Các bài suy niệm Chúa Nhật 3 Mùa Vọng C

Lời Chúa: Xp 3,14-18; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18

MỤC LỤC

  1. Niềm vui 4
  2. Tôi phải làm gì – ViKiNi 6
  3. Cho Chúa một cơ hội – Thiên Phúc. 10
  4. Phải làm gì?. 13
  5. Cuộc chạy đường trường – AM Trần Bình An. 15
  6. Chuẩn bị. 19
  7. Hãy vui mừng vì Chúa sắp đến. 21
  8. Kẻ tội lỗi. 36
  9. Nhà giảng thuyết đường phố – Lm. Mark Link, SJ. 38
  10. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng. 42
  11. Hãy vui lên – Lm Giuse Phạm Thanh Liêm.. 44
  12. Chúng tôi phải làm gì?. 48
  13. Thay đổi 53
  14. Công chính – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 55
  15. Niềm vui trong Chúa. 60
  16. Chúng tôi phải làm gì? – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt. 64
  17. Hãy canh tân cuộc sống của mình. 67
  18. Thay đổi trong vui mừng. 70
  19. Phần thưởng. 72
  20. Bông lúa cờ. 75
  21. Tôi phải làm gì?. 78
  22. Niềm vui làm cho con người tươi trẻ. 81
  23. Chúng tôi phải làm gì?. 85
  24. Niềm vui mừng là sứ điệp của mùa vọng. 88
  25. Vui trong Chúa. 92
  26. Hoa quả của lòng thống hối 96
  27. An và Vui – Anmai, CSsR.. 98
  28. Hãy vui mừng trong Chúa!. 104
  29. Niềm vui đích thực. 108
  30. Bác ái và bổn phận. 112
  31. Vui sống trong Chúa. 115
  32. Hãy vui lên. 118
  33. Chúng tôi phải làm gì?. 124
  34. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng. 130
  35. Để tiến tới một thế giới tốt hơn – Achille Degeest. 133
  36. Đau khổ. 135
  37. Chúng tôi phải làm gì đây?. 137
  38. Đấng Thánh Israel thật cao cả – Cố Lm. Hồng Phúc. 140
  39. Sám hối. 143
  40. Hé mầm hy vọng. 146
  41. Thiên đàng là thế đó – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 148
  42. Sám hối, một niềm vui 152
  43. Nhậy cảm với hoàn cảnh sống. 154
  44. Chúng tôi phải làm gì đây?. 157
  45. Sứ điệp tình thương. 160
  46. Hoa thơm lấn dần cỏ dại 163
  47. Chúng tôi phải làm gì?. 165
  48. Suy niệm của Lm. Ignatio Trần Ngà. 168
  49. Sự sám hối chân thành – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền. 171
  50. Loan báo Lòng Thương Xót 175
  51. Thắp sáng đức tin. 177
  52. Suy niệm của McCarthy. 180
  53. “Làm” – Lm. Vũ Xuân Hạnh. 185
  54. Vui lên anh em. 190
  55. Hạnh phúc trong việc bác ái 195
  56. Vui luôn trong Chúa! – Lm. Phạm Quốc Hưng. 197
  57. Mừng vui lên – JM. Lam Thy ĐVD. 202
  58. Suy niệm của R. Gutzwiller. 207
  59. Chúng tôi sẽ phải làm gì?. 211
  60. Những hành vi thống hối. 217
  61. Hãy vui lên! Chúa sắp đến rồi – Jos Vinc Ngọc Biển. 219
  62. Là “lúa” hay là “rơm”? – Pio X Lê Hồng Bảo. 222
  63. Sống công bình, bác ái và tôn trọng tha nhân. 226
  64. Thánh Thần và Lửa – P. Trần Đình Phan Tiến. 228
  65. Vui trong hy vọng đợi chờ. 231
  66. Chúng tôi phải làm gì?. 235
  67. Giàu và nghèo. 237
  68. Hãy vui lên. 240
  69. Vui mừng. 243
  70. Hy vọng. 246
  71. Suy niệm của JKN. 249
  72. Suy niệm của Trầm Thiên Thu. 254
  73. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 258
  74. Hãy sinh những hoa quả hối cải 261
  75. Chú giải của Noel Quesson. 270

 

1. Niềm vui

Phụng vụ của Chúa nhật 3 Mùa vọng mang một bầu khí vui mừng. Thực vậy, ngay từ ca nhập lễ, thánh Phaolô đã kêu gọi: Anh em hãy vui lên trong Chúa. Tiếp đến, trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Sophônia cũng đã nhắn nhủ: Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan nhảy mừng. Sở dĩ như vậy là vì Chúa đã gần đến.

Kinh nghiệm cho thấy niềm vui là một điều rất cần cho đời sống con người. Vào dịp tết chúng ta thường cầu chúc cho nhau được vui vui tươi và hạnh phúc. Khoa tâm lý còn chứng minh niềm vui làm cho con người trẻ hơn và sống lâu hơn. Trong thực tế, con người cố tạo cho mình nhiều niềm vui, nhưng đâu mới chính là niềm vui đích thực? Bởi vì có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy trống rỗng và chán nản. Có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy mệt mỏi và thất vọng. Có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy lo âu và hối hận.

Với lễ Giáng Sinh cũng thế. Chúng ta cảm thấy vui khi ngắm nhìn những ngôi sao, những hang đá rực rỡ ánh điện màu. Chúng ta cảm thấy hân hoan khi nghe những bản thánh ca tuyệt vời, hay khi nhận được những tấm thiệp chúc mừng. Tất cả đều là những niềm vui chính đáng, nhưng chưa phải là niềm vui đích thực. Bởi vì lễ Giáng Sinh sẽ qua đi, mọi trang trí sẽ bị dẹp bỏ, mọi người trở về với cuộc sống thường ngày. Vì thế, niềm vui đích thực phải là niềm vui xuất phát từ bên trong, từ tâm hồn của con người. Đi tìm niềm vui ở bên ngoài chỉ là một chạy trốn thực tại và không bao giờ đạt tới kết quả, vì người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Vậy phải làm gì để có được niềm vui đích thực?

Thánh Gioan tiền hô qua đoạn Tin Mừng hôm nay đã trả lời: Hãy sống công bình và bác ái, biết nghĩ đến người khác, biết chia sẻ với những người kém may mắn, đừng lợi dụng địa vị và quyền hành để chèn ép và bóc lột người khác. Tóm lại, hãy quên mình để phục vụ an em và chu toàn những bổn phận hằng ngày, đó là con đường dẫn tới niềm vui đích thực. Mảnh đất tối cho niềm vui phát triển là tình bác ái yêu thương. Sống trong một thế giới đầy hận thù và chiến tranh, sống trong một xã hội cá lớn nuốt cá bé. Sống trong một môi trường đảo điên và lừa gạt, chúng ta dễ bi quan và cho rằng: Con người khó mà yêu thương nhau chân thành. Dầu vậy, chúng ta đừng vội tuyệt vọng, nhưng hãy nhớ đến mối phúc thật thứ bảy: Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Hãy thực thi công bằng và bác ái, nhờ đó chúng ta sẽ được hưởng niềm vui mừng và bình an mà Chúa sẽ đem đến qua tiếng hát của các thiên thần trên cánh đồng Belem năm xưa: Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

 

2. Tôi phải làm gì – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Trước những biến cố quan trọng, trước những nguy khốn cấp bách, người ta thốt lên: Tôi phải làm gì? Gioan tiền hô xuất hiện, kêu gọi mọi người dọn đường đón Đấng Cứu thế. Dân Do thái hàng ngàn năm đã được nghe về Đấng Cứu thế. Bao nhiêu thế hệ đã khao khát mong chờ Đấng Cứu thế.

I/ Dân chúng mong đợi Đấng Cứu thế vì nhiều lý do:

1/ Kẻ buồn vì đất nước bị gót giày ngoại bang chà đạp, mất tự do tín ngưỡng, mất tự do nhân phẩm, khổ vì bị bóc lột, đau vì bị áp bức. Người có chức quyền địa vị chỉ lo vơ vét ăn chơi tửu sắc, còn dân chúng sống chết mặc bay.

2/ Kẻ học biết Kinh thánh và nhữnh kinh sĩ chỉ lo nghiền ngẫm những lời tiên tri loan báo: Đấng Cứu thế sắp đến là “Vua được xức dầu, Ngài đến trong dòng dõi Giuda, Ngài chiến thắng quân thù, giết những vua quan ngoại bang… Đấng xức dầu sẽ tụ họp dân Ngài trong đường công chính, cai trị các quốc gia, loại trừ mọi bất công và gian ác. Phúc cho ai được sống trong thời đại ấy”. Họ nghiền ngẫm những lời ấy và suy đoán sắp đến ngày Đấng Cứu thế xuất hiện và ai ai cũng đều cầu xin Ngài đến. Giờ đây họ được nghe loan báo Ngài đang đến. Thế là như cá gặp nước, như người chết đuối vớ được phao cứu, dân chúng đổ xô đến hỏi Gioan: “Chúng tôi phải làm gì để đón rước Đấng Cứu thế?”. Gioan không bắt họ phải bỏ nghề nghiệp, địa vị, việc làm, không bắt họ lên rừng ẩn tu khắc khổ, cũng không phải ăn chay, khóc lóc, mặc áo nhặm, rắc tro lên đầu như tiên tri Giona đã bảo dân Ninivê. Gioan chỉ kêu gọi họ phải hối cải, phải kiểm tra lối sống của mình, từ bỏ bất chính, cải thiện đời sống, quyết tâm thực thi công bằng, bác ái trong chính nhiệm vụ, nghề nghiệp, chức năng riêng của mình.

II/ Vậy công bằng, bác ái là gì?

1/ Công bằng là gì? Qua hai lời chỉ dẫn của Gioan cho hai hạng người lính và thu thuế.

Đối với lính thì Ngài khuyên: “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”. Lính tiêu biểu cho hạng người có sức mạnh, có quyền lực vũ khí trong tay, muốn hoành hành thế nào tùy thích, dễ ỷ mạnh hiếp yếu, đe dọa, áp bức bóc lột bất công, khó có thể sống ngay chính, vì thế Thánh Gioan đã khuyên họ: Hãy bằng lòng với số lương của mình hay số tiền do công lao chính đáng của mình làm ra, chứ đừng bóc lột, vơ vét, trộm cắp của người khác, sống công bằng như thế họ sẽ xứng đáng đón rước Đấng Cứu thế.

Lỗi đức công bằng này thì dễ biết vì nó trực tiếp làm hại người ta. Nhưng công bằng trong nhiệm vụ thì khó biết.

Công bằng trong nhiệm vụ được thực hiện trong việc thâu thuế, nên đối với người thâu thuế Gioan khuyên: “Đừng đòi gì quá mức ấn định”

Thứ nhất, mức ấn định là mức do luật pháp đã ban hành cách hợp lý, thuế quá mức là bất công.

Thứ hai, dân có mức nào thì xác định mức đó, không vì lập công mà khai thêm đánh quá.

Thứ ba, đồ tốt xấu thế nào, đánh giá đúng như thế, đừng gian dối tráo trở, tăng giảm sai sự thật là bất công.

Thứ bốn, giữ nhiệm vụ nào phải lo chu toàn nhiệm vụ ấy, lười biếng bê trễ, phung phí là bất công; làm Linh mục bê trễ là bất công; làm cha mẹ, thầy cô không lo dạy dỗ con trẻ là bất công; làm cán bộ, công chức không lo giúp đỡ dân là bất công; con cái không giúp đỡ, nghe lời cha mẹ, thầy cô là bất công. Sống công bằng thôi chưa đủ vì chỉ là mức đạo đức tối thiểu theo luật: “mắt đền mắt, răng đền răng, ác giả ác báo”. Nếu cứ ăn miếng trả miếng như thế, thì đời sống sẽ chất đầy hận thù. Sống bác ái mới đạt giá trị đạo đức đích thực. Để đáng được vui luôn trong niềm vui đón mừng Đấng Cứu thế đến, Gioan khuyên mọi người phải thực thi bác ái: “Ai có hai áo thì chia cho người không áo, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”. Thánh Luca đã diễn tả đúng đời sống bác ái của cộng đoàn tín hữu thời các tông đồ.

2/ Bác ái là gì? Theo Thánh Phaolô: “Lòng bác ái không được giả hình, giả bộ, anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành” (Rm. 12, 9). Gớm ghét điều dữ là cố gắng thanh tẩy những tâm tình bất chính, hung dữ, độc ác. Đó là vấn đề tu thân. Tha thiết với điều lành là thực hiện những điều thiện hảo, chân chính, tốt lành ơn ích cho người. Đó là vấn đề dấn thân, có tu thân mới dấn thân được, đây là hai chặng đường trên cùng một đường đức ái.

Tu thân: Đức ái đòi buộc phải tu sửa, thanh tẩy mình khỏi mắc vào thói ghen tuông, tự đắc, khoe khoang, làm điều bất chính, bất nhân, nóng giận hận thù, tư lợi, không mừng khi thấy sự ác. Đức ái cũng đòi buộc phải tu luyện, học tập những đức tính nhẫn nhục, khiêm tốn, hiền hậu, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả, vui khi thấy điều chân thật (1Cp. 13, 4-7). Đạo Nho cũng chủ trương muốn thực hiện đức nhân thì tiên vàn phải tu thân. Thân gồm tâm, ý, trí nên tu thân là chính tâm, thánh ý, trí tri. Rồi mới có thể thực hiện nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đạo Phật cũng chủ trương muốn có tâm từ ái, từ bi, hỉ xả, cứu độ chúng sinh, tiên vàn phải diệt tham, sân, si, rồi tu tập bát chánh đạo.

Dấn thân: Sau khi đã tu thân luyên tập tâm trí nên trong sạch thì mới thấy được mặt Thiên Chúa, mới dấn thân, xả thân, hiến thân phụng sự Người. Mặt Thiên Chúa đây là tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa, những người Thiên Chúa yêu thương chúc phúc.Lúc đó ta mới có thể chia áo cho người không áo, sẻ cơm cho người đói ăn… và còn sẵn sàng hiến mạng sống cho người Chúa thương. Chỉ khi đó ta mới vui với người vui, khóc với người khóc,và mùa vọng mới là mùa reo vui, mới vui luôn trong niềm vui của Chúa, vì chính Chúa đang ngự giữa ta và bình an của Thiên Chúa mới giữ lòng trí ta được kết hợp với Đức Kitô Giêsu. Amen (Bài I, II).

 

3. Cho Chúa một cơ hội – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân tòng và một người chưa có niềm tin như sau:

– Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao?

– Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Ðức Kitô.

– Vậy xin hỏi anh, ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

– Rất tiếc là tôi đã quên mất chi tiết này.

– Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

– Tôi cũng không nhớ rõ nên chẳng dám nói.

– Vậy ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài?

– Tôi không biết!

– Quả thật, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thật sự đi theo ông Kitô!

– Anh nói đúng một phần. Tôi rất hỗ thẹn vì mình đã biết quá ít về Ðức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này: Ba năm trước, tôi là người nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận và buồn tủi.

Thế mà, bây giờ tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ, gia đình tôi đã tìm lại hạnh phúc, các con tôi trông ngóng, chờ tôi về sau giờ tan sở.

Những điều này không ai khác hơn, chính là đức Kitô đã làm cho tôi. Và đó là tất. cả những gì tôi biết về Người.

***

Khi lãnh phép rửa sám hối của Gioan, dân chúng hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc 3,10). Qua câu hỏi ấy, chúng ta thấy sám hối mang chiều kích cộng đoàn, sẵn sàng đổi mới bằng hành động cụ thể.

Các Thánh thường nói: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Ðó là một thái độ sẵn sàng làm theo ý Chúa. Có được tâm tình ấy quả không dễ dàng. Nhưng nói được như Ðức Maria mới thực là cao quí: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Ngài nói” (Lc 1,38).

Người tân tòng trong câu chuyện trên đây, sau khi được đổi mới hoàn toàn, ông đã nói: “Những điều này không ai khác hơn, chính là Ðức Kitô đã làm cho tôi”.

Như vậy:

Sám hối không chỉ là quay trở về với quá khứ, mà còn hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, mà còn mang tính liên đới trong cộng đoàn.

Sám hối không chỉ là một cảm xúc mông lung, nhưng chính là một quyết tâm hành động.

Sám hối không chỉ là hướng tới đời sống thánh thiện, mà là trở về với một đấng thánh: Chúa Giêsu Kitô.

Vì thế, sám hối chính là dành cho Chúa Kitô cơ hội để Người thanh tẩy tâm can, thay đổi con người, nhất là để Người biến những tâm tình và ước muốn của chúng ta nên giống những tâm tình và ước muốn của Người.

Thay vì sám hối bên ngoài, Chúa Kitô muốn chúng ta thật sự hướng lòng về Người.

Thay vì kiêu căng tự mãn, Chúa Kitô muốn chúng ta thực sự khiêm tốn để nên giống Người.

Thay vì nô lệ cho của cải, tiền bạc, Chúa Kitô muốn chúng ta hãy ra khỏi nỗi bận tâm về mình mà nhường cơm sẻ áo cho anh em.

Mùa Vọng là mùa của hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Cho dù con người có sa ngã, phản bội, Thiên Chúa vẫn theo đuổi chương trình cứu độ của Người. Cho dù thấp hèn tội lỗi, con người vẫn mang hình ảnh cao đẹp của Thiên Chúa, nên mỗi người đều được Thiên Chúa tin tưởng, yêu thương. Mùa Vọng mời gọi chúng ta sám hối, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác và hy vọng nơi Người.

***

Lạy Chúa Giêsu, sám hối là dọn đường cho Chúa đến, sám hối cũng là dọn lối để đến với tha nhân.

Xin dạy chúng con biết bày tỏ lòng sám hối bằng cách mềm mại để Chúa uốn nắn, và quyết tâm sống công bình bác ái với anh em. Amen.

 

4. Phải làm gì?

Vậy chúng tôi phải làm gì?

Trước câu hỏi này, Gioan Tiền Hô đã trả lời cho ba nhóm người. Trước hết cho những người thiện chí đang mong chờ ngày Chúa đến, Gioan dạy họ cũng như dạy cho chúng ta biết chia sẻ cơm áo với những người túng thiếu. Đó là điều tối thiểu. Nếu ngày nay tiếng nhà tiền hô còn vang vọng khắp núi đồi, ông sẽ kêu gọi cải thiện hoàn cảnh kinh tế, xã hội, lo cho có công ăn việc làm, nhà ở, tiền lương tương xứng, bảo vệ sức khoẻ.

Tiếp đến với những người thu thuế, đại diện cho lớp quan chức hay tham nhũng bóc lột người khác, Gioan kêu gọi sự liêm khiết.

Sau cùng với những người có phận sự giữ gìn trật tự công cộng, Gioan bảo họ phải công minh, biết tôn trọng kẻ khác. Mỗi người trong địa vị, chức vụ và công việc của mình, cố gắng chu toàn một cách tốt đẹp. Thế nhưng Gioan, vị tiền hô ấy là ai?

Ông không phải chỉ được sai đến giảng dạy một vài bài học luân lý thường thức. Trái lại, tiếng ông vang dội trên núi đồi, lôi kéo đông đảo mọi người, thuộc đủ mọi thành phần. Người ta coi ông là đấng cứu thế, nhưng ông xác định mình chỉ là một tiếng kêu, một người làm phép rửa dọn đường. Ông là nhà tiên tri đầu tiên nói đến một phép rửa trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ông cũng làm phép rửa theo tục lệ Do Thái để thúc đẩy mọi người sám hối ăn năn, thế nhưng đây mới chỉ là một nghi thức tiên báo bí tích Rửa tội của Đức Kitô, Đấng sẽ rửa trong nước và Thánh Thần.

Như thế, bí tích Rửa tội của Đức Kitô bao gồm hai mầu nhiệm, đó là phục sinh và hiện xuống, nhờ đó chúng ta được rửa sạch tội lỗi, liên kết với Đức Kitô phục sinh, nhưng đồng thời cũng được sức mạnh Chúa Thánh Thần nâng đỡ, để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh.

Với chúng ta ngày hôm nay, là Kitô hữu, chúng ta đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, thế nhưng điều quan trọng đó là chúng ta có thực sự sống ơn rửa tội hay không? Chúng ta có làm cho xã hội thấm nhuần tinh thần Phúc Âm hay không?

Trong Thông điệp Centesimus Annus, Năm thứ một trăm, được công bố vào năm 1991, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi phân tích về sự sụp đổ của cộng sản Đông âu và sự tái thiết một xã hội mới, ngài đã lên án điều mà gọi là “xã hội tiêu dùng” muốn giảm hạ con người vào lãnh vực kinh tế và làm thoả mãn các nhu cầu vật chất mà thôi, nghĩa là thay thế thần tượng đã sụp đổ bằng một thần tượng khác không mấy tốt đẹp hơn. Cho đến ngày hôm nay, chúng ta đã làm được những gì để đón mừng ngày Chúa đến.

 

5. Cuộc chạy đường trường – AM Trần Bình An

Cuốn nhật ký Pole to Pole – One Man, 20 Million Steps (Từ cực Bắc tới cực Nam – Một người, 20 triệu bước chân), của tác giả Pat Farmer chỉ vừa xuất bản vài tháng, đã in tới lần thứ 10, vì sự chân thật và sức hấp dẫn của nó.

Ông Pat Farmer đã từ bỏ con đường chính trị đang thênh thang, bán ngôi nhà cùng chiếc xe duy nhất để lấy vốn làm lộ phí. Bởi lúc đó, chẳng ai tin ông có thể chạy bộ từ Bắc cực đến Nam cực, với 21 ngàn cây số, trong vòng 10 tháng, 13 ngày, cùng vô số gian lao do thời tiết, con người và dã thú.

Ông đã chạy một cự ly bình quân không thể tin nổi: 65 km mỗi ngày, có một số ngày chạy tới 100 km hoặc hơn.

“Vì sao tôi chạy? Tôi chạy vì tôi cần cống hiến cho nhân loại.Tôi chạy từ cực này tới cực kia của tôi không phải vì mục đích trở thành một kẻ tử vì đạo hay một anh hùng. Cha mẹ tôi và người vợ quá cố của tôi là một tấm gương sáng cho tôi; họ luôn giúp đỡ người khác. Có lẽ tôi làm điều này xuất phát từ cảm giác tội lỗi, vì đang sống một cuộc sống nhiều đặc quyền đặc lợi, trong một đất nước nhiều đặc quyền đặc lợi, hay vì những tội lỗi mà tôi đã phạm” Pat Farmer viết.

Rất nhiều lần trong hành trình, Pat Farmer đã muốn ngã quỵ, muốn dừng lại, nhưng rồi ông đã tự chiến thắng bản thân để vượt qua mọi hoàn cảnh. Ông đã giúp các Hội Chữ Thập Đỏ Úc quyên góp là rất đáng kể. Sau cuộc chạy, đã có vô số cư dân nghèo, đặc biệt trẻ em được cứu sống hoặc giúp thoát khỏi bệnh dịch nhờ hệ thống nước sạch.

Từ ngày 9-12/2012 đến 20/1/2013, với cùng mục đích cao quý như trên, ông Pat Farmer và chàng thanh niên Việt Nam 25 tuổi, Mai Nguyễn Đình Huy, cùng đồng hành, thực hiện hành trình siêu ma-ra-tông từ Móng Cái đến mũi Cà Mau, hơn 3 200 Km trong 40 ngày liên tục, mỗi ngày chạy khoảng 80 km. (theo Hiền Hòa, Tiền Phong)

Như thế, ông Pat Farmer và Mai Nguyễn Đình Huy đang chạy để phục vụ tha nhân, dường như cũng đang hưởng ứng lời kêu gọi trong hoang địa.

