận cách mạng dữ dội đã bùng lên trong những năm gần đây. Nó được biểu tượng hoá, nếu người ta muốn, bởi số phận của Che Guevara, bộ trưởng Thương Mại Cu-ba, người đã quay về với nhóm du kích quân và đã bị giết vào năm 1967, ở Bô-li-vi-a.

***

Các Thượng Hội Đồng liên tiếp kể từ Công đồng Vatican II đã thể hiện một sự “giải Tây Phương hoá” dần dần của Giáo Hội, các giám mục Châu Mỹ La-tinh, Châu Phi và Châu Á trở nên ngày càng đông và ngày càng tự tin. Điều này chỉ khởi đầu vào năm 1971. Vậy mà người ta có cảm giác rằng chính vấn đề về công bằng quốc tế như những người thuộc thế giới thứ ba nhận thấy, mới chi phối cuộc tranh luận của Thượng Hội Đồng về Công bằng trên thế giới. Người ta đang ở khá xa Octogesima Adveniens, Tông Thư gửi hồng y Roy, được công bố vào mùa Xuân trước (14.05.1971). Dù hoàn toàn gần đây, Tông thư này không được trích dẫn theo nghĩa chặt trong tài liệu của Thượng Hội Đồng về công bằng, chỉ có hai chỗ ám chỉ, trong khi Populorum progressio được trích dẫn, mà cuối cùng các Nghị Phụ muốn trực tiếp kéo dài sự suy tư của nó. Octogesima Adveniens đã nhắm hơn đến các vấn đề mới, đúng hơn xuất hiện trong các nước Phương Tây. Ở đây, chúng ta có thí dụ về sự khó khăn có một tiếng nói chung, mà chính đức Phao-lô VI đã nói trong Octogesima Adveniens.

Một khái niệm quan trọng, ngay từ đầu cuộc thảo luận của Thượng Hội Đồng, là khái niệm tố cáo những bất công. Vả lại, báo cáo viên mời các Nghị Phụ tố cáo các bất công trong Giáo Hội, chứ không chỉ ở những nơi khác. Một đoạn văn tự phê bình do đó sẽ được duy trì ngay cả trong văn kiện chung quyết.

Nhưng đã có nhiều khó khăn đối với các bản kiến nghị riêng biệt tố cáo những bất công nhắm đến nước này hay nước kia: ví dụ như Nam Phi đối với nạn phân biệt chủng tộc, Ít-ra-en đối với việc chiếm các Nơi thánh, Liên Bang Xô-Viết đối với cách đối xử các người Công giáo U-krai-na, … Các Nghị Phụ đã kết luận rằng việc tố cáo các bất công riêng biệt phải là công việc của các Giáo Hội địa phương, biết rõ trực tiếp các hoàn cảnh.

***

Công việc soạn thảo trong Thượng Hội Đồng được một nhóm các Giám Mục điều hành: Đức cha Torrella Cascante, phó chủ tịch Hội Đồng giáo dân và của Uỷ ban Giáo hoàng “Công Lý và Hoà Bình”; Đức cha Plourde (Canada); Đức cha Labayen (Philíppin); Đức cha Oves (Cuba); Đức cha Degenhardt (Đức). Các chuyên gia chính, những người giải quyết phần lớn công việc, là hai Cha dòng Tên, Cha Alfaro và Cha Land, một tu sĩ dòng Đa-minh, cha Cosmao, và hai giáo dân đã được nêu tên, Bà Barbara Ward và ông Candido Mendes. R. Laurentin, trong cuốn sách của mình về Thượng Hội Đồng[1], đã ghi nhận Bà Barbara Ward “đã soạn thảo phần quan trọng nhất phần tổng hợp các cuộc thảo luận… Đây là lần đầu tiên một phụ nữ đóng vai trò chủ chốt này trong việc soạn thảo một tài liệu thuộc cấp cao nhất của Giáo Hội”.