Bài trích Tin Mừng hôm nay, ngôn sứ Gioan Tiền Hô ân cần hướng dẫn, chỉ vẽ những đường chạy vô cùng lý thú và hữu ích, khi thiên hạ đổ xô đến nhờ tư vấn, thắc mắc phải chạy đường trường như thế nào.

Chạy theo Bác Ái

Thay vì chạy ghế, chạy chức, chạy theo thói tham lam, vơ vét, vỗ béo bản thân, ích kỷ, bất nhân, hận thù, mù quáng, thì ngôn sứ Gioan Tiền Hô khuyên nhủ, lấy đức bác ái làm kim chỉ nam cho cưộc chạy: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có. Ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” (Lc 3, 11)

Sự chia sẻ, như xẻ cơm nhường áo, lá lành đùm lá rách, là biểu hiệu đầu tiên của tính nhân bản, khiến cho con người thoát ra khỏi kiếp sống theo bản năng, giúp cho loài người đứng trên các loài động vật, các loài thọ tạo khác.

Chạy theo Công Bằng

Thay vì chạy theo thói bất công, tham ô, nhũng lạm, xách nhiễu, lợi dụng làm giầu bất chính trên mồ hôi, xương máu và nước mắt của dân đen, thì ngôn sứ Gioan khuyên nhủ mọi người, các nhân viên công chức, những người có chức, có quyền, như thuế má, hải quan, hãy chạy theo đức công bằng, ngay thẳng: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” (Lc 3, 13)

Không chỉ nói riêng với công viên chức, Gioan Tiền Hô còn nhắm đến quần chúng rộng rãi, những kẻ kinh doanh, những giao dịch mua bán, sang nhượng, những quan hệ trao đổi, phải sòng phẳng, không dối gian, lừa gạt, không lời lãi quá mức bình thường, không ép giá thu lợi bất chính.

Chạy theo Chính Trực

Thay vì dùng võ lực có sẵn trong tay, để uy hiếp, bóc lột, chiếm đoạt, ức hiếp, tịch thu tài sản, sở hữu của người dân, thì ngôn sứ Gioan khuyên nhủ, chạy theo đức chính trực, tôn trọng người khác, không tơ hào, lợi dụng quyền thế để quấy nhiễu hành dân: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng chiếm đoạt của người, hãy bằng lòng với đồng lương của mình.” (Lc 3, 14)

Ngôn sứ Gioan Tiên Hô đồng thời cũng muốn nhắm đến những người có lợi thế, những người giàu có, quyền cao chức trọng, đừng lợi dụng thế mạnh tài chánh, hay quyền hành để chèn ép, bắt nạt, hoặc cướp trắng của cải người yếu thế, cô thế.

Chủ Nhân đường đua

Nhân tiện, ngôn sứ Gion Tiền Hô đính chính điều dân Do Thái đang ngộ nhận. Rằng ông chỉ là người tiền hô, đi trước dọn đường cho Chủ Nhân của cuộc đua đường trường. Người cao trọng vô cùng, mà chính ông cũng tự nhủ, không đáng cởi quai dép cho Người!

Trước Đấng Quyền Thế hơn đang đến, ngôn sứ Gioan tỏ ra kính cẩn và khiêm tốn, cùng tỏ thái độ vâng lời và phục vụ. Ngài cũng nhận mình chỉ là tôi tớ hèn mọn, như phận nữ tỳ hèn mọn của Mẹ Maria trong kinh Magnificat.

Chủ Nhân kiêm luôn trọng tài, sẽ phán quyết, thưởng phạt công minh, dựa theo cung cách chạy của những tay đua đến đích: “Tay Người cầm nia, rê sạch lúa trong sân: Thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không bao giờ tắt, mà đốt đi.” (Lc 3, 17)

Thánh Phaolô cũng đã nỗ lực và nhiệt thành chạy đường trường, chia sẻ với tín hữu thành Philípphê: “Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu.” (Pl 3, 13-14)

Dù mọi người bỏ dở hành trình, con cứ tiến, quần chúng dễ bị lôi cuốn thì đông đảo, lãnh đạo sáng suốt lại hiếm hoi. Con phải có bản lãnh, đừng theo quần chúng mù quáng. (Đường Hy Vọng, 50)

Lạy Chúa Giêsu, Chủ Nhân của cuộc đua đường trường, xin luôn nhắc nhủ con bỏ lại sau lưng mọi thứ nặng nề, làm cản trở bước đường, mà bền chí vững vàng chạy đến Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ đồng hành cùng con, để con noi gương Mẹ nhân ái, đôn hậu, biết quên mình, yêu thương, phục vụ mọi người. Amen.

 

6. Chuẩn bị.

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta cùng nhau tìm hiểu về sứ điệp của Gioan bên bờ sông Giođan để rồi từ đó áp dụng vào Mùa Vọng, mùa chuẩn bị đón mừng Chúa đến.

Gioan xuất hiện rất khác biệt, không những khác biệt trong cách sống mà cả trong tư tưởng nữa. Đang khi tất cả những phe nhóm tôn giáo ở thời đại ông như nhóm Pharisêu, nhóm Saducêo, nhóm Etxenien, tất cả đều trông chờ một sự chiến thắng của Do Thái giáo trên mọi kẻ thù của họ thì Gioan đến như một dấu chứng đối kháng, một sự kết án và huỷ diệt cả Israel.

Gioan là một tiên tri loan báo sự đau khổ và tàn phá. Sứ điệp của Gioan rất đơn sơ: Thiên Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với dân Ngài, Ngài đã hoạch định chương trình để phạt họ. Ngài sắp can thiệp vào lịch sử để lên án và thiêu huỷ họ. Gioan diễn tả cuộc tàn phá đó như một cuộc cháy rừng, đốt tất cả rơm rạ và cây cối, tiêu huỷ mọi dân tộc trong biển lửa. Gioan tiên tri rằng cuộc xử phạt nghiêm khắc của Thiên Chúa đối với Israel sẽ được một con người đến thực hiện.

Gioan nói về con người đó như Đấng phải đến. Ngài đã sẵn sàng, đang đứng, tay cầm rìu cầm sàng. Để có thể tránh cái án phạt mà Thiên Chúa sắp đổ xuống, Gioan kêu gọi sự sám hối. Nghi thức thanh tẩy là một dấu chỉ về sự sám hối ấy: họ đã xưng các tội của họ ra và nhận lấy nghi thức thanh tẩy của Gioan. Nếu tất cả cộng đoàn Do Thái hay có thể nói một số đông con cái Abraham thành tâm hối cải, có thể Thiên Chúa sẽ nguôi cơn giận và bỏ qua cuộc sử phạt này. Còn nếu Israel không hối cải, Thiên Chúa sẽ huỷ diệt và thiết lập một dân tộc mới. Chính vì thế mà Gioan đã kêu gọi hết mọi người, nào tội lỗi đĩ điếm, nào thu thuế lính tráng, nào luật sĩ và Pharisêu. Ở đây tất cả đều được mời gọi hãy hoán cải, hãy biến đổi cả cuộc đời.

Điều Gioan nhấn mạnh là một nếp sống luân lý mới đầy tính chất xã hội, lấy anh em làm gốc chứ không phải là lề luật, để sống vì con người: Kẻ nào có hai áo hãy chia cho người không có và kẻ có ăn cũng hãy làm như thế. Với người thu thuế ông nói: Chớ đòi điều gì quá mực đã định cho các ông. Với lính tráng, ông bảo: Đừng sách nhiễu, đừng vu khống, hãy bằng lòng với lương bổng của mình.

Từ xưa đến nay, khi nói đến việc chuẩn bị đón mừng Chúa, chúng ta nghĩ ngay tới việc đi xưng tội, lo dọn mình sạch mọi tội lỗi, trong khi đó Thánh Kinh lại nhắm vào việc cải đổi đời sống, một cuộc sống đầy tình người. Chỉ có cuộc sống chân chính không gian dối, không bóc lột, không lừa đảo, không gian tham; chỉ có cuộc sống liêm chính, công bình, yêu thương, chia sẻ và phục vụ mới dần dần tạo cho tâm hồn mình tinh sạch, mới giúp chúng ta chuẩn bị đón Chúa đến một cách đầy đủ và có ý nghĩa nhất.

 

7. Hãy vui mừng vì Chúa sắp đến

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

  1. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Chúa nhật thứ III Mùa vọng này thường được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Lời kêu gọi “hãy vui lên” được lặp đi lặp lại trong các bài đọc. Chúng ta vui vì Chúa đã đến gần. Nhất là khi chúng ta họp nhau trong Thánh lễ thì Chúa rất gần. Ngài đang hiện diện giữa cộng đoàn chúng ta.

  1. Gợi ý sám hối

Mặc dù Chúa đã bảo chúng ta đừng lo, nhưng vì thiếu lòng trông cậy và phó thác nên chúng ta cứ băn khoăn lo lắng về cuộc sống vật chất ở trần gian này.

Chúng ta chưa thực sự thấm nhuần tinh thần lạc quan của Tin Mừng nên chúng ta chưa tỏa chiếu niềm vui ra môi trường chung quanh.

Khi cầu nguyện, thường chúng ta hay trình bày với Chúa những băn khoăn lo lắng phàm tục, rất ít khi chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa vì tình thương bao la của Ngài dành cho chúng ta.

III. Lời Chúa

  1. Bài đọc I (Xp 3,14-18)

Ngôn sứ Xôphônia rao giảng trong thế kỷ VII trước công nguyên, vào những năm trước khi vua Giosias thực hiện cuộc cải cách tôn giáo.

Khi đó nước Do thái đang ở trong một tình trạng tồi tệ: bên trong thì đạo đức suy dồi, bên ngoài thì họa xâm lăng đang rình sẵn. Mặc dù vậy, Xôphônia vẫn kêu gọi dân chúng hãy vui lên, lý do là “Án lệnh phạt ngươi Thiên Chúa đã rút lại, và thù địch của ngươi Ngài đã đẩy lùi xa”.

  1. Ðáp ca (Tv Is 12)

Thánh vịnh này triển khai tâm tình lạc quan của bài đọc I: Lý do khiến dân Sion lạc quan là vì Thiên Chúa chính là sức mạnh và là Ðấng cứu độ họ.

  1. Tin Mừng (Lc 3,10-18)

Khi “dọn đường” tâm hồn cho các thính giả nghe Gioan giảng, ông đã nói “Hãy sám hối”. Người ta hỏi lại “Vậy chúng tôi phải làm gì?”. Và Gioan đã chỉ cho họ những việc cụ thể phù hợp với tình trạng cuộc sống của họ:

Người có thì hãy chia sớt cho kẻ không có.

Người đang sống bằng những thu nhập bất công thì hãy cố gắng sống công bình.

Kẻ đang áp bức người khác thì chấm dứt những việc làm hà hiếp của mình.

Gioan còn khiêm tốn phủ nhận những dư luận coi ông là chính Ðấng Messia, và giới thiệu Ðấng Messia thật cho họ biết.

  1. Bài đọc II (Pl 4,4-7)

Thánh Phaolô kêu gọi tín hữu Philipphê hãy vui và vui luôn mãi trong niềm vui của Chúa. Niềm vui này không chỉ là một tình cảm, nhưng phát sinh những hoa trái cụ thể trong cuộc sống: (1) sống hiền hòa rộng rãi với mọi người; (2) Không phải lo lắng gì cả, vì có gì thì cứ trình bày với Chúa; (3) Lòng trí luôn được bình an.

  1. Gợi ý giảng

* 1. Bí quyết hạnh phúc

Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta hãy vui luôn. Nhưng làm thế nào để có thể vui luôn? Câu chuyện sau đây có thể cho ta câu trả lời.

Một người chăn cừu sai đứa con trai của mình đến hỏi một nhà hiền triết về bí quyết của hạnh phúc. Nhà hiền triết đưa cho chàng trai một chiếc muỗng đựng đầy dầu và bảo: “Hãy cầm chiếc muỗng đi vòng quanh tòa lâu đài này và cố làm sao đừng cho một giọt dầu nào bị đổ”.

Chàng trai nghe lời, đi vòng quanh tòa lâu đài, đôi mắt chẳng dám nhìn bất cứ thứ gì khác mà chỉ dán chặt vào chiếc muỗng. Khi chàng trở lại, nhà hiền triết hỏi “Có thấy gì không?”. Chàng trai đáp “Dạ chẳng thấy gì cả”. Nhà hiền triết lại bảo “Bây giờ hãy đi một vòng nữa và hãy mở mắt quan sát tòa lâu đài”. Chàng trai lại cầm chiếc muỗng đi một vòng. Lần này chàng chăm chú ngắm nhìn từng chi tiết của tòa lâu đài: những gian phòng rất đẹp, những món trang trí rất mỹ thuật, khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, những vòi nước rất ngoạn mục… Khi trở lại, chàng kể hết cho nhà hiền triết nghe. Ông hỏi: “Thế những giọt dầu ta giao cho ngươi thì sao?” Chàng nhìn xuống chiếc muỗng. Ôi thôi, dầu đã đổ hết chẳng còn giọt nào.

Bấy giờ nhà hiền triết nói: “Ta chỉ có một lời khuyên nhỏ cho ngươi: bí quyết của hạnh phúc là khả năng vừa ngắm được mọi vẻ đẹp của tòa lâu đài, vừa không làm đổ mất một giọt dầu nào trong muỗng”. Chàng trai trẻ chợt hiểu: người chăn cừu có thể du ngoạn để ngắm nhìn những vẻ đẹp khắp nơi, nhưng không bao giờ được quên đàn cừu của mình. Bí quyết hạnh phúc là vừa chu toàn nhiệm vụ được giao cho mình, vừa vui hưởng cuộc sống.

Thật dễ có hạnh phúc khi ta làm điều ta muốn làm. Nhưng để tìm được hạnh phúc không phải trong điều ta muốn làm mà trong điều ta phải làm thì phải có ơn Chúa.

Hạnh phúc thật không do thỏa mãn được những ước muốn ích kỷ của mình. Hạnh phúc thật không thể có khi những điều ta làm lại khác với những điều ta tin. Hạnh phúc thật không thể có khi không có tình yêu. Bởi vậy nỗi buồn sẽ ập xuống trên ta mỗi khi ta trả lời “không” với tình yêu.

Chúng ta cũng không nên đồng hóa vui và sướng. Sướng thuộc về thể xác, còn vui thuộc về tinh thần. Sướng chẳng bao lâu rồi cũng sẽ chán, còn vui thì không bao giờ chán.

Ðiểm cuối cùng: chỉ có Chúa mới đong đầy mọi mơ ước của chúng ta, do đó nguồn phát sinh hạnh phúc chính là sự hiện diện của Chúa. Có Chúa trong đời ta thì đời ta sẽ vui. Ngôn sứ Isaia kêu gọi “Hãy vui lên”. Nhưng tại sao vui? Thưa vì “Có Chúa ở giữa chúng ta”. và Thánh Phaolô viết cho tín hữu Philipphê “Tôi muốn anh em hãy vui luôn”. Tại sao? Thưa “Vì Chúa đã đến gần”. Niềm vui mà thế gian này không thể ban cho chúng ta là niềm vui xuất phát từ ý thức về Chúa và về tình yêu của Ngài đối với chúng ta. (FM)

* 2. Sự vĩ đại của Gioan Tẩy Giả

Ngày xưa có một người thắp đèn thường được người ta gọi là Ông T. Ông làm nhiệm vụ thắp đèn hết sức chu đáo và đúng giờ. Mỗi tối khi màn đêm vừa buông xuống thì lập tức ngọn đèn của ông cũng sáng lên. Không ai biết ông làm thế nào để canh đúng giờ mà thắp đèn, bởi vì ông không có đồng hồ. Cuộc sống của ông cũng chẳng khá giả gì, nhưng ông yêu nghề của mình. Mọi người đều thương mến ông, nhất là trẻ con: khi trời tối khiến chúng không chơi đùa được nữa, thì ông đến, mang lại ánh sáng và chúng có thể tiếp tục chơi.

Công việc của Ông T. thật có ý nghĩa. Nhưng điều khiến ông vĩ đại là ông bị mù! Ông mang ánh sáng cho mọi người trong khi bản thân ông thì không nhìn thấy ánh sáng!

Cuối cùng thì điện đã đến với thị trấn này. Dân chúng trước đây quý mến ông thì bây giờ không còn nhớ gì đến ông nữa. Ánh điện sáng hơn ánh đèn nên chẳng ai màng tiếc nuối quá khứ làm chi nữa.

Ông T. nhắc chúng ta nhớ tới thánh Gioan Tẩy giả. Cũng như Ông T. thánh Gioan đã cần mẫn mang ánh sáng đến cho mọi người. Trong một thời gian, Ngài là sự ngưỡng mộ và quý mến của mọi người. Nhưng Ngài luôn ý thức mình chỉ là kẻ dọn đường, một ánh sáng lớn hơn sẽ đến, và Ngài sẽ không được đi trong ánh sáng tuyệt vời ấy. Và khi ánh sáng tuyệt với ấy là Chúa Giêsu đến, Ngài lùi lại phía sau để nhường bước cho Chúa Giêsu. Thật là vĩ đại.

Không ai thành đạt chỉ nhờ vào bản thân mình, mà luôn có ai đó ở phía sau giúp đỡ mình, hướng dẫn mình, khuyến khích mình, nói tóm lại là chuẩn bị cho mình. Rồi khi mình thành đạt thì người ấy lặng lẽ biến đi vào quên lãng.

Ðể làm một kẻ dọn đường cho người khác thì cần phải có tinh thần khiêm tốn và quảng đại cao cả lớn lao. Thật vậy, vì đó là một hình thức chết đi chính mình. Rút lui khỏi một chức vụ lớn để rồi chết dần mòn trong một cuộc sống âm thầm là điều mà chỉ những người vĩ đại mới làm được. Có nhiều người làm hỏng mọi việc chỉ vì bám giữ quá lâu địa vị và quyền lực của mình.

Những bậc làm cha mẹ đã không ngại bỏ ra quãng thời gian tốt đẹp nhất của đời mình để chuẩn bị tương lai cho con cái. Khi con cái đã lớn, cha mẹ phải rút lui để chúng có thể sống cuộc đời của chúng. Ðó là sự vĩ đại của những người làm cha làm mẹ.

Nhiều người cứ muốn bám vào ánh đèn sân khấu rực rỡ chói chang, cứ muốn cho mình mãi sáng và đẩy người khác lùi vào bóng tối. Chúng ta không được làm thế. Chúng ta phải vận dụng hết mọi khả năng của mình để chiếu sáng tối đa, nhưng đồng thời cũng phải quan tâm đừng cản đường tiến của người khác. Vả lại, chúng ta còn phải nhớ rằng mình còn mang nợ của những kẻ đã dọn đường cho mình. (FM)

* 3. Ðạo thực hành

Kitô giáo là một đạo thực hành và có tính xã hội, nghĩa là không chỉ là tương quan giữa Chúa với tôi, mà là Chúa – tôi – và những người khác.

Có một câu chuyện về một người thợ giày tên là Martin. Ông sống và làm việc ở tầng hầm. Tầng hầm này chỉ có mỗi một cửa sổ, cho nên ông chỉ nhìn thấy những bàn chân của những người qua lại. Chỉ cần thấy đôi giầy của người đi qua là ông biết người ấy là ai.

Ðời ông rất vất vả. Vợ ông đã chết, để lại một đứa con trai. Tuy nhiên khi thằng con vừa đủ lớn để có thể giúp ông thì nó cũng lâm bệnh và chết. Ông Martin rơi vào tuyệt vọng. Chôn cất thằng con xong, ông bỏ đạo và rơi vào thói rượu chè.

Một ngày kia, một người bạn già đến thăm ông. Ông trút hết bầu tâm sự. Người bạn khuyên ông nên đọc Tin Mừng, mỗi ngày một đoạn. Và bảo đảm rằng nhờ đó ông sẽ tìm lại được ánh sáng và niềm vui cho cuộc sống.

Ông Martin làm theo lời bạn. Mỗi ngày làm việc xong tới chiều là ông cầm sách Tin Mừng đọc một đoạn. Ban đầu ông chỉ đọc những đoạn Tin Mừng Chúa nhật. Nhưng sau đó thấy hấp dẫn nên ông đọc luôn những ngày trong tuần. Dần dà đời ông thay đổi, niềm vui đã trở lại với đời ông.

Một đêm, khi ông đang đọc Tin Mừng thì ông nghe có tiếng nói với mình “Martin, ngày mai hãy nhìn qua cửa sổ, tôi sẽ đến thăm ông”. Vì khi đó chẳng có ai cả nên ông Martin tin rằng đó là tiếng Chúa nói với ông. Bởi đó sáng hôm sau, lòng ông rất phấn khởi. Ông vừa làm vừa nhìn qua cửa sổ. Ông chăm chú để ý mọi đôi giày đi qua đi lại để chờ xem Chúa có đến thăm ông không. Nhưng chẳng có một đôi giày nào lạ cả.

Ðến xế chiều thì ông thấy một đôi giày rất quen, đó là giày của một người lính già tên là Stephen. Mở cửa ra, Ông Martin thấy Stephen đang đứng chắn ngay cửa, hai tay khoanh chặt trước ngực vì trời đang rất lạnh. Ông Martin rất muốn hắn ta đi chỗ khác cho rồi kẻo cứ chắn cửa sổ khiến ông không thấy được Chúa nếu Ngài đi ngang qua. Tuy nhiên Stephen cứ đứng đấy mà run. Cuối cùng Ông Martin nghĩ rằng chắc là hắn đói nên mời hắn vào ngồi cạnh lò sưởi, đưa cho hắn một ly trà và một mẫu bánh mì. Một lát sau Stephan cáo từ. Ông Martin còn đưa thêm cho hắn một chiếc áo khoác để đỡ lạnh. Suốt khoảng thời gian tiếp Stephen, Ông Martin không quên để ý nhìn về cửa sổ. Mỗi lần có một bóng người đi qua là ông chăm chú nhìn. Nhưng chẳng có gì đặc biệt.

Ðêm xuống. Ông Martin thu dọn đồ nghề và miễn cưỡng đóng cánh cửa sổ. Ăn buổi tối xong, ông cầm quyển Tin Mừng và tình cở mở ngay đoạn này: “Bấy giờ dân chúng đến hỏi Gioan ‘Chúng tôi phải làm gì?’ Gioan đáp ‘Ai có hai áo hãy chia cho người không có. Ai có gì ăn cũng hãy làm như vậy”. Ông Martin bỏ sách xuống và suy nghĩ, rồi ông chợt hiểu rằng quả thực hôm nay Chúa đã đến thăm ông qua anh chàng Stephen ấy. May mà ông đã đón tiếp tử tế. Thế là Ông Martin cảm thấy lòng tràn ngập vui mừng, một niềm vui mà từ trước tới nay ông chưa từng cảm nghiệm.

Ông Martin đã đón rước Chúa vào đời mình bằng việc đọc Tin Mừng. Và bước thứ hai đến một cách tự nhiên: ông đã đón rước Chúa qua việc đón rước người anh em đói khổ.

Chúng ta đang dọn đường cho Chúa đến, và chúng ta tin chắc rằng Ngài sẽ mang quà đến cho chúng ta. Nhung hãy nhớ rằng Chúa không chỉ đến trong lễ Giáng sinh. Ngài luôn đến, mọi lúc, mọi nơi, dưới mọi hình dáng, nhất là dưới hình dáng những người đang cần giúp đỡ. (FM)

* 4. Cho Chúa Một Cơ Hội (Lc 3,10-18)

Cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân tòng và một người chưa có niềm tin như sau:

– Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao?

– Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Ðức Ki tô.

– Vậy xin hỏi anh, ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

– Rất tiếc là tôi đã quên mất chi tiết này.

– Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

– Tôi cũng không nhớ rõ nên chẳng dám nói.

– Vậy ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài?

– Tôi không biết!

– Quả thật, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thật sự đi theo ông Kitô!

– Anh nói đúng một phần. Tôi rất hỗ thẹn vì mình đã biết quá ít về Ðức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này: Ba năm trước, tôi là người nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận và buồn tủi.

Thế mà, bây giờ tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ, gia đình tôi đã tìm lại hạnh phúc, các con tôi trông ngóng, chờ tôi về sau giờ tan sở.

Những điều này không ai khác hơn, chính là đức Ki tô đã làm cho tôi. Và đó là tất. cả những gì tôi biết về Người.

***

Khi lãnh phép rửa sám hối của Gioan, dân chúng hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc3,10). Qua câu hỏi ấy, chúng ta thấy sám hối mang chiều kích cộng đoàn, sẵn sàng đổi mới bằng hành động cụ thể.

Các Thánh thường nói: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Ðó là một thái độ sẵn sàng làm theo ý Chúa. Có được tâm tình ấy quả không dễ dàng. Nhưng nói được như Ðức Maria mới thực là cao quí: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Ngài nói” (Lc 1,38).

Người tân tòng trong câu chuyện trên đây, sau khi được đổi mới hoàn toàn, ông đã nói: “Những điều này không ai khác hơn, chính là Ðức Kitô đã làm cho tôi”.

Như vậy:

Sám hối không chỉ là quay trở về với quá khứ, mà còn hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, mà còn mang tính liên đới trong cộng đoàn.

Sám hối không chỉ là một cảm xúc mông lung, nhưng chính là một quyết tâm hành động.

Sám hối không chỉ là hướng tới đời sống thánh thiện, mà là trở về với một đấng thánh: Chúa Giêsu Ki tô.

Vì thế, sám hối chính là dành cho Chúa Ki tô cơ hội để Người thanh tẩy tâm can, thay đổi con người, nhất là để Người biến những tâm tình và ước muốn của chúng ta nên giống những tâm tình và ước muốn của Người.

Thay vì sám hối bên ngoài, Chúa Ki tô muốn chúng ta thật sự hướng lòng về Người.

Thay vì kiêu căng tự mãn, Chúa Ki tô muốn chúng ta thực sự khiêm tốn để nên giống Người.

Thay vì nô lệ cho của cải, tiền bạc, Chúa Kitô muốn chúng ta hãy ra khỏi nỗi bận tâm về mình mà nhường cơm sẻ áo cho anh em.

Mùa Vọng là mùa của hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Cho dù con người có sa ngã, phản bội, Thiên Chúa vẫn theo đuổi chương trình cứu độ của Người. Cho dù thấp hèn tội lỗi, con người vẫn mang hình ảnh cao đẹp của Thiên Chúa, nên mỗi người đều được Thiên Chúa tin tưởng, yêu thương. Mùa Vọng mời gọi chúng ta sám hối, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác và hy vọng nơi Người.

***

Lạy Chúa Giêsu, sám hối là dọn đường cho Chúa đến, sám hối cũng là dọn lối để đến với tha nhân.

Xin dạy chúng con biết bày tỏ lòng sám hối bằng cách mềm mại để Chúa uốn nắn, và quyết tâm sống công bình bác ái với anh em. Amen (Thiên Phúc, Như thầy đã yêu, năm C)

* 5. “Chúa đã đến gần”

“Chúa đã đến gần”. Câu này nghĩa là gì?

Phải chăng là đã gần đến lễ Giáng sinh? Hôm nay vào tuần thứ ba Mùa Vọng rồi. Chỉ còn hơn một tuần nữa thôi. Hiểu như vậy là hời hợt quá.

Phải chăng là Chúa đã ở ngay cửa lòng chúng ta. Chỉ cần chúng ta mở cửa thì Ngài bước vào? Ðúng vậy. Việc quan trọng nhất phải làm không phải là dọn dẹp bên ngoài mà là mở rộng cửa lòng để đón Chúa.

Và còn một nghĩa rất đặc biệt nữa: “Chúa đã đến gần” nghĩa là Chúa ở ngay trong những người gần cạnh chúng ta, ở ngay trong công việc chúng ta đang làm, ở ngay trong hoàn cảnh chúng ta đang sống. Ăn thua là chúng ta có nhận ra Chúa đang ở rất gần chúng ta hay không?

* 6. Chuyện minh họa

a/ Ông nhà giàu và người thợ giày

Có một người thợ giày suốt ngày vui vẻ ca hát. Lúc nào trẻ con trong xóm cũng xúm quanh nghe ông hát.

Ðối diện nhà anh là một ông nhà giàu suốt đêm lo đếm tiền, đến sáng mới đi ngủ nhưng cũng không ngủ được vì tiếng hát của anh thợ giày. Một hôm ông nghĩ ra một cách buộc người thợ giày im tiếng hát.

Ông mời người thợ giày sang nhà ông và tặng anh một túi đầy những đồng tiền vàng. Anh thợ giày trở về nhà ngồi đếm tiền cả ngày. Ðám trẻ con nhìn anh, anh sợ chúng biết anh có nhiều tiền nên đuổi chúng đi và đóng cửa lại. Ban đêm anh cứ nhớ tới túi tiền nên không ngủ được, anh ngồi dậy đem túi tiền giấu ở một nơi kín đáo. Sau đó anh nghĩ rằng nơi đó cũng chưa đủ an toàn nên lại ngồi dậy đem giấu nơi khác. Ban ngày lòng anh cũng canh cánh lo sợ. Thế là anh không còn hát ca gì nữa, cũng không đóng được đôi giày nào nữa. Tệ hại nhất là trẻ con không còn tới chơi với anh. Một thời gian sau anh chịu không nỗi nửa, đem túi vàng trả lại ông nhà giàu. Thế là từ đó trở đi anh lại vui vẻ, hát ca và trẻ con trở lại chơi với anh. (Willi Hoffsemmer).

b/ Tiếng cười – tặng phẩm

Sau mấy ngày hội thảo đầy căng thẳng, hai nhà truyền giáo Theodore Cuyler và Charles Spurgeon đi ra ngoài xả hơi. Họ chạy nhảy giữa cánh đồng như thể các học sinh được nghỉ học, vui chơi thỏa chí. Cuyler kể một câu chuyện vui làm Spurgeon bật cười sảng khoái. Rồi thình lình ngài nói:

– Này bạn Theodore, chúng ta hãy quì gối cám ơn Chúa đã ban cho chúng ta tiếng cười vui vẻ vừa rồi.

Và rồi cả hai nhà truyền giáo vĩ đại đó thản nhiên quì trên bãi cỏ xanh tươi cám ơn Chúa trước quà tặng là tiếng cười đó.

Ðâu có gì mâu thuẫn giữa cầu nguyện và cười vui? Vì một đàng là biểu hiện của sức khỏe tâm linh, một đàng là của sức khỏe thể xác.

  1. Bài giải thích của Origène (+ 253)

Phép rửa của Chúa Giêsu là rửa “bằng Thánh Thần và lửa” (Lc 3,17). Nếu bạn thánh thiện, bạn sẽ được rửa bằng Thánh Thần; nếu bạn tội lỗi, bạn sẽ bị rửa bằng lửa. Cùng một phép rửa sẽ thành án phạt và lửa cho những người tội lỗi bất xứng; nhưng các thánh, tức những người trở lại cùng Chúa với một niềm tin tưởng trọn vẹn, thì họ sẽ nhận được ơn sủng của Chúa Thánh Thần và ơn cứu độ.

Vậy, Ðấng được nói là “rửa bằng Thánh Thần và lửa” ấy, “tay Ngài cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẫy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Lc 3,17-18). Tôi muốn tìm hiểu xem vì sao Chúa cầm nia trong tay, và bởi luồng gió nào mà thóc lép bị thổi bay đi trong khi lúa mẫy, nặng hơn, thì gom lại một chỗ. Vì, nếu gió không thổi thì người ta không thể tách thóc mẫy ra khỏi thóc lép được.

Tôi tin rằng phải hiểu gió là những cơn cám dỗ khiến cho trong đám đông các tín hữu lẫn lộn lộ ra những người thuộc hạng thóc mẫy và những người thuộc hạng thóc lép. Vì chưng, khi tâm hồn bạn bị cám dỗ khống chế thì không phải cơn cám dỗ ấy biến bạn thành thóc lép, mà vì chính bạn thuộc về hạng thóc lép, tức là hạng người nhẹ dạ và không có đức tin. Cám dỗ chỉ vạch trần bản chất ẩn dấu của bạn mà thôi. Ngược lại, khi bạn can đảm chống lại cám dỗ thì cũng không phải cám dỗ làm cho bạn trở nên trung thành và kiên trì. Cám dỗ chỉ giúp làm hiện rõ những nhân đức kiên trì và can đảm có sẵn trong bản chất bạn trước đây còn ẩn kín mà thôi. Chúa đã nói: “Ngươi tưởng rằng Ta còn có mục đích nào khác hơn là làm tỏ lộ sự công chính của ngươi chăng?” (G 40,3 theo bản LXX). Chỗ khác Ngài còn nói: “Ta đã hạ ngươi xuống và cho ngươi chịu đói hầu bày tỏ ra điều gì đang có trong lòng ngươi” (Ðnl 8,3-5)

Cũng một cách ấy, bão táp không làm vững chắc cho “ngôi nhà xây trên cát” (Mt 7,24-25). Nhưng nếu bạn muốn xây nhà thì hãy “xây trên đá”. Khi ấy dù bão tố có nổi lên cũng không đánh đổ được ngôi nhà được xây trên đá, mà chỉ làm sập ngôi nhà xây trên cát thôi. Cũng vậy, trước khi nổi lên bão tố, gió thổi, sóng ùa, khi mọi sự còn yên tĩnh, chúng ta phải chú ý đến cái nền nhà, chúng ta phải xây ngôi nhà chúng ta bằng những viên đá vững chắc là các giới răn của Chúa; khi cơn bắt bớ bùng nổ làm cho các kitô hữu phải hoang mang lo lắng thì chúng ta chứng tỏ rằng ngôi nhà chúng ta đã được xây trên đá tảng là Chúa Giêsu Kitô.

Nhưng nếu ai đó chối bỏ Ngài – nguyện cho chúng ta thoát khỏi điều khốn nạn này – thì người ấy phải biết rằng không phải lúc việc nó chối Chúa được tỏ lộ rõ ràng thì nó mới chối Ngài đâu; nó đã mang sẵn trong mình nó những gốc rễ xa xưa của việc chối Chúa rồi; chỉ sau này khi người ta khám phá điều nó mang sẵn trong lòng thì điều ấy mới được công khai ra.

Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta là ngôi nhà vững chắc không cơn bão nào đánh đổ được vì đã được xây trên nền đá, trên Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Kính dâng Ngài vinh quang và quyền lực đến muôn thuở muôn đời, Amen.

  1. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, thánh Phaolô mời gọi chúng ta: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa, và giãi bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Trong niềm hân hoan trông chờ Con Chúa ngự đến, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

  1. Hội thánh luôn khuyên nhủ con cái mình / cố gắng sống bác ái yêu thương với tất cả mọi người / tôn trọng công bằng trong đời sống xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết quan tâm đến lời khuyên tha thiết của Hội thánh / và cố gắng thực hiện trong đời sống đức tin thường ngày.
  2. Trên thế giới ngày nay / vẫn còn biết bao người đang đói khổ vì thiên tai / vì thiếu lương thực thực phẩm trầm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang lâm cảnh gian truân khốn khó / được cứu trợ đầy đủ và kịp thời.
  3. Trong cuộc sống thường ngày / có một số người chỉ lo cho bản thân mình / mà ít khi quan tâm đến người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu hiểu rằng / họ cần phải sống theo lời thánh Phaolô dạy: / là vui với người vui và khóc cùng người khóc.
  4. Chia sẻ cơm áo cho những ai đói rách bần cùng / cũng như tôn trọng tài sản và danh dự của mọi người / là bổn phận của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng chu toàn các bổn phận quan trọng này.

Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con đang hết lòng trông đợi Chúa Giêsu Kitô, Con Một Chúa giáng trần để cứu độ chúng con. Xin Chúa ban ơn thanh tẩy tâm hồn chúng con sạch mọi vết nhơ tội lỗi, để xứng đáng đón mừng mầu nhiệm Giáng sinh cao cả. Chúng con cầu xin.

  1. Trong Thánh Lễ

– Chúc bình an: Có lẽ từ trước tới nay chúng ta chúc bình an cho nhau chỉ bằng một cử chỉ cúi chào, hờ hững, theo thói quen. Hôm nay, ý thức lời Chúa kêu gọi “Hãy vui lên”, chúng ta hãy chúc bình an cho nhau với một tâm hồn vui vẻ và một ước muốn làm một điều gì đó cho mọi người được vui.

VII. Giải tán

Lời tung hô trước Tin Mừng trong Thánh lễ hôm nay là “Allêluia. Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn”. Anh chị em ra về và hãy luôn nhớ thực hành lời đó.

 

8. Kẻ tội lỗi.

Vào một ngày Chúa nhật tháng chín năm 1972, tại góc phố đông người qua lại, người ta thấy xuất hiện một nhà giảng thuyết. Ông đưa cánh tay phải lên và chỉ vào một người nào đó và nói: Anh là kẻ có tội. Hành động này đã gây nên một hậu quả kỳ lạ. Mọi người lấm lét nhìn ông rồi cúi mặt xuống trong thinh lặng.

Từ mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chắc hẳn lời giảng của Gioan Tiền hô bên bờ sông Giócđan cũng đã tạo ra một hậu quả như thế. Trong đám đông, có những người đã cười nhạo ông. Có những người đã tức giận ông, nhưng cũng có những người đã nhận biết sự sai trái của mình.

Chẳng hạn những người thu thuế nhận ra có lúc mình đã đòi hỏi quá mức ấn định. Những người lính có lúc đã đối xử tàn bạo với dân chúng. Còn tất cả thì có lúc đã khước từ sự giúp đỡ cần thiết cho những người chung quanh. Ông đã đụng vào vùng thâm sâu và dễ thương tổn nhất của họ, ông đòi buộc họ phải nhìn lại tâm hồn mình, khám phá ra những khuyết điểm, để rồi dứt khoát từ bỏ tội lỗi mà quay trở về cùng Chúa.

Còn chúng ta thì sao? Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã ý thức được những hậu quả mà tội lỗi gây ra cho bản thân, cho gia đình cũng như cho xã hội, thế nhưng chúng ta lại không có đủ can đảm dứt bỏ tội lỗi, trái lại nhiều lúc chúng ta còn chạy theo những mời mọc, những quyến dũ, những lôi kéo của tội lỗi, để rồi như lời thánh Phaolô đã diễn tả: Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi ghét thì tôi lại làm.

Chúng ta giống như một người muốn nhảy xuống sông để tắm cho được sạch, nhưng lại ngại trời rét. Vì thế, cứ ngồi trên cầu ao, thò một chân xuống rồi lại co lên. Cứ thế, cứ thế, nửa muốn tắm nửa lại sợ rét.

Hay như một con bò, nửa muốn uống nước, nửa muốn ăn cỏ, thành thử hết nhìn qua bên này lại nhìn qua bên kia, mà bụng thì vẫn đói và khát.

Vậy cho đến lúc này, chúng ta đã có thái độ dứt khoát hay chưa? Chúng ta hãy nhớ lại lời thánh Gioan Tông đồ: Nếu chúng ta nói rằng mình vô tội, thì chúng ta chỉ là kẻ nói dối.

Mặc dù tâm hồn chúng ta rất xinh đẹp vì được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đồng thời nó lại rất yếu đuối và có thể vấp ngã bất cứ lúc nào. Chúng ta giống như một chiếc bình sành dễ vỡ. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành qua Bí tích Giải tội.

Mùa vọng chính là thời gian giúp chúng ta nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi, rồi sám hối ăn năn để được ơn tha thứ, cũng như được hưởng sự bình an mà Chúa sẽ đem đến trong đêm Giáng sinh.

 

9. Nhà giảng thuyết đường phố – Lm. Mark Link, SJ.

Cách đây ít năm, bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đã làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông nhan đề: “Whatever Became of Sin?” (Bất cứ gì cũng là tội?). Ông bắt đầu quyển sách bằng một câu chuyện trào lộng khiến chúng ta phải suy nghĩ. Vào một ngày chúa nhật tháng chín năm 1972, trên góc phố đông người qua lại thuộc khu trung tâm Chicago, xuất hiện một nhà chuyên giảng thuyết ở đường phố. Đang lúc các nhân viên văn phòng vội vã lo đi ăn trưa, nhà giảng thuyết này thình lình giương cánh tay phải lên, dùng ngón tay xương xẩu chỉ vào một nhân viên nào đó rồi la lên: “Anh là kẻ có tội!” đoạn ông đứng im, nghỉ vài giây rồi lại bắt đầu chỉ vào một nhân viên khác và la lên: “Anh là kẻ có tội!”

Bác sĩ Menniger nói: “Tác động mà nhà giảng thuyết gây ra nơi những người bộ hành đi ngang qua đó thật là kỳ lạ”. Họ lấm lét nhìn ông, rồi lại quay mặt đi chỗ khác, rồi lại lén nhìn nữa, và cuối cùng vội vàng đi tiếp.

Chắc chắn Gioan Tẩy giả cũng gây được tác động tương tự trên đám dân khi ngài xuất hiện ở bờ sông Giođan. Hẳn nhiên trong đám dân, một số chế nhạo ngài, số khác tức giận ngài, còn số khác nữa nhận biết từ thâm sâu cõi lòng mình sự sai quấy của họ. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong bài Phúc Âm hôm nay: Các người thu thuế nhận ra mình đã có lỗi trong việc thu thuế quá mức, đám lính tráng nhận thấy mình thường hay bắt nạt dân chúng, còn tất cả dân chúng đều nhận ra tội không biết chia sẻ phần của cải dư thừa cho người túng thiếu. Trong quyển sách nói trên, bác sĩ Menninger cho thấy rằng nhiều người thời nay cũng đã phạm những điều sai quấy. Nhưng điều đó không làm cho bác sĩ Menninger phải ưu tư hay lưu tâm. Điều khiến cho ông phải ưu tư hay lưu ý là có rất nhiều người thời nay không chấp nhận rằng mình đã làm những điều sái quấy. Chính vì thế mà nhà giảng thuyết trên chỉ nói “Anh (hay chị) là kẻ có tội” đã tạo ra một tác động thật kỳ lạ nơi những nhân viên làm việc ở Chicago.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng như nhà giảng thuyết nọ đã chạm vào vơi vùng thâm sâu dễ thương tổn nhất của dân chúng. Ngài đòi buộc dân chúng xét lại tâm hồn mình và nhận biết lỗi lầm của mình. Ngài còn đòi họ phải từ bỏ tội lỗi để quay về cùng Thiên Chúa.

Trong cuốn sách tựa đề Something More (Một cái gì hơn thế nữa) của bà Catherine Marshall, người ta tìm thấy một minh hoạ sống động về những khuyến dụ của Gioan Tẩy giả. Một hôm, cô Linda, con gái bà chuẩn bị đi tắm. Ngay khi vừa đặt một chân xuống bồn ngay dưới vòi tắm, còn chân kia vẫn còn trên chiếc thảm ngoài bồn tắm, cô bỗng liên tưởng đến hình ảnh cuộc đời mình. Cô thường muốn hiến dâng đời mình cho Chúa, nhưng chẳng bao giờ hoàn tất được ước nguyện đó, vì cô luôn sống tình trạng chân trong chân ngoài như thế này. Giờ đây có lẽ đã đến lúc cô phải quyết định dứt khoát hoặc theo Chúa hoặc không theo Ngài, cô nghĩ đến cái giá phải trả khi chọn con đường theo Chúa. Giá ấy chẳng phải rẻ, nhưng cô đã quá mệt mỏi vì tình trạng lập lờ hai phía, để rồi chả phía nào đem lại cho bình an thoải mái. Thế rồi cô đứng im suy nghĩ một hồi lâu, đoạn hít một hơi sâu vào lồng ngực, và nói to lên: “Lạy Chúa, con xin chọn Ngài”. Nói xong, cô bước hẳn hai chân vào bồn tắm. Hành vi này đối với cô giống như một phép rửa đích thực. Đây chính là sự biến đổi tâm hồn mà Gioan tẩy giả đề nghị dân Do Thái thực hiện.

Vậy làm thế nào áp dụng thực tế những điều trên đây vào cuộc sống chúng ta? Muốn trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta hãy trở lại câu chuyện của bác sĩ Menninger về nhà giảng thuyết trên đường phố nọ. Tất cả chúng ta đều đã từng làm đìều sai quấy. Nếu còn chút nghi ngờ gì về điều này chúng ta chỉ cần đọc lại lá thư thứ nhất của thánh Gioan trong đó ngài dùng những câu nói hết sức thẳng thừng: “Nếu chúng ta nói rằng: chúng ta không có tội là chúng ta tự lừa dối mình… nếu chúng ta cho rằng mình không hề phạm tội tức chúng ta xem Thiên Chúa là kẻ nói dối và không có lời Ngài trong bản thân chúng ta” (1 Ga 1: 8,10)

Tôi rất vui mừng khi nghe thánh Gioan công bố ra tội lỗi của chúng ta một cách thẳng thừng như thế, vì điều đó giúp chúng ta dễ dàng đồng ý với bác sĩ Menninger hơn, khi ông cho rằng việc nhìn nhận tội lỗi đem lại cho chúng ta sức khoẻ tâm lý lẫn tinh thần. Quả thế, chúng ta phải nhìn nhận mình là kẻ có tội. Nói rõ hơn là chúng ta rất xinh, rất đẹp, nhưng đồng thời cũng rất yếu hèn. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành nhờ bí tích Giải tội.

Vì thế, Mùa Vọng chính là thời gian giúp chúng ta nhìn nhận mình là kẻ có tội để rồi chúng ta ăn năn thống hối xưng tội ra ngõ hầu mở rộng tâm hồn trước Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta. Đây là thời gian để chúng ta làm điều Linda Marshall đã làm, nghĩa là không thể kéo dài tình trạng sống hai mặt mà chả cái nào ra hồn cả. Đây là thời gian để chúng ta hít sâu hơi thở vào lồng ngực rồi thốt lên với Chúa: “Lạy Chúa, con xin chọn Ngài”.

Để kết thúc, chúng ta hãy lập lại lời cầu nguyện được một Kitô hữu tên là Origen viết ra cách đây 1600 năm; “Lạy Chúa Giêsu, đôi chân con dơ bẩn…. xin hãy đổ nước vào thau và rửa cho con, con biết rằng con quá bạo gan khi cầu xin Chúa điều này, nhưng vì con sợ bị Chúa quở trách: Nếu Ta không rửa chân con thì con chẳng phải là bằng hữu cuả Ta. Vậy xin Chúa hãy rửa chân con vì con ao ước được làm bằng hữu của Ngài”.