***

Tài liệu chung kết dưới đây được trình bày thành ba phần:

I. Một phân tích về sự hỗn độn của thế giới (“Công bằng và xã hội thế giới”).

II. Một suy tư thần học về mối liên hệ giữa hy vọng và sự giải phóng trần thế của nhân loại (“Sứ điệp Thánh Kinh và sứ mạng của Giáo Hội”).

III. Vài hướng đi cho việc chứng tá và hành động hiệu quả, nhất là có tính giáo dục, đối với các bất công hiện nay (“thực hành sự công bằng”).

***

Ngoài những vấn đề bất công quốc tế tương xứng với các ngõ cụt của sự phát triển, vốn nằm ở trung tâm các mối bận tâm, cần phải nêu lên lợi ích rất lớn mà Thượng Hội Đồng đã mang lại cho khái niệm thần học về “giải phóng” – sẽ được Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI nói lại sau đó trong Tông huấn Evangelii nuntiandi, được công bố vào năm 1975 tiếp sau Thượng Hội Đồng 1974–, cũng như cho vấn đề giải giáp vũ khí và vấn đề thăng tiến phái nữ (dù rằng đoạn văn liên quan đã bị làm yếu đi vào giờ chót).

Đối với thẩm quyền của văn kiện, cần ghi nhận rằng Đức Thánh Cha, dường như sau khi có dự kiến riêng, đã từ chối trao cho Thượng Hội Đồng một “lá phiếu biểu quyết”.[2] Một văn kiện như thế dĩ nhiên mang tính chất tham vấn. Sau đó, Đức Giáo Hoàng đã công bố văn kiện, như chúng tôi đã ghi nhận, nhưng ngài không muốn bênh vực nó cách trực tiếp bằng thẩm quyền của mình – kể ra là hành động cùng cách đối với văn kiện về Thừa Tác Vụ Linh Mục. Chỉ dụ công bố nói rằng Đức Giáo Hoàng “tiếp nhận và xác nhận mọi kết luận mà, trong hai văn kiện, đều tương hợp với các chuẩn mực hiện hành”. Điều này muốn nói rằng chúng phải được giải thích bởi các văn kiện có thẩm quyền hiển nhiên hơn.

***

Văn kiện Công bằng trên thế giới không gây ảnh hưởng sâu rộng lắm nơi các Giáo Hội tại các nước Phương Tây. Có phải đó là do tính kịch liệt của ngôn từ được dùng nói với các nước giàu? Ví dụ như những câu này: “Chúng tôi lấy làm tiếc việc hoàn toàn từ bỏ ý tưởng chia sẻ và trách nhiệm toàn cầu này từ phía các nước giàu (được ghi khắc trong các mục tiêu của thập niên phát triển thứ hai). Chúng tôi hy vọng rằng một sự sa sút như thế về liên đới quốc tế sẽ không làm mất đi mọi nỗ lực thảo luận về thương mại được chuẩn bị bởi Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (CNUCED).”

Ở những môi trường của Giáo Hội, người ta cảm thấy thoả mãn hơn nhiều, nhất là ở Châu Mỹ La-tinh, Châu Phi và Châu Á, những nơi nhạy cảm trực tiếp đối với các vấn đề bất công kinh tế quốc tế. Cũng cần ghi nhận một tầm ảnh hưởng đặc biệt của Công bằng trên thế giới trong việc soạn thảo văn kiện “Phục Vụ Đức Tin và Thăng Tiến Công Bằng” của Tổng Công Nghị lần thứ XXXII của Dòng Tên (1975). Ở đây, có một nhân tố gợi hứng rất quan trọng. Công Nghị đã tuyên bố “ việc thăng tiến công bằng” là “đòi buộc tuyệt đối” của việc phục vụ đức tin, y như Thượng Hội Đồng đã định rõ “cuộc đấu tranh cho công bằng và việc tham gia biến đổi thế giới” thuộc “chiều kích cấu thành của việc rao giảng Tin Mừng”.