 

10. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng

“Chúng tôi phải làm gì” (Lc 3,10)

Phúc âm hôm nay mô tả lại khung cảnh dân chúng tìm đến Gioan để được hướng dẫn sống như thế nào cho phù hợp và xứng đáng để đón chờ Đấng Cứu Thế. Thánh Gioan xuất hiện với cách sống và tinh thần khiêm, lời mời gọi của ông đã đánh động rất nhiều con người, khơi lên trong lòng họ những tâm tình sám hối và muốn quay về với Thiên Chúa, dù họ còn rất mơ hồ về Đấng Cứu Thế khi họ tự hỏi có phải Gioan là Đấng Cứu Thế. Họ vẫn đến với Gioan để nghe giảng dạy và lời mời gọi của Gioan đơn giản, cụ thể bằng việc chia sẻ cơm ăn áo mặc, sống công bằng, nhường nhịn…

Lời mời gọi của Gioan đối với những người đồng thời với ông cũng là lời mời gọi mọi người chúng ta, nó là những gì rất gần gũi, là cuộc sống xảy ra xung quanh ngày hôm nay chúng ta cần làm. Chúa đến với chúng ta qua rất nhiều người, nhiều cách và nhiều biến cố. Tất cả là cơ hội để chúng ta đón nhận Chúa. Có những biến cố và những người Chúa gởi đến để thức tỉnh và mời gọi chúng ta trong cuộc sống thường. Mùa vọng là thời gian thuận tiện để thực hành sâu sắc hơn đời sống người kitô hữu, gắn bó với Chúa bằng đời sống cầu nguyện, thực hành tình yêu thương với mọi người bằng cách sống chia sẻ, công bằng và khiêm tốn. Đối với chúng ta Chúa đã đến và đang đến mỗi giây phút trong cuộc sống hằng ngày, điều cần thiết là chúng ta mở rộng tâm hồn đón Chúa, chuẩn bị đời sống nội tâm để đón Chúa trong ngày Chúa quang lâm, sống hài hoà các mối tương với tha nhân, mở rộng tấm lòng để san sẻ.

Cuộc sống xao động, nhiều cách sống để chọn lựa, có nhiều lúc chúng ta không nhận ra rõ điều nào là ý Chúa, tinh thần của Chúa để thi hành. Vì vậy chúng ta cần sự hướng dẫn của Lời Chúa và Giáo Hội. Cậy dựa vào Chúa, luôn bám víu vào Chúa trong suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Dù cuộc sống có nhiều thay đổi, biến chuyển và nhiều lý thuyết mơ hồ nhưng trong tay Chúa chúng ta vững vàng chu toàn bổn phận của người kitô hữu và hoàn thành trọn vẹn cuộc sống ở trần gian này.

 

11. Hãy vui lên – Lm Giuse Phạm Thanh Liêm

Phaolô mời gọi các tín hữu của Ngài: “hãy vui lên”. Tiên tri Sophônia nói: “hãy ca lên”. Tôi phải làm gì để chuẩn bị tâm hồn đón Thiên Chúa đến? Tôi phải làm gì để có thể sống vui?

  1. Vì Thiên Chúa ở giữa ngươi

Tiên tri Sôphônia cho rằng phải ca hát vì Thiên Chúa đang ở giữa dân Người, vì Thiên Chúa đã đẩy lui quân thù cho dân, vì Thiên Chúa sẽ thêm sức mạnh cho dân Người, vì Thiên Chúa yêu thương dân Người, Ngài quy tụ cả những kẻ đã bỏ lề luật của Ngài.

Thiên Chúa ở với ai, thì người đó sẽ được Thiên Chúa bảo vệ. Thiên Chúa đã ở với Abraham khi ông đi vào Aicập, Ngài đã bảo vệ ông khỏi bao tai họa và bênh vực quyền lợi của ông. Khi Sara, vợ của Abraham, được thương yêu và bị bắt làm vợ vua Pharaô, thì Thiên Chúa đã đổ tai họa xuống người Aicập và buộc Pharaô phải trả Sara về cho Abraham. Thiên Chúa đã ở với Yacóp, đã đi với Yacóp và dẫn ông trở về quê cha đất tổ khi ông chạy trốn Esau. Thiên Chúa đã ở với Môsê, để ông có thể đứng vững trước vua Pharaô, để ông có thể đem dân Do Thái ra khỏi Aicập. Thiên Chúa đã ở với các tiên tri, để làm cho các tiên tri dám nói những điều mà những người có quyền thế và dân chúng không muốn nghe.

Hôm nay người ta biết rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn luôn hiện diện với tất cả mọi người và với dân Người. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, Ngài luôn trợ giúp con người vì tất cả đều là con dân của Ngài. Không nhờ Ngài, không gì có thể hiện hữu và thành sự. Thiên Chúa hạnh phúc khi ở với con người. Con người cần Thiên Chúa để sống hạnh phúc, và Thiên Chúa cũng cần con người vì Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa đang ở với con người, đó là lý do mọi người cần biết để có thể vui lên.

  1. Vì Chúa đã gần đến

Thánh Phaolô kêu gọi dân thành Philip hãy vui lên, vì “Chúa đã gần đến”. Với thánh Phaolô, Đức Giêsu là Đấng có thân phận Thiên Chúa, Ngài đã tự hủy khi mang thân phận con người, Thiên Chúa đã đến và ở giữa con người, hiện Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đến hiện diện giữa trần gian trong thân phận con người, và Ngài sẽ lại đến. Ngài đang đến, nên các Kitô hữu hãy vui mừng.

Tại sao vui khi Chúa đến gần? Trong quan niệm của thánh Phaolô, Đức Giêsu là niềm vui, là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Chúa tới, là để cứu độ con người, để giải phóng toàn diện con người, đưa con người vào hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Vì vậy, Kitô hữu vui biết bao khi biết Chúa đang tới gần. “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi… Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại đón anh em đi với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng được ở đó với Thầy”.

Trong khi chờ đợi Chúa, Kitô hữu hãy sống ôn hòa. Niềm vui phải tỏa rạng trên gương mặt của các Kitô hữu, vì đây là niềm vui lớn vô cùng. Trên đời này, không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui này: Chúa đến để cứu độ con người, để đưa con người tới hạnh phúc viên mãn. Dân ngoại không biết, nên không có niềm vui này được; còn Kitô hữu biết điều này, nên họ vui. Nếu Kitô hữu không biết điều này, thì thánh Phaolô đã nhắc nhở các con cái của Ngài: “hãy vui lên, tôi nhắc lại lần nữa: anh em hãy vui lên trong Chúa”.

III. Đức Giêsu- niềm vui của con người

Đức Giêsu quả thực là niềm vui của con người! Khi được sinh ra tại chuồng chiên cừu nơi làng Bêlem, không ai biết Ngài là nhân vật đặc biệt. Khi sống thời thơ ấu tại Nazarét, cũng chẳng ai biết nguồn gốc thần linh của Ngài ngoại trừ Đức Mẹ và thánh Yuse. Khi Ngài đi rao giảng, Ngài được coi là một tiên tri, là người qua đó Thiên Chúa hiện diện và yêu thương dân Người. Với tư cách là một tiên tri, người của Thiên Chúa, Ngài cũng đã làm cho dân chúng thêm tin tưởng vào Thiên Chúa, làm cho dân chúng vui vì họ cảm nhận Thiên Chúa quan tâm và an ủi dân Người.

Sau biến cố Phục Sinh, các tông đồ nhận biết Đức Giêsu hoàn toàn lấy ý Thiên Chúa làm ý mình, Ngài chấp nhận vâng phục cho đến chết, Ngài hoàn toàn phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa, Ngài thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa đến độ có thể nói Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Đức Giêsu có nguồn gốc thần linh; điều này là nguyên nhân khách quan làm Kitô hữu vui mừng.

Một khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng đồng bản tính với Thiên Chúa, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành, thì Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng! Thiên Chúa đã yêu thương con người đến cùng cực nên mới cho Con của Ngài nhập thể làm người! Con người thật hạnh phúc dường bao khi nghe Tin Mừng này. Niềm tin này ảnh hưởng trên con người toàn diện, làm con người vui mừng hân hoan. Đâu còn niềm vui nào lớn hơn niềm vui này! Niềm vui này phải lan tỏa và chi phối toàn diện con người, cả về thể lý lẫn tinh thần. Ước gì mỗi Kitô hữu tin tuyệt đối vào Đức Giêsu Kitô, để cuộc đời của mỗi người là dấu chỉ Thiên Chúa yêu thương con người được biểu lộ qua Đức Giêsu Kitô.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

  1. Xin chia sẻ niềm vui lớn nhất trong đời bạn.
  2. Bạn có kinh nghiệm về nỗi buồn không? Nó là gì? Nó có đáng cho bạn buồn không?
  3. Đức Giêsu có ảnh hưởng nhiều trên đời bạn không? Xin chia sẻ!

 

12. Chúng tôi phải làm gì?

MINH HỌA LỜI CHÚA – Nguyễn Hiếu

  1. Vẫn luôn hy vọng chờ đợi

Victor Frankl là một bác sĩ tâm thần người Do thái. Ông đã bị Đức Quốc Xã bắt nhốt trong trại tập trụng. Ông có viết cuốn “Tìm ý nghĩa đời người”. Trong đó ông mô tả những đau khổ đồng bào ông phải chịu trong trại tập trụng. Trong những đau khổ đó, nỗi đau khổ chờ đợi là chua xót nhất: chờ để biết số phận của người thân và của chính mình, chờ để được giải thoát!…

Vào thời Chúa Giêsu, người Do thái cũng đau khổ chờ đợi Đấng Mesia đến giải thoát khỏi nô lệ đế quốc Lamã. Nỗi đau khổ chờ đợi này tác động mạnh trên tâm hồn họ theo nhiều cách khác nhau: một số thất vọng buồn rầu chán nản, số khác mất niềm tin, còn lại nhóm người vẫn hy vọng chờ đợi với lời cầu khẩn, van xin, thỉnh nguyên…

***

Thực sự Chúa đã đến ở giữa họ, mà họ không nhìn nhận, không tiếp rước, vì Người không làm theo ý ho. Họ chỉ nghĩ đến lợi vật chât. Chúa đến đem niềm vui hạnh phúc cho tâm hồn Chúa đến đem tình thuơng cứu rỗi đến cho loài người, dạy con người sống bác ái, công bình với nhau để được “thu vào kho lẫm” là được sống hạnh phúc muôn đời. (Theo “Vision 2000”)

  1. Anh là kẻ có tội

Bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đã làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông tựa đề: “Điều gì đang xảy đến cho tôi?”. Ông bắt đầu bằng câu truyện trào lộng khiến mọi người suy nghĩ Năm 1972, vào một chúa nhật tháng 9, ở một gốc phố đông người qua lại tại Chicago, xuất hiện một nhà giảng thuyết đang khi các nhân viên vội vã đi ăn trựa. Ông chỉ vào người này nói: “Anh là kẻ có tội”. Đoạn ông im lặng một lúc rồi chỉ người kia nói: “Anh là kẻ có tội!…”

Khách qua đường thấy thế thì lấy làm lạ, kinh sợ. Họ lấm lét nhìn ông rồi quay đi vội vã, rồi lại lén nhìn nữa.

***

Chắc chắn Gioan Tẩy Giả ngày xưa cũng gây tác động như thế trên dân chúng khi ông xuất hiện ở sông Giođan, khiến mọi người nhận biết tội lỗi mình mà ăn năn thống hối, từ người thu thuế, đến binh lính, và dân thuờng, để đón nhận ơn cứu rỗi của Chúa Cứu Thế. Họ xúm lại nhờ ông chỉ dạy điều gì phải làm, việc chi phải lánh để được Chúa tha tội, để được huởng nhờ ơn cứu độ.

Tôi có tội không? Tôi cần ăn năn sám hối để chờ mong Chúa đến với tôi không?!

Thánh Gioan Tông đồ nói với chúng ta: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta… Tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: Đó là Đức Giêsu(1Ga.1,8-2,1) Đấng đang đến cứu độ chúng ta. (Theo Cha M. Link).

  1. Được áp dụng vào cuộc sống

Trong sách của Do thái giáo có kể câu chuyện của một nhà chế biến xà bông với một giáo sĩ. Một hôm nhà chế biến xà bông đến gặp giáo sĩ và nói: “Tôi đã hiểu đạo Do thái Ngài đã nói với chúng tôi: mục đích của tôn giáo là đem lại hòa bình, công bằng, bác ái cho thế giới. Nhưng tôi thấy những người theo tôn giáo có thực hiện điều nào đâu!…

Vị giáo sĩ bình thản mời anh đi dạo trong công viên Họ đi ngang một đám trẻ đang chơi lấm lem. Giáo sĩ nói: Quan sát các trẻ này, anh kết luận xà bông không có hiệu quả gì. Anh phản đối: xà bông bao giờ cũng hiệu quả khi nó được sử dụng. Vị giáo sĩ đáp lại: Tôn giáo cũng thế Nó cũng chỉ có giá trị khi những lời giáo huấn và những điều luật được áp dụng vào cuộc sống. (Theo “Minh họa Lời Chúa).

***

Thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi các thành phần dân chúng sống bác ái, thực hiện công bằng để đón rước Chúa Cứu Thế…

Tôi có muốn đón rước Chúa Cứu Thế không? Tôi có sống bác ái công bình không?

  1. Nhìn thấy Chúa…

Ở quần đảo nọ, có hai nông phu luôn kình địch cải vã nhau, cương quyết không đội trời chung. Đời sống hai người ngày càng bất hạnh, kéo theo cả hai gia đình thù hằn xô xát nhau, làm cho bầu khí trong vùng ngày càng thêm nặng nề khó sống…

Các trưởng lão trong vùng thấy vậy, cố sức giải hòa hai người. Các ông đề nghị một anh nên đi gặp Chúa. Anh sẵn sàng, nhưng hỏi lại:

– Gặp Chúa ở đâu?

Các trưởng lão dẫn anh đến nhà người anh thù ghét, giải thích cho anh hiểu kẻ mà anh thù hận là Chúa đó, vì mỗi người là hình ảnh Thiên Chúa, là anh em với nhau vì là con một Cha trên trời.

Nghe các trưởng lão giải bày chí tình chí lý, hai người ôm nhau hòa lên khóc nức nở, vì nhớ lại từ trước đến giờ mưu mô hại nhau và thù ghét đến Chúa nữa!…

***

Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người sám hối, đón rước Chúa Cứu Thế. Ai nấy xúm lại hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì?…”

Hai người nông dân trên đây cũng sẵn sàng nghe các trưởng lão, ăn năn sám hối lỗi lầm của mình, tha thứ cho nhau, trở lại thương yêu đùm bọc nhau, vì họ thấy Chúa trong anh em mình: “Chúa đã đến ở trong mọi người. Muốn đón rước Chúa, phải tiếp nhận anh chị em mình…”

  1. Sống bác ái công bình

Dưới thời vua Cảnh Công nước Tề, có lần bão tuyết 3 ngày liên tiếp. Vua Cảnh Công ngồi trong cung điện, mặc áo lông áo kép. Ánh Tử vào hầu, Cảnh Công bảo:

– Lạ thay, mưu tuyết 3 ngày rồi mà trời không rét nhỉ.

Ảnh Tử hỏi lại:

– Ngài không rét ư?

Cảnh Công cười. Ánh Tử nói tiếp:

– Ánh Tử này vẫn thuờng nghe nói các bậc vua hiền:

Lúc no biết người khác đói.

Lúc ấm biết người khác rét.

Lúc nhàn hạ biết người khác vất vả.

Nay vua lại không biết thế.

Cảnh Công đáp:

– Ánh Tử nói có lý. Cảnh Công này có lỗi. Xin nghe lời.

Rồi vua cho điều tra ai đói rét để phân phát cơm gạo quần áo. (Theo “Phút Cầu nguyện”, tập III)

***

Nghe lời cảnh cáo, vua Cảnh Công biết sửa mình, từ bỏ thói ích kỷ bất công, trở lại sống công bình bác ái.

Mùa Vọng, Thánh Gioan Tiền hô cũng mời gọi mọi người sống bác ái công bình để đón nhận Chúa Cứu Thế.

Ước gì mỗi người chúng ta biết vâng nghe thực hành theo lời Thánh nhân, để được Chúa đến cứu thoát chúng ta khỏi lầm than khốn khổ hồn xác.

 

13. Thay đổi

“Chúng tôi phải làm gì?”

Hôm nay là Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, chủ tế mặc phẩm phục màu hồng, sắc màu của niềm vui.

Hoà cùng niềm vui của phụng vu, mỗi người chúng ta hãy ý thức thay đổi trạng thái tâm hồn mình cho phù hợp với ý nghĩa phụng vụ mà Giáo Hội mời gọi. Gác lại chuyện cơm áo gạo tiền, tạm hoãn những ưu tư nghề nghiệp, vơi đi những lo âu bệnh hoạn, lau khô những giọt nước mắt tang chế u sầu của đời tạm. Và bây giờ, hỡi những ai có niềm tin vào Chúa Kitô, hãy vui lên, hãy thay đổi đời mình.

Hãy thay đổi đời mình! Đây là điều mà Gioan Tẩy giả kêu gọi mọi người thực hiện qua đoạn Phúc Âm hôm nay. Đó cũng là thái độ sống mà phụng vụ mùa vọng mời gọi từng người. Nhưng gần gũi hơn, thiết thực hơn, thay đổi đời mình, sống bác ái là tiếng gọi tha thiết của những người bên cạnh chúng ta: vợ chồng, con cái, hàng xóm, bè bạn, thầy cô, bạn bè…

Sự thay đổi hôm nay của bạn có ý nghĩa quan trọng cho cuộc đời bạn. Bạn thay đổi cho sự thăng tiến của bản thân. Bạn thay đổi vì hạnh phúc của người bên cạnh. Bạn thay đổi để chứng tỏ bạn gắn bó và lắng nghe lời Giáo Hội mời gọi. Bạn thay đổi để nói lên rằng bạn tin vào Tin Mừng Đức Kitô. Và hơn thế, giờ đây bạn thay đổi vì bạn yêu mến Đức Kitô và không muốn làm phiền lòng Người.

Hài Nhi Giêsu rất cần sự anh tân của từng người trong nhân loại. Ai cũng biết Chúa Giêsu sinh ra trong thời tiết khắc nghiệt của đêm đông lạnh giá. Nhưng cái lạnh Ngài sợ hơn cả là cái lạnh của lòng người. Bạn đang lạnh nhạt, hờ hững với những người thân trong gia đình, sống vô trách nhiệm, chỉ lo cho riêng mình. Bạn sống vô tình với tha nhân, dù họ đang cần sự giúp đỡ. Chúa sợ cái lạnh đó nhiều lắm. Không phải Chúa sợ cho Chúa mà Chúa đang lo sợ cho bạn. Chúa lo cái lạnh ấy diễn tiến lâu ngày sẽ đóng băng con tim bạn, sẽ làm mất dòng chảy yêu thương nơi tâm hồn bạn. Giáng sinh năm nay Chúa không đến được vì máng cỏ lòng bạn không còn hơi ấm.

Bạn ơi! Hãy ý thức rằng đối xử tệ bạc với mọi người trong đức ái là giết chết trái, là ngăn chặn hành trình giáng lâm của Đức Kitô nơi tâm hồn, là huỷ hoại công cuộc cứu chuột của Thiên Chúa.

Bạn là người Kitô hữu: Hãy vui lên, hãy thay đổi để chuẩn bị cho Chúa một máng cỏ lòng; lòng tin, lòng cậy, lòng mến.

 

14. Công chính – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Chương trình cứu độ của Thiên Chúa ban cho loài người được hình thành qua rất nhiều thời kỳ. Thiên Chúa đã mặc khải ý định qua từng biến cố vui buồn của một dân tộc. Người đi vào thời gian để thực hiện ý định của Người. Đọc lịch sử dân Do-thái, chúng ta nhận ra bàn tay quan phòng của Người qua từng giai đọan. Thiên Chúa không rút bớt thời gian và không dùng sự lạ để đạt tới mục đích ngay, nhưng chờ đợi chuẩn bị của từng thế hệ con người. Mỗi thế hệ, Chúa lại chọn gọi một số những ngôn sứ và chứng nhân. Người mong muốn cải đổi từng tâm hồn để đón chờ Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa sai các tiên tri để loan báo tin vui ngày xum họp trở về. Mỗi biến cố xảy đến cho dân là một dấu chỉ lòng thương xót. Tiên tri Sophonia đã cất tiếng: Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on, hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi (Soph 3, 14).

Dân Chúa đã trải qua nhiều gian nan thử thách. Chúa ban cho Dân thật nhiều hồng phúc, nhưng họ cũng phải đối diện với nhiều thách đố thường ngày. Chúa để mắt đoái nhìn và dẫn dắt Dân trong nẻo chính đường ngay, nhưng rất nhiều lần họ đã đi lạc xa và rời bỏ Chúa. Chúa phạt họ lưu đầy, nhưng rồi Chúa lại qui tụ họ về. Tiên tri Sophonia diễn tả: Như trong ngày lễ hội. Những kẻ tản lạc được hồi hương Ta đã cất khỏi ngươi tai hoạ khiến ngươi không còn phải ô nhục nữa (Soph 3, 18). Ơn cứu độ được cưu mang qua nhiều dòng dõi nối tiếp sứ mệnh chuẩn bị. Chúng ta không thể tách rời các biến cố nhỏ to trong chương trình cứu độ. Thời gian là trường huấn luyện và là thuốc chữa lành tâm linh. Biết bao nhiêu kinh nghiệm xương máu để gìn giữ kho tàng châu báu niềm tin của cha ông. Đó là tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất.

Bài phúc âm của Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng, Gioan Tẩy Giả xuất hiện giữa đám đông mở đường hoán cải. Gioan bắt đầu sứ mệnh rao giảng sám hối ngay giữa nơi quần chúng. Mọi cấp bậc và mọi giới đã chạy đến ngài và xin ý kiến làm sao có thể đổi đời. Cả các binh lính cũng đến hỏi: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?” Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.” (Lc 3, 14). Lời kêu gọi của ông Gioan vẫn vang vọng qua mọi thời. Hôm nay đây mỗi người chúng ta cũng hỏi: Tôi phải làm gì để nên trọn lành? Cũng chính những việc cần thi hành mà Gioan đã nói về lòng bác ái, sự công bằng, sống ngay chính và thái độ chấp nhận. Niềm vui trong tâm hồn sẽ dâng trào khi sự ích kỷ, gian tham và kiêu căng bị xóa nhòa.

Cuộc sống xã hội tạo nên hình dạng nếp sống con người. Người ta nói gần mực thì đen, gần đền thì rạng. Cách sống và suy tư hành xử của chúng ta cũng bị ảnh hưởng khi sống trong xã hội một xô bồ, gian dối và lừa đảo. Những sai lạc và lầm lỗi nho nhỏ trở thành thói quen hằng ngày, chúng ta không còn nhận diện sự chính thật. Thánh Gioan Tẩy Giả đã khơi dậy và nhắc nhở mọi người sống tinh thần mới lấy đức ái làm cột trụ dẫn đường. Việc làm cấp bách là hãy chia sẻ áo quần, cơm bánh cho những người nghèo khó đói ăn, thiếu mặc. Niềm an vui của ơn cứu độ không cao siêu xa vời, nhưng hòa nhập ngay trong cuộc sống đời thường. Chúng ta sẽ nhận được niềm vui hoan lạc khi biết chia sẻ, cho đi và hiến thân.