***

Đàng khác, quả thật, nếu văn kiện của Thượng Hội Đồng không nhận được sự đón nhận đầy ấn tượng trong toàn thể Giáo Hội, thì ít ra nó đã ảnh hưởng đáng kể trên những vấn đề đặt ra của Thượng Hội Đồng tiếp theo (1974), dành cho công cuộc Phúc Âm hoá, được đánh dấu đậm nét bởi vấn đề “giải phóng” cũng như vấn đề đấu tranh cho công bằng. Vả lại, ở đây người ta lại bàn về những hạn từ “chiều kích cấu thành” (“dimension constitutive”) được nhắc lại ở đoạn trước, vì nhiều người nghĩ rằng “chiều kích bộ phận” (“dimension intégrante”) diễn đạt chính xác hơn mối liên hệ phải tồn tại giữa cuộc đấu tranh cho công bằng và việc rao giảng Tin Mừng.

Bất chấp sự lãng quên tương đối mà từ đó văn kiện của Thượng Hội Đồng gặp phải, cuộc thảo luận năm 1971 về Công bằng trên thế giới vẫn còn là một giai đoạn ý nghĩa. Chắc chắn không có văn kiện nào của Giáo Hội đã mạnh mẽ nhắm thẳng những bất công đáng lo ngại trên toàn thế giới như thế, mà thế giới vẫn chưa thoát khỏi. Và sẽ thật đáng tiếc nếu hướng nghiên cứu này không được theo đuổi, và nếu chúng ta không tiếp tục nghiên cứu một số con đường được Thượng Hội Đồng khai mở: hoặc về chứng tá mà Giáo Hội phải thể hiện, bằng nhiều phương thế, đối với công bằng; hoặc vấn đề “giáo dục về công bằng”; cũng như về những trách nhiệm của các dân tộc, các chính phủ, các tổ chức quốc tế để đẩy lùi bất công trên thế giới.

Jean-Yves Calvez

MỤC LỤC

Dẫn nhập(số 1-7)

I. CÔNG BẰNG VÀ XÃ HỘI THẾ GIỚI

Cuộc khủng hoảng liên đới toàn cầu (8-13)

Quyền được phát triển (14-20)

Những bất công khôn tả (21-31)

II. SỨ ĐIỆP THÁNH KINH VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI(32)

Công lý cứu độ của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô(33-38)

Sứ mạng của Giáo Hội, phẩm trật và các Kitô hữu (39-41)

III. THỰC HÀNH SỰ CÔNG BẰNG

Chứng tá của Giáo Hội (42-51)

Giáo dục về công bằng (52-61)

Sự hợp tác giữa các Giáo Hội địa phương (62-63)

Sự cộng tác đại kết (64-65)

Hành động quốc tế (66-74)

Những ước mong của Thượng Hội Đồng (75-76)

IV. NIỀM HY VỌNG(77-80)

CÔNG BẰNG TRÊN THẾ GIỚI

Văn kiện được các Nghị Phụ của Đại Hội Đồng lần thứ hai của Thượng Hội Đồng Giám Mục thông qua và được Đức Thánh Cha Phaolô VI công bố

DẪN NHẬP

1. Nhóm họp từ khắp thế giới, trong sự hiệp thông với tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu-Kitô và với toàn thể gia đình nhân loại, trong sự ứng trực cho Chúa Thánh Thần, Đấng làm nên mọi sự mới mẻ, chúng tôi đã tự vấn về sứ mạng của Dân Thiên Chúa đối với việc thăng tiến công bằng trên thế giới.

2. Trong khi khám phá các dấu chỉ của thời đại và tìm cách phân định ý nghĩa của lịch sử đang diễn ra, khi chia sẻ những khát vọng và những vấn nạn của tất cả những ai muốn một thế giới nhân bản hơn, chúng tôi đã đặt mình lắng nghe Lời Chúa để hoán cải bản thân nhằm thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài trên thế giới.