Mùa Vọng mang ý nghĩa gì cho mỗi người chúng ta trong giai đoạn này. Chúng ta có thực sự cảm nhận được niềm vui trào dâng khi đón nhận lời mời gọi của thánh Gioan không? Chúng ta có thật sự muốn canh tân đời sống và dọn đường đón nhận Chúa vào tâm hồn không? Chúng ta cần tu thân, phải tích đức và đổi mới cách suy tư sống đạo. Biết bao nhiêu cơ hội đã đi qua trong cuộc đời bị bỏ lỡ. Những ràng buộc của bản ngã và của tham sân si cuốn quyện trong cách sống. Chúng ta khó vượt ra khỏi vòng bao quanh ứng xử thường tình của người đời. Đôi khi chúng ta cũng đua đòi và hãnh diện về những thói hư tật xấu của mình. Nghĩ rằng mình hiểu đời, điệu đời, chịu chơi và thích ứng được với những đua chen xã hội. Chúng ta cảm thấy thỏa mãn cuộc sống và dần rời xa những ràng buộc luân lý đạo đức.

Không phải ngày một, ngày hai là chúng ta thoát được khỏi vòng cuốn hút đam mê cuộc đời. Người ta thường nói rằng con người thì chứng nào tật ấy. Đúng thật, một tật xấu đã nhiễm, không dễ gì thay đổi. Việc xấu đã thành thói, khó bề sửa chữa. Có người khoe rằng tính tôi là vậy đó. Ai chịu thì chịu, không chịu thì thôi. Đây chỉ là cách cãi chầy và nói cối. Cần khiêm hạ trong ý thức với cả ý chí quyết tâm để có thể tránh xa và loại trừ những thói xấu. Thuốc nhẫn nhục chữa bệnh tham sân si. Ai cũng cần phải tu thân và tu tâm để nên người hoàn thiện. Nếu chúng ta tu được trong nghịch cảnh mới gọi là chân tu. Khi gặp những sự trái tai, gai mắt và thị phi, mà chúng ta cầm lòng được mới gọi là tu. Nếu không đối diện với nghịch cảnh thì khó biết sức tu của mình. Khi đụng truyện, chúng ta mới biết kẻ dữ, người hiền. Nếu chúng ta không tu tập sửa đổi thì ngày qua tháng lại, tuổi đời chồng chất và tóc bạc răng long, các thói hư tật xấu vẫn còn đó.

Hãy vui lên vì ơn cứu độ đã gần kề. Hãy vui với những giây phút hiện tại, chúng ta không phải đợi đến ngày mai. Chúng ta hãy bắt đầu ngay ngày hôm nay những gì có thể làm. Chân thành nhận diện những gốc rễ của sự sai xót, yếu đuối và lầm lạc để hồi đầu. Chúng ta chấp nhận sự thật về mình và đứng trên đôi chân của mình. Bỏ đi được một thói hư hay một tật xấu là chúng ta đã bước lên một nấc thang của sự hoàn thiện. Như ông Gioan, tuy dù mọi người kính phục Gioan, nhưng không màng dư luận thị phi. Ông trả lời thẳng thắn: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa (Lc 3, 16). Gioan khiêm hạ trong lòng để chu toàn sứ vụ được trao. Nhận mình là tiếng kêu trong hoang địa để dọn đường cho Chúa. Là những thừa tác viên của lời Chúa, chúng ta hoàn tất mọi công việc như người đầy tớ phục vụ.

Niềm vui của ngày trở về quê hương xứ sở là biến cố hân hoan. Thánh Phaolô viết thơ cho tín hữu thành Philipphê cũng loan báo tin vui: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!(Phil 4, 7). Phaolô đã đón nhận niềm vui ngập tràn bởi chính nguồn ơn cứu độ là Chúa Kitô phục sinh. Ngài không quản ngại gian khó trên bước đường truyền giáo. Phaolô đã chịu trăm ngàn đắng cay để làm nhân chứng cho Chúa Kitô. Ngài khuyên lơn các tín hữu khởi đầu là hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa: Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện (Phil 4, 7). Tin vui cần được loan truyền. Phaolô đã lãnh nhận nhưng không, nên ngài cũng đem tin mừng biếu không bằng mọi giá.

Lạy Chúa, nếu không có ơn Chúa, chúng con chẳng làm được gì. Hãy luôn gắn bó với Chúa Giêsu là nguồn cội để lãnh nhận sự sống. Chúa phán: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được (Ga 15, 5). Xin cho chúng con biết tận dụng mọi thời gian để tu tâm và luyện tính để nên hoàn thiện hơn. Không tu luyện, kiềm chế và tiết độ thì không thể thay đổi tính tình. Cuối cuộc đời nhìn lại đời mình, có khác gì như con dã tràng xe cát biển đông.

 

15. Niềm vui trong Chúa

Chúa nhật thứ 3 Mùa vọng được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Nếu con người luôn sống trong niềm vui, họ sẽ cảm thấy mọi người và mọi vật thật đáng yêu! Bởi đó, thánh Phaolô tông đồ khuyên bảo mọi người hãy vui lên: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi. Chúa đã gần đến!”. Quả thực, người Kitô hữu đích thực phải là người sống trong niềm vui, vì chúng ta đang mang trong mình niềm hy vọng về một tương lai huy hoàng và chắc chắn. Đó chính là hạnh phúc Nước Trời mai sau. Đó là niềm vui được sống kết hiệp với Chúa trong tình yêu vĩnh cửu. Như vậy, ai sống trong chán chường, thất vọng và buông trôi thì người ấy chưa phải là người Kitô hữu đích thực. Vì đó là lối sống của những người không có niềm tin và niềm hy vọng.

Lời Chúa trong những Chúa Nhật Mùa vọng phát hoạ cho chúng ta thấy rất rõ nét hình ảnh của một người sống niềm niềm vui và niềm hy vọng đích thực.

– Đó là người luôn biết hoán cải tâm hồn bằng đời sống tỉnh thức và cầu nguyện: ý thức mình là người tội lỗi nên luôn nép mình bên Chúa, chiến đấu trong sức mạnh của Chúa. Không liều lĩnh làm quen và tiếp cận với những dịp tội vì biết thân phận mình yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội. Có nhiều người lý luận nghe ngon lành lắm: con đi uống bia ôm cho vui vậy thôi chứ có ôm ai đâu! Con chơi đánh bài để giải trí vậy thôi chứ có sát phạt gì đâu! Con coi phim sex cho biết vậy thôi chứ có bao giờ làm chuyện ấy đâu! Có chắc vậy không? Đừng tưởng mình là mình đồng da sắt nên miễm nhiễm với mọi thú vui bất chính trong cuộc đời này! Thái độ khôn ngoan vẫn là biết giữ mình tránh xa các dịp tội. Khôn ngoan là biết mình, là không liều lĩnh hoặc nghĩ rằng: “có vào hang mới bắt được cọp”. Ma quỷ luôn giăng mắc mưu kế đầy tràn xung quanh chúng ta.

– Người sống niềm hy vọng đích thực là người cảnh tỉnh mình luôn luôn để khỏi chè chén say sưa và ham hố sự đời. Con người hôm nay sống trong một thế giới văn minh và đề cao vật chất, nên chúng ta dễ dàng bị cuốn hút vào vòng xoáy ham thích hưởng thụ. Hưởng thụ càng nhiều càng tốt. Vì thế, họ lao mình vào những cuộc vui không bờ bến như những con thiêu thân tội nghiệp!

– Người sống niềm hy vọng sống động nhất là người biết sống chia sẻ: Thánh Gioan Tẩy giả khuyên người ta rằng: ” Ai có hai áo thì chia cho người không có, có gì ăn cũng hãy làm như vậy”. Đây là việc làm cụ thể, việc làm của tình yêu. Nó thể hiện tinh thần: “lá lành đùm lá rách”, hoặc “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Nó rất thực tế và thắm tình thương của con người từ ngàn xưa đến nay. Nói đến đây, tôi không thể nào quên câu chuyện mà Mẹ Têrêsa Calculta đã kể lại như sau: Khi Mẹ đến cứu trợ cho một ngôi làng nghèo lắm ở Ấn độ. Mẹ Têrêsa gặp một bà mẹ có 5 đứa con mà đứa nào cũng gầy còm, đen đúa, xấu xí vì thiếu ăn. Mẹ cho ta bà ta một bao gạo 50 kilô. Điều lạ lùng là liền sau khi nhận bao gạo từ tay Mẹ Têrêsa, thì người phụ nữ này vội vàng sớt bao gạo ra làm hai, rồi nhanh chóng ôm nửa bao gạo ấy đi nhanh đến cái chòi gần đó để chia cho một người chị em của mình. Khi trở lại, Mẹ Têrêsa hỏi bà: “Sao chị không để dành gạo ăn mà đem đi đâu vậy?” Chị liền nói: “Thưa Mẹ, người đàn bà ấy cũng có 5 người con như con vậy mà mấy ngày nay họ không có gì để ăn cả”. Mẹ Têrêsa nghe những lời nói ấy thì quá xúc động. Mẹ liền cho bà ấy một bao gạo khác. Mẹ Têrêsa nhớ mãi hình ảnh đẹp ấy trong cuộc đời của Mẹ và thường kể lại câu chuyện cảm động ấy cho những người khác nghe. Đó là thái độ anh hùng vì người ta dám chia sẻ ngay trong sự thiếu thốn của mình. Phải chăng, đó là hình ảnh của những con người đang sống niềm hy vọng mà Thánh Gioan Tẩy Giả hôm nay kêu mời mọi người đi vào lối sống ấy.

– Sống niềm vui và niềm hy vọng đích thực còn là sống tử tế với mọi người cùng với việc sống đức công bằng với mọi người trong tình huynh đệ anh em. Thánh Gioan tẩy giả đã chỉ thị cho những người thu thuế và binh lính rằng: “đừng đòi hỏi quá mức ấn định, đừng ức hiếp ai”. Bởi lẽ, khi mình có quyền cao chức trọng, con người rất dễ dùng uy thế của mình để hà hiếp kẻ dưới tay mình. Đó là tinh thần của thế gian. Còn những người con cái Chúa luôn được dạy bảo rằng: “Hãy dùng quyền bính của mình để phục vụ người khác.” Chúa Giêsu đã nêu gương sáng tuyệt vời cho chúng ta về đời sống yêu thương và phục vụ ấy.

Như vậy, khi con người biết sống theo những giá trị của Tin mừng thì họ trở thành những con người sống trong niềm vui của Chúa. Và bất cứ ai đã mang trong mình niềm vui của Chúa rồi thì họ sẽ sống hiền hoà và bình an vô cùng dẫu cho cuộc đời có phủ phàng đối với họ, có gán ghép cho họ những điều xấu xa tồi tệ cách nào đi chăng nữa.

Có một câu chuyện kể như sau: Hakuin nổi tiếng là một vị thiền sư trong sạch, thánh thiện. Gần chùa Hakuin trụ trì có một cô gái rất xinh đẹp. Thế rồi bất ngờ, cha mẹ phát hiện ra cô có thai. Tra hỏi mãi, sau bao nhiêu dằn vặt, đau đớn, cô gái thú nhận đang mang trong mình giọt máu của Hakuin. Ngay lập tức, cha mẹ cô đến gặp nhà sư và trút lên người vị thiền sư mọi nỗi phẫn uất, tức giận của họ. Hakuin điềm đạm, bình tĩnh chỉ thốt lên hai tiếng “Thế à!?” và với gương mặt bừng sáng, vị thiền sư dang hai tay đón sinh linh bé nhỏ. Đứa bé lớn lên mạnh khoẻ trong vòng tay ấm áp của Hakuin. Một năm trời trôi qua, cô gái không chịu đựng được sự cắn rứt lương tâm của mình, đành nói ra sự thật về quan hệ của mình với anh chàng bán cá ngoài chợ. Cha mẹ cô vội vàng đến chùa xin lỗi vị thiền sư và xin phép được nhận lại đứa bé về cho bố mẹ nó nuôi. Vẫn gương mặt bình thản, điềm tĩnh, Hakuin thốt lên vẻn vẹn hai tiếng: “Thế à!?

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng: trong hoàn cảnh bị tước đoạt hết danh dự, phẩm giá, Hakuin không hề buồn, không giải thích, phân trần, chỉ có im lặng, sự im lặng đáng giá ngàn vàng và tình yêu thương con người vô bờ bến đã minh chứng cho tất cả. Cách ứng xử của Hakuin biểu lộ thái độ của một con người sống có niềm hy vọng và có niềm tin vào một hạnh phúc lớn hơn và trỗi vượt hơn.

Chúng ta cũng hãy chứng tỏ niềm vui trong Chúa, niềm tin và hy vọng của mình qua cuộc sống hiền hoà và nhân ái trong cách đối xử với mọi người để xứng đáng trở thành những người môn đệ của Chúa Kitô nơi trần thế này. Amen.

 

16. Chúng tôi phải làm gì? – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Khi nghe thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng, hàng đoàn người lũ lượt kéo đến xin chịu phép rửa ăn năn sám hối. Hơn thế nữa, họ còn muốn thay đổi cuộc đời nên ai cũng hỏi thánh nhân: “Chúng tôi phải làm gì?”. Thái độ của họ thành khẩn, đơn sơ, hiểu biết và đầy quyết tâm. Để trả lời, thánh nhân đưa ra những hướng dẫn thật cụ thể. Đó là:

Phải làm những việc cụ thể. Hai thái độ cơ bản phải có là công bình bác ái. Bác ái là chia sẻ: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có, ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Như thế, bác ái không phải là bố thí những gì dư thừa, nhưng phải là chia sẻ trong tinh thần “nhường cơm sẻ áo” “hạt gạo cắn đôi”. Chia cả những gì mình đang cần thiết. Trong tinh thần huynh đệ. Trong tinh thần yêu người khác như chính mình. Cơm ăn áo mắc là những gì rất cụ thể thiết thực và vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể chia sẻ được. Chỉ cần muốn là có thể làm được. Công bình cũng không phải là điều gì quá phức tạp. Chỉ đơn sơ giữ đúng luật pháp: nhân viên thu thuế “Đừng đòi hỏi quá mức ấn định”. Và khi thi hành luật pháp binh lính phải có lòng nhân ái chứ đừng cậy quyền thế áp bức và nhất là bóc lột người khác: “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta”. Tuy đơn sơ, thiết thực nhưng lại rất quan trọng để được ơn cứu độ.

Phải làm trong đời sống cụ thể. Những việc cụ thể đó không phải tìm những nơi xa xôi mới thực hiện được. Mỗi người hãy thực hiện công bình bác ái trong đời sống thường ngày của mình, với những người sống chung quanh mình. Thánh nhân không kêu gọi người ta phải ra khỏi môi trường cũ. Ngài chỉ kêu gọi người ta từ bỏ nếp sống cũ. Người thu thuế cứ thu thuế. Binh lính cứ làm nhiệm vụ của binh lính. Nhưng làm với tinh thần mới. Điều quan trọng không phải là đổi mới nơi ở, nhưng là đổi mới chính mình, đổi mới ý nghĩ, đổi mới lời ăn tiếng nói, đổi mới việc làm. Tục ngữ có nói: “Dù có đi xa vạn dặm mà không chịu thay đổi thì bạn vẫn chỉ là con người cũ”. Cứ ở nhà mà dám đổi mới là ta đã đi những bước rất xa, sẵn sàng gặp được Chúa và lãnh nhận được ơn cứu độ.

Những người Do Thái thời Thánh Gioan Tẩy Gỉa thực lòng mong chờ Chúa đến. Nên đã hỏi ngay những việc cụ thể để làm. Và khi nhận được lời khuyên của thánh nhân, họ đã thực hành ngay tức khắc. Vì thế họ đã gặp được Chúa. Hôm nay ta cũng tích cực sửa chữa đời sống theo tinh thần công bình và nhất là theo tinh thần bác ái. Biết sống tinh thần chia sẻ. Dám cho đi cả những gì cần thiết. Mẹ Têrêsa Calcutta dạy ta: hãy cho đi cho đến khi cảm thấy đau đớn xót xa, thì sự cho đi mới thực sự có ý nghĩa. Biết cho đi như thế, chắc chắn ta sẽ gặp được Chúa.

Ta luôn bất bình với thế giới chung quanh. Ta mong ước đổi mới thế giới. Hãy nghe lời Thánh Gioan Tẩy Giả, đừng đòi hỏi người khác đổi mới nếu chính mình không đổi mới. Hãy đổi mới chính mình trước, rồi mọi người sẽ đổi mới. Khi mọi người đổi mới, thế giới sẽ đổi mới. Hãy bắt đầu sống tốt. Rồi mọi sự và mọi người quanh ta sẽ trở nên tốt. Sống tốt chính là bắt đầu thay đổi thế giới. Sống tốt chính là góp phần vào công cuộc cứu chuộc của Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con bắt đầu cuộc đời mới ngay từ ngày hôm nay, để con được gặp Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Chia sẻ khác với bố thí thế nào? Thánh Gioan Tẩy Giả đòi ta chia sẽ hay bố thí?
  2. Bạn có ước mong thế giới đổi mới nên tốt hơn không? Muốn thế bạn phải làm gì?
  3. Bạn có mong ước Chúa đến với mọi người không? Muốn thế bạn phải dọn đường cho Chúa như thế nào?

 

17. Hãy canh tân cuộc sống của mình.

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)

HÃY CANH TÂN CUỘC SỐNG CỦA MÌNH ĐỂ ĐƯỢC NIỀM VUI VÀ VUI THẬT.

Linh mục Antony de Mello Dòng Tên đã kể lại câu chuyện sau đây về một nhà tu Ấn Độ nổi tiếng. Vị tu sĩ đáng kính này đã nhận định về cuộc đời của mình như sau: “Khi còn trẻ, tôi là một con người hăng say cách mạng và lời cầu nguyện của tôi lúc đó dâng lên Thiên Chúa là: “Lạy Chúa, xin ban cho con sức mạnh để thay đổi trọn cả thế giới này”. Nhưng rồi khi tôi sống đến nửa đời người, tôi ý thức là mình chưa thay đổi được ai cả, tôi ít tự phụ hơn và cầu nguyện cùng Chúa như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con một ơn này mà thôi, là có thể thay đổi được những ai mà con gặp hằng ngày, những người thân trong gia đình, những bạn bè. Chỉ được như thế thôi thì con cũng mãn nguyện lắm rồi”. Nhưng giờ đây đến lúc già, tháng ngày đời tôi sắp tàn, tôi ý thức mình đã tự phụ và điên rồ, tôi chỉ còn cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính bản thân con”. Nếu tôi đã sống và cầu nguyện như thế ngay từ đầu cuộc đời của tôi, thì tôi đã không uổng phí cuộc sống của mình”.

Lời tự thú trên đây của nhà tu hành người Ấn Độ nhắc chúng ta một điều căn bản là, hãy thay đổi chính bản thân của mình trước để có thể giúp anh chị em mình, xã hội mình thay đổi sau đó. Truyền thống đạo đức từ ngàn xưa còn nhắc mỗi người chúng ta hãy “tu thân, tề gia” rồi mới mong “trị quốc, bình thiên hạ”. Tất cả đều bắt đầu với cuộc nhỏ. Đó là tu thân, là thay đổi chính cuộc sống của mình theo tinh thần Tin Mừng của Chúa. Đây là một điều rất khó.

Các bài đọc hôm nay dường như muốn nhắc chúng ta điều này. Bài Phúc Âm theo thánh Luca ghi lại lời mời gọi ăn năn hối cải mà Gioan Tẩy Giả công bố cho tất cả mọi người. Nhưng trước khi công bố lời mời gọi ăn năn hối cải đó, Gioan đã sống thật trong cuộc đời của mình, điều mà ngài truyền dạy cho kẻ khác, đến xin ngài hướng dẫn: “Thưa Ngài chúng tôi phải làm gì?” Gioan đã lên tiếng kêu gọi: thực thi tình liên đới bác ái, thực thi công bằng, từ bỏ bạo lực, sống tôn trọng trật tự, sống hòa bình. Chỉ khi nào con ngươì và nhất là đồ đệ của Chúa Kitô thực hiện thật sự một cuộc trở lại của chính con người của mình, thì lúc đó, con người mới hưởng được niềm vui của Chúa, mới có thể sống an vui theo như lời mời gọi của tiên tri Sôphônia mà chúng ta đọc qua trong bài đọc thứ nhất của thánh lễ hôm nay, và lời mời gọi của thánh Phaolô tông đồ nơi bài đọc thứ hai: “Anh em thân mến! Hãy vui luôn trong Chúa”. Làm sao chúng ta có thể sống an vui được khi tâm hồn chúng ta chưa thật lòng trở lại cùng Chúa, chưa dứt khoát chừa được những tội lỗi, chưa bỏ đi được những tâm tình tiêu cực, ghen tương, hận thù đố với anh em xung quanh.

Trong tập sách “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có những suy tư sau đây về niềm vui của đức tin Kitô. Chúng ta có thể chia sẻ lại những suy tư của Đức Thánh Cha như sau: “Tin Mừng có nghĩa là tin mang đến niềm vui mừng và Tin Mừng luôn là một lời mời gọi con người sống vui tươi. Tin Mừng là một lời xác nhận cao cả cho giá trị của thế giới và giá trị của con người. Bởi vì Tin Mừng là chính sự mạc khải sự thật về Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn mạch nguyên thủy của niềm vui và hy vọng cho con người. Tin Mừng trước hết là niềm vui của công cuộc sáng tạo. Thiên Chúa khi tạo dựng đã nhìn thấy tạo vật Ngài đều tốt đẹp. Ngài là nguồn mạch của niềm vui cho mọi tạo vật và trước hết cho toàn thể nhân loại. Ngài nói với mọi tạo vật như sau: Sự hiện hữu của con là điều tốt đẹp. Và niềm vui của Thiên Chúa được phổ biến ra nhất là qua Tin Mừng. Theo đó, điều tốt lành luôn luôn cao cả hơn mọi điều xấu trong thế giới này. Thật vậy, sự xấu không phải là điều căn bản và không có tính cách quyết định vĩnh viễn. Đây là điểm phân biệt rõ ràng đạo Kitô ra khỏi mọi hình thức của thuyết bi quan hiện sinh, ra khỏi mọi hình thức nhận định bi quan về cuộc sống con người. Thiên Chúa là nguồn mạch của niềm vui và hy vọng cho con người”.

Chúng ta hãy đến với Thiên Chúa, hãy đến gần Thiên Chúa hơn, hãy canh tân cuộc sống của mình để được niềm vui và vui thật.

Lạy Chúa, nếu chúng con không đủ can đảm để đến với Chúa, thì xin Chúa thương hãy đến với chúng con. Hãy đến chứng tỏ tình yêu thương của Chúa và tha thứ mọi tội lỗi chúng con đã phạm. Xin hãy tẩy sách tâm hồn chúng con khỏi những tâm tình oán hờn, ghen tương, hận thù, để chúng con thật sự sống trong ân sủng của Chúa, thật sự sống trong niềm vui và hưởng được niềm vui vì được Chúa thương ngự đến.

 

18. Thay đổi trong vui mừng

Theo cái nhìn bình thường khi có được niềm vui và phấn khởi trong lòng người ta dễ thay đổi. Phần nhiều người ta thay đổi từ những điều xấu sang những điều tốt hơn. Có khi người ta thay đổi hoàn toàn.

Chúng ta nhớ trường hợp ông Dakêu đã thay đổi như thế nào. Từ một con người keo kiệt chỉ biết thu gom cho chính mình ông đã thay đổi trở thành một con người quảng đại biết mở ra cho hết mọi người: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” (Lc 19, 8b). Sở dĩ ông thay đổi như thế vì ông đã được một niềm vui hết sức to lớn. Ông chỉ dám trông mong được thấy mặt Chúa Giêsu nhưng Người đã ban cho ông quá niềm mong ước. Người đã đến cư ngụ và dùng bữa nơi căn nhà của ông.

Hôm nay, cùng với Giáo hội chúng ta bước vào Chúa nhật thứ ba Mùa vọng. Ðây là ngày Chúa nhật của sự vui mừng. Vui mừng vì Ðấng Cứu Thế Giêsu đã đến và đang ngự giữa chúng ta.

Ðoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy một số người Do thái chỉ vì Ðấng Cứu Thế sắp đến theo lời rao giảng Thánh Gioan Tẩy Giả thôi mà họ đã hồ hởi xin được thay đổi: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc 3, 10). Ông đã chỉ cho họ cách thay đổi rất cụ thể tùy theo từng hạng người và tùy theo từng nghề nghiệp. Chắc chắn họ sẽ làm theo sự chỉ dẫn của Thánh Gioan để đón nhận Ðấng Cứu Thế đến với mình.

Liên tiếp hai Chúa nhật vừa qua Lời Chúa nhắc nhở chúng ta hãy tỉnh thức và dọn đường để đón Chúa đến. Hôm nay, Lời Chúa một lần nữa tiếp tục mời gọi chúng ta đón Chúa cách khẩn thiết hơn.

Thật ra Ðấng Cứu Thế Giêsu đã đến rồi. Hơn nữa, trong từng giây phút Chúa Giêsu đang đến với từng người và từng gia đình chúng ta. Không lẽ bấy nhiêu không đủ để chúng ta vui mừng sao. Nếu thật sự vui mừng chúng ta hãy nhanh chóng đừng chậm mà thay đổi tùy theo hoàn cảnh sống của mình cho thật tốt hơn.

 

19. Phần thưởng

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)

Vua Aman coi tướng Naaman, tổng tư lệnh quân đội, của ông là một nhân tài tuyệt luân. Đánh đâu thắng đó. Dư tài điều binh, khiển tướng có đến ngàn, vạn quân sĩ nhưng ông thất bại trong việc kiểm soát chính con người mình, nhất là chứng bệnh cùi. Ông nghe đồn tiên tri Elisha bên Samaria chữa được bệnh cùi. Naaman và đoàn tuỳ tùng kéo đến xin ra mắt nhà tiên tri. Elisha đã không tiếp chỉ nhắn bảo đến sông Giođan tắm bảy lần sẽ khỏi. Nghe tới đó Naaman nổi giận như sóng cồn. Tự ái bị tổn thương. Tiên tri có thá gì, sao coi thường tể tướng quá thế. Quốc thể ta bị nhục mạ quá lắm. Không lẽ nước sông xứ Israel tốt hơn nước sông xứ chúng ta sao. Đoàn tuỳ tùng tức tối trên đường về. Rất có thể ông tâu vua cho quân dậy cho một bài học. Thiên Chúa không mở mắt ông bằng các nhà luật sĩ nhưng bằng đứa đầy tớ gái. Nó nói với ông. Ngài hẳn vui mừng nếu tiên trì bắt Ngài vượt rừng sâu, trèo núi cao, lặn đáy biển để lành bệnh. Thưa không, tiên tri mong ngài làm điều bình thường, điều nhỏ để hái kết quả vĩ đại, mong Ngài đừng từ chối. Lời con bé khiến ông tướng suy nghĩ. Ông đến tắm nơi tiên tri chỉ bảo. Lần tắm thứ bảy vừa xong, ra khỏi nước da ông mịn màng, mặt ông tươi sáng, miệng ông cười rộ, lòng ông thanh thản, chân ông nhảy, tay ông múa, cổ ngẩng cao ca tụng Thiên Chúa. Đoàn tuỳ tùng trở lại xin lỗi nhà tiên tri và trao quà đáp lễ. Elisha không nhận quà nhưng vui vì tể tướng vui mừng ca tụngThiên Chúa. 2Vua 5,11tt.

Chúng ta cũng muốn làm việc vĩ đại để chúc tụng Thiên Chúa. Đây là lối suy nghĩ của vị tể tướng muốn làm việc lớn, trọng đại hơn là làm những việc bé nhỏ tầm thường hàng ngày. Lối suy nghĩ đó không phải là lề lối của Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta trung thành trong công việc nhỏ, việc bình thường. Qua Ngài việc nhỏ đó mang lại thành quả trọng đại. Việc trọng đại là việc của Chúa, không phải của ta. Những ai mong muốn, ước ao làm việc trọng đại thường gây tai hoạ cho mình và cho người khác. Chính những công việc nhỏ mọn có sức mạnh làm thanh thản tâm hồn, làm vơi đi gánh nặng cuộc đời. Những câu đáp ca trong thánh vịnh hôm nay và tiên tri Zapharia đều kêu gọi con gái Sion và con cái thành Jerusalem thực hiện những việc đơn sơ, bé mọn.

Mừng vui lên, hãy nhảy mừng ca tụng, tán dương….. hãy ca múa trong niềm hân hoan như ngày hội. Thánh vịnh kêu gọi ca tụng Thiên Chúa và dâng lời ca ngợi. Hãy hát lên bài ca ngợi khen, hãy reo vui.

Thánh Phaolô trong thư gởi cho tín hữu thành Philipi 4,4tt nói rõ hơn khi ngài viết

Tôi kêu gọi anh em hãy vui lên, hãy vui lên trong Chúa.

Vui lên trong Chúa, không phải vui vì niềm vui khác nhưng niềm vui đến từ Chúa. Muốn có niềm vui trong Chúa cần cầu nguyện. Cầu và tạ ơn cho niềm vui được trọn vẹn. Khi làm điều đó tâm hồn thanh thản, tâm trí an bình. Làm sao lời cầu có sức mạnh ban bình an cho tâm hồn? Thánh Phaolô cho biết việc này cao sâu ngoài trí tưởng của loài người.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng kêu gọi con người sống đời đơn sơ, chân thành khi họ đến hỏi ngài họ cần làm gì để có bình an tâm hồn. Thánh nhân bảo đừng lạm quyền, sống ngay thẳng và bằng lòng, vui với những gì đang có. Thánh nhân cho biết không thể tìm thấy Tin Mừng trong một tâm hồn buồn đau, thảm sầu. Tin Mừng nếu không đem lại niềm vui thì sao gọi là tin vui, Tin Mừng.

Cầu nguyện trở thành gánh nặng, chán nản khi giờ cầu thiếu sức mạnh của niềm vui. Niềm vui biến mất khi tâm hồn mất đơn sơ, khi tâm hồn đi tìm lí luận giải thích thoả đáng mầu nhiệm trong đạo. Thánh Phaolô cho biết mầu nhiệm trong đạo vượt quá trí hiểu loài người. Hãy cẩn thận, một tâm hồn tìm lí luận giải thích mầu nhiệm sẽ rơi vào trường hợp hoặc là chấp nhận giới hạn của con người để tin vào Thiên Chúa hai là chối bỏ một thực thể rõ ràng là sự thật về đức tin. Thiên Chúa chúng ta tin thờ là một Thiên Chúa huyền bí, mầu nhiệm cao cả, vượt quá trí hiểu. Tình yêu Ngài dành cho nhân loại cũng cao siêu mầu nhiệm. Niềm tin mà không có mầu nhiệm kèm theo thì niềm tin đó quá đơn giản, không đáng tin. Tể tướng Naaman từ bỏ tính kiêu căng để chấp nhận mầu nhiệm Thiên Chúa. Nhờ khiêm nhường ông tìm gặp Thiên Chúa nhiệm mầu và ông vui mừng dâng lời ca tụng.

 

20. Bông lúa cờ

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)

Nhà nông chuyên nghiệp liếc qua biết ngay là bông lúa cờ, không ích lợi gì cho mùa gặt. Gọi là bông lúa cờ vì là bông lúa cao hơn những bông khác và phất phới trước gió khi có làn gió nhẹ phớt qua. Câu văn trên có nhiều chữ bông nói lên cái ruột nhẹ, trống lép của hạt lúa.

Khi còn là bụi lúa non cây nó cao lớn hơn những bụi lúa khác, mạnh khoẻ, xanh tươi khác thường. Chủ lúa ít kinh nghiệm vui mừng hy vọng nó cho những bông lúa vàng trĩu hạt. Đến mùa gặt niềm hy vọng tan biến vì bông lúa to lớn khác thường, là bông lúa cờ, phất phới trước gió, sau lớp vỏ kia trống rỗng, không ruột, toàn trấu tốt cho phân gio. Đời nó sẽ là

Thóc mẩy thu vào kho lẫm, thóc lép bỏ vào lửa đốt đi (Lc 3,17).

BÔNG LÚA NGẨNG ĐẦU

Bông lúa cờ trọn đời may mắn, hạt rơi vào vùng đất tốt, nhiều nước lắm phân nên đời nó dư ăn, thừa uống trở thành bụi lúa lốp. Hạt lúa to, ruột trống rỗng, không hạt gạo bên trong. Ngoài lớp vỏ trấu chỉ có lớp màng mỏng che cái hạt gạo xẹp lép vừa đủ để thải ra ngoài thành đồ bỏ. Ruột rỗng nên nhẹ nhàng, ngẩng đầu bay trong gió.

BÔNG LÚC GỤC ĐẦU

Những bông lúa mẩy nặng hạt nên đầu bông lúa cúi gục xuống nằm sáp rạp lấy nhau tạo nên tấm thảm lúa vàng ươm, niềm vui của nhà nông, thành quả của lao tác, hoa trái màu mỡ của đất trời nuôi sống con người.

Bông lúa gục đầu vì các hạt lúa mẩy căng tròn, hạt gạo bên trong trắng mượt và chất cám thơm ngạt ngào. Khi nấu chín cho thơm mùi cơm mới.

SỐNG THỜI ANH CHỊ

Bông lúa cờ cho hạt lép vì dành hết chất bổ nuôi lá óng ả, mượt dài, thiếu dinh dưỡng nuôi hạt. Người chú trọng vẻ đẹp bên ngoài sẽ bê bối bên trong- chè chén cho ngon, diện cho đẹp, bất kể cách kiếm tiền. Tiền chém giết dính máu, tiền gian lận, tiền lời bán xìke- Người trang điểm bằng tiền định giá trị người khác trên căn bản hối xuất đồng tiền. Tiền khơi dậy đam mê trụy lạc.

Muốn ăn ngon bắt người nhịn đói. Muốn mặc đẹp ép người khoác giẻ rách. Sao giật của người khoác cho mình, giành của người nuôi thân mình. Nói xấu người nói tốt cho mình. Tật xấu làm chủ con người, mùa thu hoạch sẽ gặt bông lúa cờ.

Bông lúa cờ lép vì nó cao hơn các lúa bạn, phấn hoa bay không tới. Sống trên cao ngó xuống, hưởng trăng thanh, gió mát, mưa sa. Sống đè đầu cỡi cổ kẻ khác, thích đời sống trăng hoa cuối đời kết quả xẹp lép, bông trái phúc đức bên trong không nhân, nhân lép bao bọc bởi lớp vỏ cám. Đời không nhân đức là đời bất hạnh vì nhân đức làm nên con người thiện tâm. Bình an dưới thế cho người thiện tâm. Không nhân đức sống bất an.

Bông lúa cờ lép vì đời nó đưa đẩy theo cánh gió. Lép nên đứng thẳng đầu. Sống đón gió ăn tàn là sống không lí tưởng, không chủ đích rõ ràng. Gió chiều nào ngả chiều đó. Đức tin lay theo chiều gió là đức tin non dại, thiếu trưởng thành, không rễ sâu nên dễ bị chao đảo theo xu thế xã hội. Ngả theo xu hướng nghe bùi tan, ngon ngọt, nịnh hót là chết êm dịu.

SÁM HỐI

Điều Gioan đòi hỏi rất thực tiễn, nếu quyết tâm sẽ thực hiện được. Đòi hỏi hợp khả năng, trong quyền hạn mỗi hối nhân. Không cần thay đổi thế giới. Hãy sống như đang sống, làm việc như đang làm chỉ cần làm với lòng mến. Gioan không kêu gọi đổi núi, dời non, hoán chuyển vũ trụ. Gioan mời gọi nhìn vào hiện tại. Đừng nhìn lại quá khứ để hối tiếc; tránh nhìn vào tương lai để lo sợ; hãy nhìn vào hiện tại, công việc đang làm. Đừng nhìn thiên hạ để mơ màng, hãy nhìn vào thực tế đời mình. Với thợ thuyền gioan khuyên: chia cơm ăn, áo mặc cho người không có.

Nhóm cầm bút, sổ sách tránh lạm dụng quyền hành trong tay.

Nhóm cầm gươm giáo chớ hà hiếp, chiếm đoạt của người và bằng lòng với đồng lương.

Theo Gioan sám hối bắt đầu bằng chính mình trong khả năng, quyền hạn. Đừng bắt ai thay đổi nhưng thay đổi chình mình. Đừng sống mơ màng chức tước đám đông gán cho. Nhìn vào chính mình để biết khả năng, chức vụ và giới hạn của mình. Đừng sống điều anh em ban tặng nhưng sống chân thật với chính mình, đó là con đường hoàn thiện và là đường chân lí. Nếu không thành thật với chính mình thì không thể thành thật với người.

 

21. Tôi phải làm gì?

(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng OP)

Sau khi giới thiệu và giải thích sứ mạng của thánh Gio-an Tẩy Giả, thánh Lu-ca, qua bài Tin Mừng hôm nay, cho chúng ta biết một vài nét về nội dung rao giảng của thánh Gio-an. Chủ điểm lời rao giảng của ngài là loan báo một cuộc can thiệp của Thiên Chúa để phán xét dân Ngài. Muốn khỏi bị trừng phạt trong ngày phán xét ấy, phải sám hối, phải thay đổi cuộc sống. Dân chúng nghe ngài giảng liền hỏi ngài cho biết họ phải làm gì để cụ thể hóa lòng sám hối? Thánh Gio-an đã chỉ dẫn cụ thể việc phải làm và cách phải sống cho từng giới, từng loại người. Thán phục lời ngài giảng, dân chúng thắc mắc về ngài: phải chăng ông chính là Đấng Mê-si-a? Thánh Gio-an trả lời bằng cách so sánh sứ mạng của ngài với sứ mạng của Đấng Mê-si-a.

Trước hết, chúng ta thấy mọi người đều đến gặp thánh Gio-an và hỏi ngài: “Thưa ngài, chúng tôi phải làm gì?”. Đây là một câu hỏi khởi đầu mỗi khi gặp một câu chuyện quan trọng hay một biến cố đặc biệt nào. Kinh Thánh cho biết: người thanh niên giàu có và người thông luật cũng đến hỏi Chúa Giêsu: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?”. Ông Ni-cô-đê-mô, sau khi nghe Chúa Giêsu nói về sự “tái sinh” bởi nước và Thánh Thần, ông thấy khó hiểu và tự hỏi: “Tôi phải làm gì, không lẽ già cả như tôi lại chui vào lòng mẹ mà sinh lại?”. Khi bị quật ngã trên đường đi Đa-mát, thánh Phao-lô cũng đã hỏi Chúa một câu tương tự: “Thưa Ngài, tôi phải làm gì?”. Thánh Phê-rô, theo truyền khẩu qua phim “Cua va-đít” (Quo Vadis) vào lúc cuối đời, ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, được Chúa hiện ra hỏi: “Con đi đâu vậy?”. Ngài cũng hỏi lại Chúa: “Tôi phải làm gì bây giờ?”.

Vì thế, chúng ta không lạ gì khi dân chúng đến với thánh Gio-an và hỏi ngài: “Chúng tôi phải làm gì?”. Ngài đã trả lời cho mỗi loại người tùy theo hoàn cảnh và đời sống hiện tại của họ. Với đa số dân chúng, ngài khuyên họ chia cơm xẻ áo cho nhau. Với giới thu thuế, là giới thường lợi dụng nghề nghiệp để bóc lột đồng bào, ngài khuyên họ bỏ thái độ bóc lột ấy và làm đúng nhiệm vụ. Với giới binh lính, ngài khuyên họ đừng tàn bạo, đừng ức hiếp người khác, nhưng sống bằng đồng lương của mình.

Chúng ta thấy thánh Gio-an không bảo họ phải lên rừng, vào hoang địa đi tu như ngài. Không bảo người ta phải sống khắc khổ, ăn châu chấu, mật ông rừng, mặc áo nhặm da thú như ngài. Nhưng với đại đa số dân chúng, ngài chỉ bảo họ sống yêu thương, hãy thực thi bác ái. Bác ái là bằng chứng của giới luật yêu thương. Tình yêu thương được nhận diện qua hành động, tức là yêu thương bằng việc làm, cũng như đức tin không việc làm là đức tin chết hay không có đức tin. Yêu thương không có việc làm là tình yêu chết hay không có tình yêu thương.

Còn đối với những người đang làm công việc bổn phận, thánh Gio-an không đòi họ phải bỏ nghề nghiệp, cứ hành nghề như thường, nhưng phải sống đúng tinh thần nghề nghiệp, lương tâm chức nghiệp, tránh tham lam vô lối, hãy sống công bằng với nhau và với mọi người.

Nhìn chung những lời khuyên này chúng ta thấy xoay quanh vấn đề công bằng xã hội và thực thi bác ái chi sẻ cho nhau. Thái độ khư khư giữ của gây nên chênh lệch trầm trọng giữa người với người, phải được thay thế bằng thái độ chia sẻ để mọi người được sống xứng phẩm giá con người, không còn cảnh người đói khổ sống bên cạnh người thừa thải xa hoa. Tóm lại, thánh Gio-an kêu gọi mọi người sống với nhau thành một cộng đồng công bình và bác ái huynh đệ, không còn ai bị bóc lột nhưng mỗi người đều sống cho mọi người, và mọi người sống cho mỗi người: “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

Vấn đề thứ hai, thánh Gio-an Tiền Hô và Đấng Mê-si-a. Dân Do Thái đang trông mong chờ đợi Đấng Mê-si-a, nên khi nghe những lời giảng dạy quá hay của thánh Gio-an, họ tự đặt câu hỏi: phải chăng ông này là Đấng Mê-si-a? Ngài đã giải tỏa nỗi thắc mắc ấy bằng cách đối chiếu sứ mạng của ngài với sứ mạng của Đấng Mê-si-a. Ngài làm phép rửa bằng nước, còn Đấng Mê-si-a làm phép rửa bằng Thánh Thần và lửa. Bản thân ngài chỉ là đầy tớ của Đấng Mê-si-a, không đáng xách dép hay cởi giày cho Đấng Mê-si-a. Chính Đấng ấy mới có quyền phán xét mọi người. Như vậy, sứ mạng của thánh Gio-an chỉ là người tiền hô đi trước dọn đường cho Đấng Mê-si-a. Chính Chúa mới là Đấng Mê-si-a. Người đang tới và sắp tới.

Tóm lại, muốn đón Chúa đến, cách tốt nhất thánh Gio-an đề nghị là hãy sống yêu thương và công bằng. Đó là những hoa trái biểu lộ đích thực lòng thống hối. Đó cũng là những giáo huấn chuẩn bị cho những đòi hỏi quyết liệt hơn của Chúa Giêsu sau này. Chúa đòi hỏi chúng ta phải ra sức làm việc phục vụ anh em trong yêu thương, trong công bằng bác ái, chú ý đến kẻ khác và quên mình, chuyên cần làm việc trong niềm vui. Tóm lại, chúng ta hãy sống chan hòa tình yêu thương với nhau, không phải chỉ trong dịp lễ Giáng Sinh mà trong suốt cuộc đời.

 

22. Niềm vui làm cho con người tươi trẻ.

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)

NIỀM VUI LÀM CHO CON NGƯỜI TƯƠI TRẺ LÂU GIÀ VÀ SỐNG LÂU HƠN

Trong bầu khí chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, Lời Chúa hôm nay kêu mời chúng ta sống trong niềm vui. Ngay từ ca nhập lễ, Giáo Hội dùng lời thánh Phaolô tông đồ kêu gọi tín hữu thành Philipphê để nhắc nhở tất cả: “Anh em hãy vui lên trong Chúa, tôi nhắc lại một lần nữa, anh em hãy vui lên vì Chúa đã gần đến”. Và khởi đầu bài đọc thứ nhất trích từ sách tiên tri Sôphônia, chúng ta nghe những lời đầy khích lệ: “Hỡi thiếu nữ hãy cất tiếng ca. Hỡi Israel hãy hân hoan. Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy hân hoan và hãy nhảy mừng hết tâm hồn”. Rồi đến câu đáp ca cũng kêu gọi: “Hãy nhảy mừng và ca ngợi vì ở giữa ngươi có Đấng thánh của Israel thật cao cả”. Như thế Giáo Hội muốn chúng ta đón Chúa Cứu Thế với một tâm hồn thật vui vẻ. Niềm vui rất cần cho đời sống con người, ai cũng mong cho đời sống mình được luôn vui tươi.

Trong những cánh thiệp chúc mừng dịp lễ tết, người ta đều chúc nhau vui tươi hạnh phúc. Khoa tâm lý ngày nay còn chứng minh niềm vui làm cho con người tươi trẻ lâu già và sống lâu hơn. Và trên thực tế, con người cố tạo được nhiều cuộc vui chừng nào tốt chừng nấy và mỗi cuộc vui càng kéo dài càng hay. Nhưng phải là những niềm vui nào? Vì có những niềm vui mà sau đó con người cảm thấy trống rỗng buồn sầu và chán nản. Có những niềm vui mà sau đó con người mệt mỏi và thất vọng. Có những niềm vui mà sau đó con người lo âu hối hận. Vậy niềm vui mà Giáo Hội cầu chúc và mong muốn con cái mình đạt được đây phải là niềm vui thật. Niềm vui lâng lâng của Mùa Giáng sinh, khi thấy những trang hoàng rực rỡ với đèn màu, với ngôi sao hang đá máng cỏ, khi nghe những bản thánh ca du dương dịu vợi, khi nhận cánh thiệp với những lời cầu chúc êm đềm từ những người thân yêu. Tất cả vẫn luôn là niềm vui chính đáng. Nhưng chưa phải là niềm vui thật. Vì lễ Giáng sinh sẽ qua đi, mọi trang hoàng sẽ được dẹp lại, mọi người đều trở về với cuộc sống hằng ngày. Niềm vui thật phải là niềm vui phát xuất từ bên trong của con người. Đi tìm nguồn vui bên ngoài mà thôi chỉ là một sự chạy trốn thực tại trong tâm hồn và thường thì không bao giờ đạt được kết quả vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Niềm vui chân chính phải bắt nguồn từ một trạng thái của tâm hồn và đặt nền tảng trên sự bình an. Đó là niềm vui đã làm cho thánh Phanxicô trong cảnh nghèo khó tự nguyện hòa tâm hồn mình cùng vạn vật ca hát chúc tụng Thiên Chúa. Đó là niềm vui mà thánh Têrêxa Hài Đồng đã nói: “Niềm vui mằm trong cuộc sống con người và con người có thể đạt được nó bất cứ lúc nào và ở đâu, ngay cả trong lâu đài tráng lệ của hoàng cung hay trong chốn thâm u của ngục tù”.

Làm thế nào để đạt được niềm vui đó? Trong bài Phúc Âm, thánh Luca ghi lại: Gioan Tiền Hô, người hô hào: “Hãy sửa đường cho Chúa bằng phẳng và ngay thẳng”, đã trả lời câu hỏi cho từng lớp người đến hỏi ông. Dân chúng hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì?” Gioan đã trả lời: Hãy sống yêu thương và bác ái. Biết nghĩ đến người khác, biết chia sẻ với những người kém may mắn hơn mình, đừng lợi dụng địa vị, quyền hành hà hiếp người khác. Nói tóm lại, vì Chúa quên mình phục vụ anh chị em và chu toàn bổn phận hằng ngày của mình, đó là đường dẫn đến niềm vui thật sự.