3. Cho dầu việc đào sâu phân tích tình hình thế giới không phải là phạm vi của chúng tôi, thế nhưng chúng tôi đã có thể đánh giá được những bất công nghiêm trọng đang dệt nên một mạng lưới những thống trị, những áp bức, những bóc lột trên mảnh đất nhân sinh. Chúng bóp nghẹt các quyền tự do và ngăn cản một phần lớn nhân loại tham dự vào việc xây dựng và vui hưởng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn.

4. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng đã nhận thấy một phong trào ngấm ngầm đang nổi lên và đang nâng dậy thế giới. Có những thành quả đã đóng góp vào sự tiến bộ trong công bằng. Trong các nhóm người hay các dân tộc, có một ý thức đang thức tỉnh, đẩy lùi sự nhẫn nhục hay thuyết định mệnh, dẫn đưa họ đến sự giải thoát chính mình và đảm nhận số phận của mình. Những phong trào đang xuất hiện, biểu lộ hy vọng về một thế giới tốt hơn và ý muốn biến đổi những gì đã từng trở nên bất bao dung.

5. Khi lắng nghe tiếng kêu của những ai đang chịu cưỡng bức và bị đè bẹp bởi những hệ thống và những cơ chế bất công, chẳng khác nào như thách đố của một thế giới mà sự băng hoại của nó đi ngược với kế hoạch của Đấng Tạo Hóa, chúng tôi đã cùng nhau ý thức về ơn gọi của Giáo Hội hiện diện giữa lòng thế giới để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, sự giải thoát cho người bị áp bức, niềm vui cho người sầu khổ.

6. Những hy vọng và sức mạnh đang xâm chiếm thế giới cách sâu xa không hề xa lạ với sự năng động của Tin Mừng mà, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, giải thoát con người khỏi tội lỗi cá nhân của mình và khỏi những hậu quả của nó trong đời sống xã hội.

7. Chúng tôi hướng sự bấp bênh của lịch sử, như những tích hợp đau khổ đang xảy ra trên con đường tiến triển của cộng đồng nhân loại, đến Lịch Sử thánh mà Thiên Chúa đã tỏ mình cho chúng ta, bằng cách biểu lộ cho chúng ta kế hoạch giải thoát và cứu độ của Ngài, được thực hiện, một lần cho tất cả, trong cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô. Cuộc đấu tranh cho công bằng và việc tham gia biến đổi thế giới xuất hiện, đối với chúng tôi, như là một chiều kích cấu thành của việc rao giảng Tin Mừng là chính sứ mạng của Giáo Hội để cứu rỗi nhân loại và giải thoát nó khỏi hoàn cảnh áp bức.

I. CÔNG BẰNG VÀ XÃ HỘI THẾ GIỚI

Cuộc khủng hoảng liên đới toàn cầu

8. Thế giới mà Giáo Hội đang sống và hành động là tù nhân cho một thứ nghịch lý đáng sợ. Chưa bao giờ các sức lực đang làm việc cho sự lên ngôi của một xã hội thế giới thống nhất đã tỏ ra mạnh mẽ và năng động như thế; chúng có cội rễ nơi ý thức về sự bình đẳng căn bản trọn vẹn và nhân phẩm của mọi người. Con người, thành viên của chính gia đình nhân loại, được gắn liền với nhau trong số phận duy nhất của hành tinh mà nó phải chia sẻ trách nhiệm.

9. Những khả năng công nghệ kỹ thuật mới dựa vào sự thống nhất của khoa học, vào tính toàn cầu và tính đồng thời của sự tương giao và vào sự hình thành của một thế giới kinh tế hoàn toàn độc lập. Như thế, con người bắt đầu nắm lấy một chiều kích mới mẻ và triệt để hơn của sự thống nhất khi khám phá ra rằng các tài nguyên, các tổng thể quý giá không khí và nước cần thiết cho sự sống, « bầu sinh quyển » nhỏ bé và mong manh của tất cả những gì đang sống trên trái đất, không phải là vô hạn, nhưng trái lại chúng phải được bảo quản và gìn giữ như là gia sản độc nhất của toàn thể nhân loại.

10. Sự nghịch lý ở chỗ, trong viễn ảnh thống nhất này, các lực chia rẽ và đối kháng càng ngày càng gia tăng áp lực của chúng. Những chia rẽ trước đây giữa các quốc gia và các đế quốc, giữa các chủng tộc và giai cấp, giờ đây sở hữu những phương tiện kỹ thuật hủy diệt mới mẻ ; cuộc chạy đua vũ trang nhanh chóng đang đe dọa thiện ích lớn lao nhất của con người là sự sống ; nó làm cho người nghèo, các dân tộc hay các cá nhân, còn nghèo hơn nữa và chỉ làm giàu cho những kẻ đã có quyền thế rồi ; nó sinh ra một nguy cơ chiến tranh thường xuyên mà, trong trường hợp vũ khí hạt nhân, đe dọa hủy diệt sự sống trên trái đất. Đồng thời, có những chia rẽ mới đang xuất đầu lộ diện để chia rẽ con người với tha nhân của mình. Tác động của trật tự công nghệ và kỹ thuật mới, nếu nó không được khắc phục và vượt qua bởi hoạt động xã hội và chính trị, sẽ tạo điều kiện cho việc tập trung của cải, quyền lực, quyền quyết định, vào tay của một nhóm lợi ích lãnh đạo, tư hay công. Sự bất công kinh tế và việc thiếu sự tham gia xã hội tước đoạt việc thực thi các quyền căn bản của con người và xã hội.

11. Niềm hy vọng, được lan rộng trong suốt hai mươi lăm năm qua – đó là việc tăng trưởng kinh tế có thể tạo nên một lượng lớn tài nguyên đến nỗi nó cho phép người nghèo được ăn những vụn bánh từ bàn ăn rơi xuống – đã tỏ ra vô hiệu nơi các nước đang phát triển và nơi các ốc đảo nghèo nàn của các nước phát triển, bởi sự gia tăng nhanh chóng dân số và nhân công, bởi tình trạng trì trệ ở nông thôn và việc thiếu những cải cách ruộng đất, bởi sự di trú hàng loạt đến các thành thị trong đó các nền công nghiệp, với mật độ tư bản dày đặc, cung ứng việc làm quá ít ỏi, đến độ đôi khi nhiều người lao động không có việc làm. Tất cả các áp lực cưỡng bức này liên tục tạo nên những đám đông « những người bên lề xã hội » thiếu ăn, phải ở trong những điều kiện phi nhân, mù chữ, bị tước đi khả năng chính trị như là những điều kiện cần thiết cho trách nhiệm hay cho phẩm giá luân lý.

12. Vả lại, nhu cầu về các nguồn tài nguyên và năng lượng nơi các nước giàu hơn – theo chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội – (cũng như những hệ quả của việc đổ chúng vào không khí hay đại dương) đến nỗi các yếu tố thiết yếu của đời sống trần thế là không khí và nước uống, có thể bị tàn phá cách vô phương cứu chữa nếu các định mức tiêu thụ và ô nhiễm cao không ngừng gia tăng, lại được mở rộng cho toàn thể nhân loại.

13. Sức đẩy mạnh mẽ hướng đến sự thống nhất toàn cầu, sự phân chia bất đồng đều đang để việc kiểm soát ba phần tư các lợi tức, sự đầu tư và thương mại, chỉ cho một phần ba dân số thế giới mà thôi, một phần ba mà đã hưởng tỉ suất tăng trưởng rồi – cũng như sự thất bại của việc phát triển thuần túy kinh tế và sự hiểu biết mới mẻ về những hạn chế vật chất của « sinh quyển » – đã dẫn chúng ta đến chỗ ý thức sự kiện rằng đang nổi lên trong thế giới hiện đại những phương thức mới quan niệm về phẩm giá con người.

Quyền được phát triển

14. Đối diện với những hệ thống thống trị quốc tế, việc thực thi công bằng càng ngày càng gắn kết với ý muốn thăng tiến.