Mảnh đất tốt cho niềm vui thật phát triển là tình thương yêu nhau giữa con người.Sống trong một thế giới đầy dẫy hận thù chiến tranh, sống trong một xã hội cá lớn nuốt cá bé, sống trong một môi trường tranh đấu lừa đảo, gạt gẫm nhau để sống làm cho chúng ta có một tư tưởng bi quan: con người chắc là không bao giờ yêu thương nhau được, con người khó thực hiện những điều Gioan Tiền Hô chỉ dạy trong Phúc Âm. Dầu vậy, chúng ta đừng bi quan mà hãy nhớ đến phúc thật thứ bảy Chúa Giêsu đã dạy: “Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy”. Và một điểm nữa giúp chúng ta lạc quan là mẫu số chung của tất cả mọi người, mọi phe nhóm, mọi xu hướng, mọi chủ trương đều là hòa bình và huynh đệ yêu thương nhau.

Thật vậy, nếu chúng ta có dịp hỏi tất cả mọi người, tất cả mọi tổ chức kể cả những tổ chức đang cầm súng lăn xả vào chiến tranh xâm lược, thì trong thâm tâm họ, họ vẫn tin là họ yêu mến hòa bình và huynh đệ, dầu cho họ sai lầm trong phương tiện. Đó có thể là mẫu số chung, là điểm phát xuất chung để dựng một thế giới an vui. Và điều những người có đức tin càng tin tưởng vững chắc là Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong lịch sử của con người, lịch sử cứu độ nhất là kể từ sự nhập thể của Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa. Đó là một sự hiện diện sống động như chính Chúa Giêsu đã nói: “Cha ta làm việc liên lỉ; Ta cũng thế”. Sự hiện diện đó không bao giờ để một bên những nghịch cảnh, những đau buồn của con người nhất là những con người bị áp bức, bị kìm kẹp.

Trong những ngày chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh này, chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan vào vũ trụ, vào đời sống con người trên mặt đất này. Vì hãy biết rằng, công việc tạo dựng cũng như công việc cứu chuộc là công việc của Thiên Chúa, và công việc Chúa làm thì không bao giờ thất bại. Bằng chứng là gương của Chúa Giêsu, sau sự đau khổ cùng cực và cái chết đau thương nhục nhã là sự sống lại vinh quang làm vua cai trị trời và đất. Với cái nhìn lạc quan đó và với lòng tin tưởng Thiên Chúa là Cha nhân từ đầy lòng từ bi thương xót, chúng ta hãy luôn sống trong niềm vui và hy vọng. Niềm vui và hy vọng đó phải thúc đẩy mỗi người chúng ta cộng tác tích cực vào công trình cứu rỗi, nhờ ơn Chúa và với những người thành tâm thiện chí.

Để có việc làm cụ thể trong tuần này, tôi sẽ cố gắng năng nhớ đến lời tiên tri Sôphônia trong bài đọc thứ nhất để sống tin tưởng vào Chúa hơn: “Hỡi Sion đừng sợ, Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi”. Và cụ thể hơn, tôi sẽ cố gắng không than van về những cực nhọc hoặc đau buồn tôi đang gánh chịu, nhưng biết chấp nhận cho người khác được vui và luôn cố gắng tươi cười niềm nỡ với tất cả mọi người, nhất là những người trong gia đình của tôi.

 

23. Chúng tôi phải làm gì?

(Suy niệm của Lm. John Nguyễn Tươi)

Khi được chịu Phép rửa của thánh Gioan Tẩy Giả, đoàn người kéo đến hỏi ngài: “Chúng tôi phải làm gì?” Họ vui sướng và hạnh phúc vì được làm con cái Thiên Chúa. Gioan bảo họ phải anh năn sám hối để chờ Chúa đến. Chúng ta nghe Tin Mừng hôm nay thấy có ba hạng người hỏi thánh Gioan Tẩy giả câu hỏi này: “Chúng tôi phải làm gì?”. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu lời giải thích của ngài.

Thứ nhất, đám đông dân chúng hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” Ngài bảo họ phải làm những việc như sau: Họ phải sống công bình bác ái. Bác ái là chia sẻ: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có, ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Như thế, bác ái không phải là bố thí những gì dư thừa, nhưng phải là chia sẻ trong tinh thần “nhường cơm sẻ áo”. Và họ phải sống công bằng. Công bình là giữ đúng luật pháp. Chẳng hạn, ai làm thì người đó được hưởng, không gian tham của người khác, hối lộ, tham nhũng, lấy của chung làm của riêng.

Thứ hai, nhân viên thu thuế hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” Thánh Gioan Tẩy giả trả lời: “Đừng đòi hỏi quá mức ấn định”. Tại sao ngài lại dặn họ điều này, vì những người thu thuế là những người thường cho vay nặng lãi, bóc lộc sức lao động của người nghèo. Họ dùng quyền lực của đồng tiền để đàn áp và đưa người dân nghèo đến bước đường cùng. Gioan Tẩy giả dạy họ phải có lòng từ tâm và biết chia sẻ với người kém may mắn hơn họ, đừng chất lên vai họ những gánh nặng của nợ nần quá mức vì đồng lãi. Sám hối là phải thương cảm với nỗi khổ của người khác.

Thứ ba, binh lính hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” Thánh Gioan nói với họ là phải có lòng nhân từ chứ đừng cậy quyền thế áp bức mà bóc lột người khác: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng chiếm đoạt của người, hãy bằng lòng với mức lương của mình.” Người lính là người đại diện cho những người có thế quyền trong xã hội. Họ có thật sự là người có tâm để bảo vệ cho người dân hay chỉ dùng uy quyền để ra tay đàn áp người dân. Nhà lãnh đạo là người không chỉ có tài mà đòi phải có đức thì mới có thể mang lại cho một đất nước tự do, dân chủ, hạnh phúc và thịnh vượng. Chúng ta có thể đưa ra một hình ảnh của nhà lãnh đạo tài đức của nước Mỹ. Đó là tổng thống George Washington, dân chúng gọi ông là vị cha già của dân tộc. Người dân Mỹ luôn ca ngợi và nhớ đến công ơn của ông. Nhà lịch sử học Henry Lee có lời nhận định: ” Người đầu tiên trong chiến tranh, người đầu tiên trong hòa bình, và người đầu tiên nằm trong lòng dân tộc, ông là người có một không hai về đức tính khiêm nhường và trải qua những đoạn đời riêng tư. Lễ nghĩa, công bình, nhân đạo, ôn hòa, và thành thật; trước sau như một, trang nghiêm, và uy nghi; mẫu người của ông như đang soi sáng cho tất cả những người quanh ông cũng như những hiệu ứng của mẫu hình này vẫn đang trường tồn… Cái xấu bị rúng động trước sự hiện diện của ông và cái đẹp luôn cảm thấy có bàn tay giúp đỡ của ông. Đức tính cá nhân thanh khiết của ông đã thắp sáng đức độ phục vụ dân công chúng của ông… Ông là một người đàn ông như thế, người đàn ông mà quốc gia chúng ta đang thương tiếc.”

Thế thì, hôm nay chúng ta phải làm gì đây? Chúng ta đang chờ Chúa đến, chúng ta mong ơn phúc từ trời ban phát cho mình, mà lòng chúng ta có sám hối, có thay đổi, có từ tâm, có lòng bác ái và yêu thương không? Đó là câu hỏi cho mỗi người chúng ta trả lời và tự chất vấn lương tâm của mình.

Tóm lại, những việc cụ thể rút ra từ Tin Mừng hôm nay, chúng ta không phải tìm đâu những nơi xa xôi, nhưng là hãy thực hiện công bình bác ái trong đời sống thường ngày của mình, và với những người sống chung quanh mình. Điều cần chúng ta không phải đổi nơi ở, nhưng là thay đổi chính mình, đổi mới ý nghĩ, đổi mới lời ăn tiếng nói, đổi mới việc làm. Đó là con đường dẫn chúng ta đến gần Chúa, gặp được Chúa và lãnh nhận được niềm vui và ơn cứu độ. Amen.

 

24. Niềm vui mừng là sứ điệp của mùa vọng

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy)

Ai trong chúng ta lại không muốn được hân hoan vui mừng? Ai trong chúng ta lại không muốn thoát ra khỏi tất cả những gì đang ám ảnh và đè nặng lên mình: Những trách nhiệm quá nặng nề; những tư tưởng xâu xé dằn vặt; những băn khoăn lo lắng cho con cái, cho tình yêu, cho gia đình và cho tương lai; sự sợ hãi trước đau ốm bệnh tật, trước cảnh già yếu và trước sự chết? Ai lại không muốn thoát ra khỏi vòng tay của những người đang khống chế và đe dọa mình? Ai lại không muốn thực sự thoát ra khỏi chính mình, khỏi những biên giới hạn hẹp, khỏi tình trạng bất ổn và khỏi sự thiếu sót bất toàn của mình?

Ðược hân hoan vui mừng: Có nghĩa là có thể thở ra nhẹ nhõm thoải mái, là biết bằng lòng với chính mình và ngoại cảnh, là có thể mĩm cười với đời, là có thể bình tĩnh nhìn thẳng vào các biến cố của cuộc đời và thản nhiên chấp nhận chúng!

Vui mừng: Có nghĩa là tôi không còn bị kích thích xúc động nữa; tôi không còn bị ngoại cảnh chi phối và kích động nữa; tôi không còn nhìn cuộc đời bằng cặp kính đen nữa; trái lại, tôi đã làm chủ được chính mình, tôi đã tìm cho mình được sự an bình thanh thản và có thể đầy lạc quan tin tưởng chờ đợi một ngày mới sắp tới!

Vui mừng: Ðó chính là sự xác tín được mình đang đi đúng đường, mình đang sống một cuộc sống chân chính và lương thiện. Và đó chính là lúc chúng ta đã thực sự sống đời mình! Ðó chính là lúc chúng ta thực sự cảm nhận, nhìn thấy và kinh nghiệm được niềm vui là gì! Tuy nhiên, những mâu thuẩn và những đối kháng cũng rất lớn: Ai còn có thể vui được khi đưa mắt nhìn vào tình trạng bấp bênh và bất an của thế giới hôm nay? Người ta có thể nói đó là một tình trạng đầy lo ngại hơn là an vui. Thật ra, nhân loại đã tiến xa trên phương diện kỹ thuật và khoa học. Nhân loại ngày nay đã đạt được một sự giàu có thịnh vượng mà những thế hệ trước đây không dám mơ ước. Nhưng có phải vì thế mà chúng ta đã trở nên hạnh phúc hơn, vui vẻ và sung sướng hơn hay không? Khắp nơi trên thế giới vẫn ngự trị hận thù và ghen ghét, bạo động và khủng bố, lừa đảo và ích kỷ, tham lam và đố kỵ, v.v…!

Và ngay trong cuộc sống gia đình của chúng ta vẫn không thiếu căng thẳng, nghi ngờ, thất trung và mất tín nhiệm. Thêm vào đó còn có gánh nặng của công ăn việc làm, và những mất mát thiệt thòi. Và sau tất cả những tình trạng và hiện tượng đó là một câu hỏi được đặt ra: Tại sao lại có những cảnh trớ trêu như thế? Phải chăng cả cuộc sống chúng ta là vô nghĩa hay sao?

Dĩ nhiên, người ta có thể chạy trốn trước tất cả những hiện tượng đó bằng cách lao mình vào công việc, bằng sự thành công, bằng những cuộc ăn uống say sưa, bằng rượu chè và ma tuý, hay bằng những phương tiện lệch lạc rẽ tiền khác. Nhưng chúng ta vẫn không thể làm thay đổi được cục diện của vấn đề, trái lại vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn và càng lút sâu vào cái vòng luẩn quẩn không có lối thoát. Và bấy giờ một câu hỏi khác lại được đặt ra là: Chúng ta sẽ còn lại những gì? Phải chăng bấy giờ chỉ còn lại sự sợ hãi và nội tâm bất an, thái độ xa lạ đối với môi trường thiên nhiên và đồng loại, sự thác loạn và sự đổ vỡ mất mát hoàn toàn? – Một điều gì đó trong chúng ta đang vùng lên và cự tuyệt lại tình trạng đó!

Vâng, chúng ta không tìm cách chạy trốn sự thật, chạy trốn thực tại, nhưng chúng ta tìm kiếm một lối thoát đúng đắn. Chúng ta hướng nhìn về một Ðấng duy nhất có thể giúp đỡ được chúng ta. Nhưng Ðấng đó là ai? Bởi vì quanh chúng ta chỉ có toàn những người cùng mang trên mình những gánh nặng và những bức xúc tương tự! Vậy, để tìm được một sự giúp đỡ thực sự không phải là điều dễ dàng.

Trong khi đó, thánh Phaolô nói: Trong mọi hoàn cảnh, anh em hãy vui lên! Anh em hãy vui lên, mặc cho phải chịu đau khổ nhiều! Sự vui mừng lạc quan phải luôn luôn là thái độ sống của anh em. “Bởi vì Ðức Chúa đã gần đến! Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4,6). Vâng, niềm vui mùa vọng là “Ðức Chúa đang đến gần!”

Phải chăng lý do cho bao thất vọng mà chúng ta từng phải gánh chịu, cho bao cay đắng và bao cam phận: là vì chúng ta đã nuôi nấng và ấp ủ những sự chờ đợi sai lạc, là chúng ta cứ tưởng sẽ tự giải cứu được mình, nếu chúng ta càng lao mình vào công việc và vào kỹ thuật nhiều hơn nữa, càng chạy theo săn tìm sự phồn vinh giàu có và sự tự do hơn nữa?

Những sự thất vọng đều có thể cứu chữa và hàn gắn được, nếu người ta biết chấp nhận mình bị làm lẫn!

Vì thế, Mùa Vọng nói cho chúng ta rằng: Con người có thể làm được tất cả, nhưng chỉ sự cứu rỗi của mình thì con người không thể tạo ra được. Con người có thể tạo ra được cả những thần thánh và rồi quì gối thờ lạy chúng, nhưng chỉ có Thiên Chúa là con người không thể tạo ra được. Thiên Chúa muốn tự ban tặng mình cho chúng ta. Người đã ban tặng mình cho chúng ta! Chúng ta hãy mở vòng tay ra, hãy mở rộng trái tim ra để đón tiếp Người, Emmanuel, Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-tôi. Người đã ở gần bên chúng ta qua lời Người phán. Người đã ở giữa chúng ta dưới hình thức tấm bánh mà chúng ta bẻ chia cho nhau. Người tiếp xúc với chúng ta qua sự gần gủi của những người thân yêu. Chúng ta luôn được Người ủ ấp, dù phải chịu thiếu thốn cơ bần. Thánh nhan Người chiếu giãi trên chúng ta khắp nơi. Ðược gần gủi bên Người, mọi lo lắng sẽ trở nên nhẹ nhàng. Chúng ta không còn cần phải tự khẳng định chính mình nữa, không còn cần phải áp đặt được kẻ khác bằng bất cứ giá nào. Ðược gần gủi bên Người, chúng ta sẽ trở nên thanh thản, an bình, tin tưởng và vui mừng hơn!

Thánh Phaolô nói niềm vui mừng như thế giải thoát chúng ta thành những con người thánh thiện. Chúng ta không cần phải lấy oán báo oán. Chúng ta có thể tha thứ bỏ qua và luôn luôn có can đảm bắt đầu lại từ đầu. Chúng ta sẽ không còn cảm thấy cay đắng đau thương, mặc dầu còn phải đối mặt với đủ thư đắng cay khổ nhục.

Trong những ngày Mùa Vọng này, tôi cầu chúc cho tất cả chúng ta cảm nghiệm được chắc chắn rằng: Ðức Chúa đang đến gần. Nhưng tôi cũng cầu chúc cho chúng ta biết giúp nhau cảm nghiệm được Ðức Chúa đang đến gần trong cuộc sống của chính mình, trong chính gia đình mình và trong khu vực mình sinh sống: bằng những lời nói thánh thiện và đầy an ủi; bằng việc băng bó và chữa lành các vết thương thay vì gây ra các vết thương; bằng việc biết quan tâm đến những đau khổ thầm kín của kẻ khác; bằng vòng tay mở rộng cho hết mọi người. Và nếu có thể, bằng cả những món quà được chọn lựa đàng hoàng và bằng những tấm thiệp mừng Giáng sinh với những lời cầu chúc chân tình!

Ðược vậy, sứ điệp Mùa Vọng và Giáng Sinh đối với tất cả chúng ta không còn là điều mơ ước, nhưng là một thực tại cụ thể, nghĩa là: Tất cả mọi người sẽ được nhìn thấy được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Amen.

 

25. Vui trong Chúa

(Suy niệm của Lm. Jb Nguyễn Minh Phương, C.Ss.R.)

Là người ai ai cũng mong đón nhận được niềm vui.

Có người tìm niềm vui nơi những thú vui giải trí. Có người tìm niềm vui nơi những phát minh khám phá. Có người tìm niềm vui khi thống trị, hành hạ người khác…

Phụng vụ lời Chúa Chúa Nhật 3 Mùa Vọng năm C sẽ hướng người tín hữu tìm niềm vui đích thực trong Chúa.

  1. CHÚA THỨC TỈNH

Tiếp xúc và nghe lời giảng dạy của thánh Gio-an Tẩy Giả, dân chúng đủ mọi thành phần túa đến với thánh nhân xin được làm phép rửa và hỏi ngài: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc 3, 10).

Câu hỏi của họ cho thấy đã có một sự đột biến trong tâm linh. Trước đây, nhiều người đã sống vị kỷ không quan tâm gì đến người nghèo, những binh lính ngông cuồng hà hiếp dân lành, những người thu thuế vẽ chuyện đòi hỏi người khác quá đáng… Nay, thái độ của họ đã khác hẳn. Họ nỗ lực tử tế qua việc xin được lãnh nhận phép rửa và xin được chỉ dạy để tìm về một cuộc sống có ý nghĩa.

Ngày nay, thế giới không ngừng tiến triển; cuộc sống con người xem ra văn minh hơn xưa. Thế nhưng, trong thế giới văn mình đầy đủ tiện ích không ít người vẫn còn sống trong ích kỷ. Khoảng cách người giàu và người nghèo như càng xa hơn. Cũng trong những thế giới văn minh thì không ít người có quyền đã lạm dụng quyền lực để đàn áp những người thấp cổ bé miệng. Bất chấp nỗi thống khổ của người nghèo, họ bao che cho nhau tham nhũng và dùng mọi thủ đoạn mánh khóe để bòn rút của cải vật chất cho riêng mình,

Khi xưa, Thiên Chúa đã dùng cuộc đời khổ hạnh và những lời giảng dạy đanh thép của thánh Gio-an Tẩy Giả để thức tỉnh lương tâm con người, giúp họ tìm về nẻo chính đường ngay. Chắc chắn những lời giảng dạy Chúa thánh Gio-an Tẩy Giả sẽ vượt thời gian thức tỉnh con người mọi thời đại.

Lời Chúa sẽ mang lại niềm vui cho những ai được thức tỉnh để dấn thân bằng cuộc sống bác ái yêu thương, bằng sự chu toàn đúng mức những bổn phận được trao phó

  1. CHÚA ĐỔI ĐỜI

Vấn nạn “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc 3, 10) của đám đông dân chúng đã được thánh Gio-an Tẩy Giả giải mã:

– Mọi người “Ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có gì ăn thì cũng làm như vậy” (Lc 3, 11)

– Người thu thuế: “Đừng đòi hỏi những gì quá mức ấn định cho các anh” (Lc 3, 13).

– Binh lính: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng chiếm đoạt của người, hãy bằng lòng với đồng lương của mình” (Lc 3, 14).

Rõ ràng thánh Gio-an Tẩy Giả không có ý bảo người ta phải bỏ việc đang làm nhưng ngài dạy họ phải làm việc thật tốt đúng với bổn phận đã được lãnh nhận, không những họ phải trở thành người biết yêu thương mà còn phải trở nên những người đáng mến và dễ thương.

Thiên Chúa đã dùng lời của thánh Gio-an Tẩy Giả để ban ơn đổi mới cho nhân loại. Người đổi mới chứ không hủy bỏ những trật tự đã ban cho con người trong trần gian. Thiên Chúa đã muốn con người tìm được niềm vui và hạnh phúc trong chính môi trường sống hòa nhã đáng yêu và dấn thân phục vụ, làm việc bác ái từ thiện giúp đỡ người nghèo.

Niềm vui Thiên Chúa ban chỉ dành cho những ai đón nhận được ơn đổi đời. Từ một người hẹp hòi ích kỷ trở thành người quảng đại dấn thân biết chia sẻ biết sống bác ái yêu thương chan hòa với mọi người được mọi người quý mến. Từ là người lạm dụng quyền hành hà hiếp bạo lực trở nên dễ mến đáng yêu được mọi người kính trọng. Từ là người cơ hội, tham lam thủ đoạn chiếm đoạt của cải người khác khiến họ phải oán giận thậm chi nguyền rủa trở thành người biết sống công bằng.

Ơn sám hối và niềm vui được biến đổi sẽ là khởi đầu để người ta đón nhận ơn cứu độ.

III. CHÚA BAN ƠN CỨU ĐỘ

Được thánh Gio-an Tẩy Giả cử hành phép rửa và được lãnh nhận những lời thánh nhân chỉ dạy, dân chúng ngỡ rằng chính ngài là Đấng Mê-si-a muôn dân mong đợi “Biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Mê-si-a” (Lc 3, 15).

Trước tình trạng này, thánh Gio-an Tẩy Giả đã khiêm tốn hướng họ đến với Đấng Mê-si-a đích thực “Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa” (Lc 3, 16).

Vậy là phép rửa của thánh Gio-an chính là giai đoạn chuẩn bị lòng người đón nhận phép rửa bằng lửa và Thánh Thần của Chúa Giê-su Cứu Thế. Niềm vui trọn vẹn là niềm vui trong Chúa “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa” (Pl 4, 4).

Lễ Giáng Sinh đang đến gần; khung cảnh đất trời như đổi thay nhộn nhịp rõ rệt: những ánh đèn rực rỡ sắc màu, những tiếng thánh ca làm lòng người rộn rã, những tấm thiệp, những món quà truyền đi khắp nơi… Tất cả những điều này sẽ tô điểm cho ngày lễ Giáng Sinh thêm rực rỡ, nhưng chưa thể là niềm vui trọn vẹn.

Niềm vui Giáng Sinh không chỉ dừng lại nơi sự đổi thay nhất thời đời mà sâu xa hơn là niềm vui được thức tỉnh, được biến đổi hưởng ơn cứu độ, được phục hồi quyền làm nghĩa tử của Thiên Chúa, được sống muôn đời.

KẾT

Mùa Vọng, Thiên Chúa dùng Hội Thánh ban cho người tín hữu niềm vui đích thực nhờ “tỉnh thức và cầu nguyện”.

Trong cô tịch và cầu nguyện kết hiệp với Chúa, họ sẽ đón nhận niềm vui trong nội tâm và diễn tả ra bên ngoài bằng cuộc sống biến đổi vượt qua những thói hư tật xấu, những ích kỷ, những lo âu trĩu nặng vật chất, những sợ sệt ngại ngùng, những mặc cảm do tội lỗi gây ra…

Nhờ ơn Chúa, người tín hữu hoán cải cuộc đời để lãnh nhận ơn cứu độ, lãnh nhận niềm vui bất tận trong Chúa.