15. Trong các quốc gia đang phát triển, và trong thế giới mang danh xã hội chủ nghĩa, trước tiên ý muốn thăng tiến được khẳng định trong cuộc chiến đấu cho những hình thức đòi hỏi và phát biểu mà chính sự tiến triển của hệ thống kinh tế sinh ra.

16. Khát vọng công bằng này được khẳng định trong bước chuyển qua ngưỡng cửa mà bắt đầu ý thức về một “giá trị hơn và người hơn” (cf. Populorum progressio, 15) cho toàn thể con người và cho mọi người: khát vọng này được bộc lộ trong sự nhận thức về quyền được phát triển. Người ta phải thừa nhận quyền này trong sự thâm nhập năng động lẫn nhau của tất cả các quyền căn bản của con người, trên đó những khát vọng của các cá nhân và các quốc gia được xây dựng.

17. Thế nhưng, ước muốn này sẽ không thể lấp đầy những ước nguyện của thời đại chúng ta nếu nó không biết đến những trở ngại khách quan mà các cơ cấu xã hội sử dụng để đối lại việc cải hóa lòng người, hoặc đối lại việc thực hiện hoàn thành một lý tưởng bác ái. Khát vọng này đòi hỏi vượt lên một tình trạng chung những người sống ngoài lề xã hội, những phong tỏa và những vòng luẩn quẩn đang trở thành những hệ thống, ngăn cản sự thăng tiến tập thể nhờ hưởng được thù lao thích đáng của hoạt động sản xuất và tăng thêm sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận những dịch vụ và phúc lợi xã hội đối với phần lớn dân chúng. Nếu các quốc gia và các vùng đang phát triển thất bại trong cuộc giải phóng họ bằng việc phát triển, thì có một nguy cơ thật sự khiến hoàn cảnh của họ, chủ yếu do sự thống trị thực dân tạo ra, tiến triển thành một chủ nghĩa thực dân mới, trong đó các quốc gia đang phát triển sẽ là nạn nhân của cuộc chơi của các quyền lực kinh tế quốc tế. Như vậy, trước tiên quyền được phát triển này là quyền được hy vọng, được biểu lộ cách tương xứng cụ thể đối với thế hệ chúng ta. Để giải đáp vấn đề này, cần phải giải phóng ý tưởng thay đổi những truyền thuyết và những niềm tin sai lạc mà một cơ cấu tâm thức tù nhân của một khái niệm định mệnh thuyết và máy móc nào đó về tiến bộ vẫn còn lưu truyền.

18. Khi đảm nhận vận mệnh của mình trong một ý muốn thăng tiến, các dân tộc đang phát triển – thậm chí nếu họ không đạt đến kết quả cuối cùng – sẽ thể hiện cách đích thực sự nhân cách hóa của mình. Để đương đầu với những quan hệ bất bình đẳng của vấn đề toàn cầu hiện nay, một chủ nghĩa quốc gia hữu trách mang lại cho họ nhiệt huyết cần thiết để đạt tới căn tính của mình. Chính từ sự tự quyết nền tảng này mà có thể nảy sinh những nỗ lực sáp nhập những tập hợp chính trị mới khả dĩ làm cho sự phát triển toàn vẹn của mình đứng vững được, nảy sinh những biện pháp cần thiết để cất đi những trì trệ cản trở sự phát triển này – như trong một số trường hợp việc áp lực dân số – hoặc nảy sinh những hy sinh mới mà việc kế hoạch hóa gia tăng đòi hỏi nơi một thế hệ để xây dựng tương lai.

19. Mặt khác, người ta không thể ấp ủ một sự thăng tiến thật sự mà không nhận ra sự cần thiết – nơi một chính sách đòi hỏi – về một sự phát triển bao gồm cả tăng trưởng kinh tế và sự dự phần chung chia; về một sự làm giàu mà cùng lúc kéo theo tiến bộ xã hội của toàn thể cộng đồng, trong sự vượt quá những chênh lệch vùng và những lãnh thổ phồn thịnh nằm trong những lãnh địa khác (enclaves de prospérité). Nhưng sự dự phần chung chia tự nó là một quyền phải được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong lĩnh vực xã hội hoặc chính trị.

20. Trong khi một lần nữa tái khẳng định quyền được có căn tính của các dân tộc, chúng ta cũng khám phá cách rõ ràng hơn rằng không thể chống chọi lại việc hiện đại hóa có tính phi nhân bằng việc chỉ nại đến những tập quán lịch sử bất khả xâm phạm và những lối sống đáng trân trọng mà thôi. Trái lại, chính khi đón nhận tính hiện đại để biến nó phục vụ cho thiện ích quốc gia mà sẽ có thể tạo ra một nền văn hóa có khả năng xây dựng một “ký ức xã hội” hành động đích thực, sáng tạo một nhân cách đích thực, trong sự đồng lòng giữa  các quốc gia.

Những bất công khôn tả

21. Chúng ta nhận thấy trong thế giới một loạt những bất công làm nên điểm mấu chốt của những vấn đề của thời đại chúng ta, và để giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có những nỗ lực và trách nhiệm của mọi thành phần trong xã hội, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến xã hội toàn cầu mà chúng ta đang tiến tới trong những năm hậu bán thế kỷ XX. Như vậy, chúng ta phải sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm và những công việc phục vụ mới trong mọi lĩnh vực của sinh hoạt nhân loại, và đặc biệt là trong lãnh vực của xã hội toàn cầu này, nếu chúng ta thật sự muốn công bằng trở nên hiện thực. Hành động của chúng ta trước hết phải hướng về những con người và những quốc gia mà, do những hình thức áp bức khác nhau và do đặc tính hiện thời của xã hội chúng ta, là những nạn nhân của sự bất công thầm lặng và thậm chí bị tước mất khả năng được lắng nghe.

22. Chẳng hạn, đó là trường hợp của những người di trú, rất thường bị bó buộc phải rời bỏ quê hương để đi tìm việc làm, mà ở nhiều nơi, cánh cửa khép lại trước mắt họ vì các thái độ phân biệt đối xử, hay nếu được phép vào, thì họ thường buộc phải sống trong tình trạng bất an, đồng thời bị đối xử hạ thấp nhân phẩm. Cũng thế, đối với các nhóm bị gán cho một trình độ thăng tiến xã hội thấp hơn, chẳng hạn như các thợ thuyền và nhất là những nông dân; thế nhưng họ lại góp một phần lớn trong quá trình tiến bộ. Đặc biệt đáng tiếc là trường hợp của hàng triệu người tị nạn, của tất cả các nhóm hay dân tộc bị bách hại – thường dưới cách thức được thể chế hoá – do nguồn gốc chủng tộc, sắc tộc hay bộ tộc của họ. Những sự bách hại như thế vì lý do nguồn gốc thậm chí có thể dẫn đến những cuộc diệt chủng thật sự.

23. Cũng vậy, trong nhiều vùng, sự công bằng bị nhạo báng một cách nghiêm trọng nơi những người bị bách hại vì niềm tin của họ hay nơi những người bị áp bức không ngừng và dưới nhiều cách thức khác nhau, bởi các nhóm chính trị và chính quyền, tuân theo sự tuyên truyền vô thần áp đặt hay bị tước đi quyền tự do tôn giáo: hoặc là họ bị từ chối không cho công khai thờ phượng Thiên Chúa, hoặc họ bị cấm giảng dạy công khai hay truyền bá niềm tin của mình, hoặc họ bị cấm chế mọi hoạt động trần thế tuân theo các nguyên tắc của tôn giáo mình.

24. Công bằng bị cũng bị vi phạm bởi những hình thức áp bức mới phát xuất từ những hạn chế các quyền cá nhân, từ những trấn áp do bởi chính quyền cũng như từ những bạo lực do những phản ứng riêng tư – cho đến những điều kiện cơ bản của sự toàn vẹn bản thân. Người ta biết rõ những trường hợp tra tấn, đặc biệt là đối với những tù nhân chính trị, mà thường bị từ chối xét xử theo tiến trình thông thường, hay phải chịu xét xử một cách độc đoán. Cũng không được quên những tù nhân chiến tranh mà, ngay sau Hiệp Ước Genève, đã bị đối xử một cách phi nhân.

25. Sự tranh luận về sự hợp pháp hóa việc phá thai, về sự bắt buộc dùng những phương tiện tránh thai và những áp lực chống chiến tranh là những hình thức biểu trưng của yêu sách đòi quyền sống.

26. Mặt khác, ý thức của thời đại chúng ta đòi hỏi sự thật trong các hệ thống truyền thông xã hội, điều mà được thể hiện bằng một quyền được các phương tiện truyền thông đại chúng trình bày một hình ảnh khách quan, và vì thế quyền có thể sửa chữa sự thao túng nó.

27. Cũng cần phải nhấn mạnh đến quyền, nhất là đối với trẻ em và người trẻ, được giáo dục, được hưởng các điều kiện sống và được sử dụng các phương tiện truyền thông lành mạnh về mặt luân lý, một lần nữa đang bị đe doạ trong thời đại của chúng ta.

28. Vai trò của các gia đình trong đời sống xã hội chỉ được nhìn nhận cách hiếm hoi và không đầy đủ bởi chính quyền.

29. Cũng không được quên con số đang gia tăng những người bị gia đình hay xã hội bỏ rơi: những người già, trẻ mồ côi, những người tàn tật và tất cả những người bị bỏ rơi.

30. Để thực hiện sự thống nhất mà một xã hội nhân bản toàn cầu đòi hỏi và đang tìm kiếm, vai trò của các trung gian là cần thiết để một ngày nào đó vượt qua những đối lập, những cản trở và những cấu trúc lỗi thời mà chúng ta gặp phải trên con đường  dẫn đến một xã hội nhân bản hơn.

31. Nhưng một trung gian hiệu quả phải bao gồm việc tạo nên một bầu khí đối thoại. Để thực hiện nó dần dần, tất cả mọi người phải có thể gặp nhau mà không phải chịu sự cưỡng ép về những điều kiện địa lý chính trị, ý thức hệ, kinh tế-xã hội hay những rào cản giữa các thế hệ.  Để khôi phục ý nghĩa cuộc sống bằng việc gắn bó với các giá trị đích thực, sự tham gia và chứng tá của những người trẻ là cần thiết như sự trao đổi giữa các dân tộc.

II. SỨ ĐIỆP THÁNH KINH VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

32. Đứng trước tình trạng của thế giới hiện nay, được đánh dấu bởi tội bất công ngày càng nhiều, một mặt chúng ta cảm thấy trách nhiệm của mình và, mặt khác, cũng cảm thấy bất lực trong việc loại bỏ bất công này. Tình trạng này mời gọi chúng ta lắng nghe Lời Thiên Chúa với thái độ khiêm nhường và cởi mở tâm trí. Chính Lời Chúa sẽ chỉ ra cho chúng ta những con đường mới mẻ cho hành động của mình trong thế giới.

Công lý cứu độ của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô

33. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa tự mặc khải cho chúng ta như là Đấng giải thoát những người bị áp bức và là Đấng bảo vệ những người nghèo khổ. Ngài đòi hỏi con người tin vào Ngài và sống công bằng đối với tha nhân. Chỉ những ai thực thi những nghĩa vụ công bằng đối với con người thì mới thực sự nhận biết Thiên Chúa, Đấng giải thoát những người bị áp bức.

34. Trong hành động và sứ điệp của mình, Chúa Kitô đã nối kết một cách không thể phân chia mối tương quan của con người với Thiên Chúa và mối tương quan giữa con người với nhau. Chúa Kitô đã sống cuộc sống của mình nơi

Bài viết khác