 

26. Hoa quả của lòng thống hối

Sứ mạng của Gioan Tiền Hô là kêu gọi người ta ăn năn sám hối (Lc 3, 7 – 9) để dọn lòng mừng Chúa đến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ông, dân chúng tuôn đến nghe ông giảng dạy và muốn thực thi sự hóan cải đó. Vì thế họ gặp trực tiếp để bàn hỏi mình phải làm gì.

Gioan khuyên họ sống tốt trong hoàn cảnh của mình. Tùy theo hoàn cảnh của họ mà Gioan truyền dạy phải thực thi công bằng bác ái, sống đúng với nhiệm vụ của mình, thích hợp với địa vị của mình.

Việc thực thi công bằng bác ái mà Gioan đề ra như ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn cũng hãy làm như vậy.

Gioan lấy lại những yêu sách các tiên tri đã công bố. “Hỡi ngươi, Người đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; điều mà Giavê đòi ngươi lại không phải là thực thi công bằng, yêu mến sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Thiên của ngươi sao? ” (Mi 6, 6-8). Vì thế, ông không đòi buộc người ta phải lìa khỏi thế gian xấu xa hoặc phải từ bỏ các nghề nghiệp trong thế gian. Ông chỉ đòi hỏi lòng nhân hậu và đức công bằng: đó là những hoa trái biwe63u lộ lòng sám hối đích thực trong lúc này. Những việc làm bác ái mà ông đề nghị đã được quy định trong Cựu Ước (Is 58,7; Giop 31,17.19.21; Ez 18,7.16…)

Như thế lời khuyên này vẫn còn thích hợp trong thời đại chúng ta. Bên cạnh chúng ta còn nhiều người cần chúng ta thực thi lòng bác ái, sự chia sẻ, quan tâm giúp đỡ…. Vì cuộc sống của họ còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn; bệnh tật luôn theo đuổi. Họ thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, thiếu tình thương, thiếu sự chia sẻ công bằng, sự thật, chân lý,…

Để thực hiện lời mời gọi của Gioan thực thi công bằng bác ái, sống đúng với nhiệm vụ của mình, thích hợp với hoàn cảnh của mình, chúng ta phải thực hiện cuộc hoán cải nội tâm, canh tân đời sống, nhất là trong thái độ ứng xử tốt đối với mọi người, xây dựng m,ột nền văn minh tình thương, có công lý và hòa bình ngự trị.

Qua sứ điệp Lời Chúa hôm nay, Giáo Hội muốn dùng lời khuyên bảo của Gioan đối với dân chúng để nhắc nhở chúng ta phải tỏ lòng sám hối và đời sống bác ái và công bằng để xứng đáng đón nhận Chúa đến.

Ước gì niềm vui của Chúa Nhật III mùa vọng hôm nay không chỉ mang đến niềm vui cho chúng ta mà còn mang đến niềm vui cho tha nhân sưởi ấm lòng họ chờ đón Chúa đến.

Xin Chúa cho chúng ta sống niềm vui này là gặp được tha nhân và chính Chúa trong đời sống mình.

 

27. An và Vui – Anmai, CSsR

Những lần đi tham dự tiệc cưới, người ta thường hay chúc cho những đôi tân hôn với những lời chúc hết sức dễ thương: chúc cho hai bạn được an vui, hạnh phúc. Và trong những ngày đầu năm người ta vẫn thường hay chúc nhau: chúc anh, chúc chị, chúc ông, chúc bà sang nắm mới được an vui, hạnh phúc. Chẳng biết vô tình hay hữu ý mà chữ an vui nó dính liền với nhau. Nếu suy nghĩ như vậy thì ta có thể nói là khi nào tâm hồn ta bình an thì lòng ta mới vui được. Mà thật là thế! Không có niềm vui trọn vẹn nếu như tâm hồn người đó không được vui.

Thánh Lễ Chúa Nhật 3 Mùa Vọng người ta vẫn thường gọi là Chúa nhật hồng với ý chỉ rằng Chúa gần đến rồi, hãy vui lên, vui lên vì Chúa sắp đến.

Thi thoảng, chúng ta vẫn thường nghe hay thường hát với nhau: Vui lên anh em hãy mừng vui trong Chúa! Vang lên câu ca ta tạ ơn Thiên Chúa! Người đã đoái đến viếng thăm người chúng ta! Hallê Hallê lui! Hallêluia! Một khách quý, một thượng khách đến với gia đình ta, đến với cộng đoàn ta thì ta đã cảm nhận niềm vui ấy như thế nào huống hồ chi Chúa chính là vị Thượng thượng khách của mỗi người chúng ta. Lẽ nào Chúa đến với mỗi người chúng ta mà chúng ta lại buồn?

Hơn ai hết, Israel có cái cảm nghiệm hết sức sâu sắc về sự mong chờ Chúa đến. Trong lịch sử cứu độ, Chúa đã bằng cách này cách khác đến với dân qua các ngôn sứ, qua các sấm ngôn. Một trong những sấm ngôn, ngôn sứ loan báo niềm vui Chúa đến đó chính là ngôn sứ Sôphônia. Sấm ngôn mà chúng ta vừa nghe thật là hay:

Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion,

hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!

Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi!

Án lệnh phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại,thù địch của ngươi, Người đã đẩy lùi xa.

Đức Vua của Ísrael đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa.

Sẽ chẳng còn tai ương nào khiến ngươi phải sợ.

Ngày ấy, người ta sẽ bảo Giêrusalem:

“Này Sion, đừng sợ, chớ kinh hãi rụng rời.”

Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi,

Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng.

Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ,

sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi.

Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội.”

Thiên Chúa cũng mang trong mình cảm thức của con người, có lúc Ngài vui và cũng có lúc Ngài buồn. Vui khi thấy dân chúng nghe lời của Ngài và đi theo đường ngay nẻo chính mà Ngài chỉ vẽ. Buồn khi mà dân chúng cứng đầu cứng cổ. Bằng chứng, qua lời sấm ngôn chúng ta thấy đó. Thiên Chúa tức giận nên ra án phạt nhưng rồi khi nguôi cơn giận thì Ngài lại thương. Giá như mà dân Israel chịu đi theo con đường mà Thiên Chúa vạch ra thì đâu có chuyện tai ương, đâu có chuyện án phạt.

Dừng lại một chút để chúng ta thấy tại sao có tai ương, tại sao có án phạt? Đơn giản có tai ương án phạt vì dân Israel – dân Do Thái – sống có Chúa mà như không có Chúa trong cuộc đời của họ vậy. Họ đã đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của họ. Khi họ đẩy Thiên Chúa ra khỏi đời họ thì họ thoải mái sống bất công, chèn ép những người nghèo, những người thấp cổ bé họng hơn họ.

Đọc lại lịch sử cứu độ thời Cựu Ước, ta sẽ thấy rõ phần nào của cái kiếp nô lệ. Đã nghèo mà còn rơi vào cảnh nô lệ nữa thì coi như đời đã tàn.

Sang thời Tân Ước tưởng chừng khá hơn nhưng có khá gì đâu? Khi người ta đến hỏi thì Gioan trả lời một cách mau chóng, một cách thẳng thừng như chúng ta vừa nghe ông trả lời với dân. Không phải ngẫu nhiên mà Gioan lại trả lời một cách huỵt tẹt như thế này: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Câu trả lời này đủ hiểu là cuộc sống của của những người Do Thái thời Gioan như thế nào.

Và, gần nhất, ngay cái thời buổi hiện tại này, chuyện bất công trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội còn quá nhiều. Người ta nói cũng không sai rằng người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng nghèo thêm. Vì sao? Vì tình trạng bất công cứ lan tràn trong xã hội.

Thế nên, lời của Gioan hôm nay rất có giá. Gioan trả lời quá sức là thực tế: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”

Bi đát của cuộc đời ngày hôm nay đó chính là tình trạng “sống chết mặc bay”. Người ta bất chấp lương tâm, bất chấp đạo đức của con người để rồi chỉ cần biết sao cho đầy túi tiền của họ là được rồi. Người ta vẫn mang trong mình cái tâm trạng hơn người khác là bắt đầu lên mày lên mặt và tìm đủ mọi cách để hà hiếp những kẻ dưới quyền mình, những kẻ thấp cổ bé họng hơn mình. Thực tế cuộc đời đã cho ta thấy quá rõ vai trò địa vị của những người nghèo trong cuộc sống và vì thế Gioan khuyên nhủ rất chính xác: Đừng hà hiếp ai! Đừng tống tiền ai!

Thật sự ra mà nói, hà hiếp, tống tiền người khác thì đời sống vật chất thoải mái thật đấy vì nhà cửa của họ thường sung túc, cao sang hơn người nghèo. Nhìn bề ngoài, những người giàu có có vẻ hạnh phúc hơn người nghèo, đó là điều hiển nhiên nhưng chưa chắc như vậy. Có chắc chắn rằng là giàu có là hạnh phúc hay không? Nếu được nghe những người giàu tâm sự ắt hẳn chúng ta, những người nghèo sẽ vở lỡ ngay! Vì lẽ đa phần người giàu họ hiếm có hạnh phúc lắm. Có chăng thì thoả mãn được nhu cầu vật chất của con người nhưng con người đâu sống bởi vật chất mà còn cả một cái khoảng trời tinh thần rất lớn.

Nhớ lời của Thánh Gioan nói thật hay: Hãy an phận! Vấn đề nằm ở chỗ đó đó! Không phải là chuyện giàu hay nghèo nhưng là chuyện ta có cảm thấy cuộc đời ta, phận người của ta có an hay không mà thôi!

Một chuyện kể có thật. Ở một xứ đạo nghèo nọ, có anh chàng kia bỗng dưng không thấy lui tới nhà thờ nữa. Cha xứ hỏi anh ấy tại sao anh không đến nhà thờ thì anh nói là tại vì anh đi chiếc xe đạp cọc cạch đến nhà thờ anh ta cảm thấy nhục quá! Để khi nào anh có xe máy thì anh sẽ đến nhà thờ! Thời gian sau, cha xứ thấy anh đi xe máy nhưng anh vẫn không đến nhà thờ. Cha xứ thắc mắc và hỏi tại sao anh không đến nhà thờ thì anh thiệt tình nói là anh cảm thấy nhục, nhục vì lẽ nhà anh ở còn xập xệ!

Thế đấy! Lòng tham của con người hình như nó vô đáy! Tưởng chừng có chiếc xe máy thì cũng an được cái phận nghèo nhưng chưa! Còn cái nhà! Thế nhưng, chưa chắc có cái nhà là anh ta chưa cảm thấy hết nhục vì khi anh ta xây được nhà thì người ta đã ở cao ốc cả rồi!

Cái vòng luẩn quẩn của sự bất an nó cứ đeo bám anh ta để rồi anh ta không bao giờ cảm thấy an được. Và không thấy an với tất cả những gì mình có thì làm sao cuộc đời của anh có thể vui được.

Ta cũng vậy thôi, ta dừng lại một chút để nhìn ta. Thời còn bao cấp, ta ước ao có được chiếc xe đời 81 như nhà hàng xóm nhưng nay, ta có cả một chiếc xe Dream, ngoài ước mơ của ta thuở ấy nhưng ta đâu có chịu dừng lại ở chiếc xe Dream. Khi có Dream rồi, ta lại ước mơ cao hơn nữa để rồi mãi mãi cuộc đời ta ở trong tâm trạng bất an.

Ta cũng giống như cái anh chàng ở xứ đạo nghèo kia. Khi ước mơ của ta thành hiện thực thì ta không dừng lại ở ước mơ đó mà lại đi tìm cái ước mơ cao hơn. Không phải ước mơ là xấu, không phải có óc cầu tiến là xấu nhưng chuyện quan trọng là ta phải biết dừng ước mơ của ta ở đâu và óc cầu tiến của ta như thế nào là đủ. Chuyện cần thiết là ta có cảm thấy ta an khi ta được như vậy hay không? Khi ta cảm thấy không đủ, không bằng người khác thì ta lại cứ đi tìm và đi tìm mãi có bao giờ thoả mãn lòng tham của con người. Khi nào ta cảm thấy ta đủ thì ta mới vui, ta mới bình an được.

Tâm thư của Thánh Gioan vừa gửi cho ta nơi cộng đoàn Philip thật là hay: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su

Tâm tình của Thánh Phaolô quá rõ ràng, chuyện của ta, chuyện cuộc đời của ta, ta cứ đem đi giãi bày cho Thiên Chúa và Ngài sẽ ban cho ta những điều mà ta thỉnh nguyện. Khi ta giãi bày với Thiên Chúa, ta sẽ được sự bình an thật, bình an của Chúa trong đời ta. Cuộc đời ta, nhìn lên không bằng ai như người ta vẫn thường nói nhưng khi nhìn xuống ta hơn được nhiều người. Khi ta đặt mình trước mặt Chúa, ta thấy Chúa thương ta nhiều hơn ta tưởng, ấy vậy mà ta vẫn cứ để cho cuộc đời ta cứ mãi loay hoay với nhiều thứ phù du mau qua chóng tàn.

Khi và chỉ khi ta chìm đắm trong cầu nguyện ta mới có được sự bình an và niềm vui thật.

Thật sự thì Chúa đã đến rồi, Chúa đã đến trong thế gian này và một lúc nào đó bất chợt Chúa đến với cuộc đời của mỗi người chúng ta. Chúa đến với mỗi người chúng ta như kẻ trộm như Chúa đã từng báo trước vậy. Chúa đến vào lúc chúng ta không ngờ và vào giờ mà chúng ta không thể nào biết được. Chuyện quan trọng, chuyện cần thiết là ta phải giữ sao cho tâm hồn của ta được bình an đển khi Chúa đến ta có được niềm vui trọn vẹn. Khi ta thấy Chúa là đủ cho chúng ta, Chúa là tất cả cho chúng ta thì cuộc sống ta mới an bình thư thái thật sự.

Vinh danh Thiên Chúa trên trời – bình an dưới thế cho người thiện tâm! Bình an chỉ dành cho những ai thiện tâm, những ai có tấm lòng biết chia sẻ, biết quan tâm đến người nghèo.

Nguyện xin Chúa đến và ở lại với mỗi người chúng ta để tâm hồn chúng ta được tràn đầy niềm vui, tràn đầy bình an thật sự.

 

28. Hãy vui mừng trong Chúa!

Trong tâm tình chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, Chúa Nhật 3 Mùa Vọng hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa kêu mời chúng ta sống tâm tình vui mừng, hoan hỷ, mừng biến cố Ngôi Hai Nhập Thể.

Niềm vui đó bén rễ sâu trong lời cầu nguyện và đó là dấu chỉ của người Kitô hữu: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa!” (Pl 4, 4). Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy vui lên trong Chúa, tôi nhắc lại một lần nữa, anh em hãy vui lên vì Chúa đã gần đến”. Và chúng ta nghe những lời đầy khích lệ được trích từ sách tiên tri Sôphônia: “Hỡi Israel, hãy hân hoan. Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nhảy mừng. Chúa đã rút lại lời kết án. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi sẽ không còn sợ tai họa nữa” (Xp 3, 14 – 15). Câu đáp ca cũng kêu gọi sống tâm tình hân hoan: “Hãy nhảy mừng và ca ngợi vì ở giữa ngươi có Đấng thánh của Israel thật cao cả”. Như thế Giáo Hội muốn chúng ta đón mừng Chúa Cứu Thế bằng một tâm hồn hân hoan, vui vẻ.

Trên thực tế, chúng ta không dễ dàng được an ủi và vui mừng vì mình mỗi ngày nghe, thấy, chứng kiến biết bao cái chết do chiến tranh, thiên tai, ôn dịch, nghèo đói, công lý bị coi thường. Làm sao chúng ta có thể vui mừng được khi biết rằng chung quanh chúng ta nhiều người đang gặp khổ sở do những ảnh hưởng trên. Hơn nữa, ngày nay con người cố tạo nhiều niềm vui giả tạo. Nhưng đâu là những niềm vui đích thực cho con người? Vì có những niềm vui mà sau đó con người cảm thấy trống rỗng, buồn sầu và chán nản. Có những niềm vui mà sau đó con người trở nên mệt mỏi và thất vọng. Có những niềm vui làm cho con người thêm âu lo, hối hận. Thế nên niềm vui mà Giáo Hội mong muốn chúng ta đạt được đây phải là niềm vui thật.

Nếu niềm vui bên ngoài như đến từ những cánh thiệp của mùa Noel, những trang hoàng rực rỡ đèn màu, ngôi sao, hang đá, máng cỏ,… thì đó chưa hẳn là niềm vui thật. Vì lễ Giáng sinh sẽ qua đi, mọi trang hoàng sẽ được dọn dẹp, mọi người đều trở về với cuộc sống hằng ngày. Niềm vui thật phải là niềm vui phát xuất từ bên trong của con người. Nếu chỉ đi tìm niềm vui bên ngoài mà thôi thì chỉ là một sự chạy trốn thực tại trong tâm hồn. Niềm vui chân chính phải bắt nguồn từ một trạng thái của tâm hồn và đặt nền tảng trên sự bình an.

Khi phục vụ tha nhân và chu toàn bổn phận hằng ngày của mình vì Chúa, đó là đường dẫn đến niềm vui thật sự cho tâm hồn mình. Mảnh đất tốt cho niềm vui thật phát triển là tình thương yêu nhau giữa con người. Sống trong một thế giới chạy theo lợi nhuận cá nhân “mạnh được yếu thua”, theo lối “chủ nghĩa cái tôi” thì con người chắc là không bao giờ yêu thương nhau được, họ khó thực hiện những điều Gioan Tiền Hô chỉ dạy trong Phúc Âm. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể mĩm cười trong đau khổ và vui tươi trong thử thách, khi chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện trong đau khổ của chúng ta. Niềm xác tín này làm nảy sinh và gia tăng niềm hy vọng hân hoan.

Thật vậy, Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong lịch sử của con người, lịch sử cứu độ nhất là kể từ sự nhập thể của Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa. Đó là một sự hiện diện sống động như chính Chúa Giêsu đã nói: “Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng thế”(Ga 5, 17). Sự hiện diện đó không bao giờ là không giá trị nhưng chính sự hiện diện đó làm cho con người có giá trị hơn trong cuộc sống chung với đồng loại. Vì thế, chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan vào Thiên Chúa và tha nhân. Với cái nhìn lạc quan và tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha nhân từ đầy lòng từ bi thương xót, chúng ta hãy luôn sống trong niềm vui và hy vọng. Niềm vui và hy vọng đó phải thúc đẩy mỗi người chúng ta cộng tác tích cực vào công trình cứu rỗi, nhờ ơn Chúa và với những người thành tâm thiện chí.

Nhưng làm sao để nhận ra “Đấng đang ở giữa ngươi”? Gioan Tẩy Gỉa đã đưa ra những chỉ dẫn cụ thể: “Ai có hai áo thì hãy chia cho người không có..Ai có cái ăn thì cũng làm như vậy…Đừng đòi hỏi quá mức ấn định…Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta. Hãy an phận với số lương của mình”(Lc 3, 10 – 14). Nói chung, Gioan đã đưa ra những hướng đi cụ thể: bác ái, chia sẻ, chấp nhận thực tại, sống hiền hòa, công bình, chính trực trong các mối tương quan xã hội. Sống như vậy là chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Thế, là đặt mình vào trong hàng ngũ những kẻ bé mọn của Thiên Chúa. Chính những người bé mọn này mới cảm thấy vui mừng và hy vọng, vì nhận ra Chúa sắp đến, đang đến…Ngài sẽ thay đổi tất cả, đổi mới toàn thế giới và xã hội.

Hãy vui mừng vì Chúa giải thoát đã đến và đang ở với chúng ta. Ngài đang thực hiện một cuộc đổi mới toàn diện, đang qui tụ muôn nước thành một dân một nước. Đó là Dân Chúa, Nước Trời. Không phải bằng vũ lực khống chế, nhưng bằng sự giải thoát loài người khỏi những ràng buộc của tội lỗi, ích kỷ nhỏ nhen, bất chính; bằng cách sống liên đới yêu thương, chia cơm sẻ áo; bằng cách sống công bình, chính trực và chan hòa với mọi người.

Lời Chúa trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước đều cho chúng ta thấy rõ đâu là niềm hy vọng của những kẻ tin, đâu là lý do hân hoan của những người bé nhỏ của Thiên Chúa: Thiên Chúa Cứu Độ, đó là tất cả động lực của cuộc sống và cuộc chiến đấu của người tin theo Chúa Kitô. Thiên Chúa nhập thể và cứu độ là căn bản để giải quyết mọi vấn đề: Thiên Chúa nhập thể để chúng ta sống như con cái, nghĩa là, như những con người tự do và trách nhiệm, những con người tự nguyện cống hiến cho tha nhân. Vì vậy, trong bất cứ hoàn cảnh bế tắc khó khăn nào, người có lòng tin vào Thiên Chúa vẫn không thất vọng, chán nản, vì họ biết rằng mọi phấn đấu của mình và của loài người đều mang một ý nghĩa cứu độ: ý nghĩa dọn đường cho Nước Trời, cho Đức Giêsu của Thiên Chúa ngự đến.

Muốn hòa mình vào niềm vui của Phụng vụ, chúng ta không thể không liên đới với những người đang khao khát đổi mới, đang khát vọng phẩm giá con người. Hơn thế nữa, Giáo Hội Chúa Kitô không thể đứng ngoài nhửng cuộc đấu tranh cho hòa bình, bình đẳng, tôn trọng con người, phát triển xã hội mà loài người đang theo đuổi. Sống Mùa Vọng là sống liên đới với người nghèo, là sống công bình với tha nhân, là sống hòa giải với mọi người, là sống yêu thương, an bình trong mọi hoàn cảnh, là đấu tranh cho tình huynh đệ và khơi lên niềm vui cho những ai đang chán nản, thất vọng chán chường vì không có niềm tin, vì đã mất niềm tin nơi con người, nơi xã hội và cả nơi Thiên Chúa nữa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết mở lòng mình ra để đón nhận Lời Chúa, thay đổi cách nghĩ, để sống tích cực hơn, phù hợp hơn với tinh thần Chúa mời gọi và cho chúng con niềm vui vì nhận ra Chúa đang hiện để cứu độ chúng con. Amen.

 

29. Niềm vui đích thực

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

Cũng như Chúa Nhật III Mùa Chay, Chúa Nhật 3 Mùa Vọng được gọi là Chúa Nhật mầu hồng. Không biết truyền thống này có từ bao giờ, nhưng hẳn chúng ta thầm hiểu ý của giáo hội khi cho phép mặc phẩm phục mầu hồng trong Thánh Lễ. Mầu hồng gợi lên niềm vui, niềm hân hoan. Các bài đọc Lời Chúa cũng tràn đầy niềm hân hoan, phấn khởi. Tất thảy vì một lẽ này: đổi mới vì sợ hải thì sẽ hời hợt và chóng qua, trái lại vì hân hoan phấn khởi mà đổi mới thì sẽ thiết thực và bền lâu.

Sau khi nghe Gioan Tẩy giả rao giảng, dân chúng tuôn đến tham vấn: chúng tôi phải làm gì đây? Không ẩn mình trong đám đông, nhóm thu thuế, anh em binh lính cũng đến để xin hướng dẫn cách cụ thể đối với trường hợp của mình (x. Lc 3,11-14). Chắc hẳn người dân Israel thời bấy giờ đang khát khao sự xuất hiện của Đấng Thiên sai để giải thoát họ khỏi ách nô lệ ngoại bang. Và họ cũng như đã thông thuộc lời tiên báo của ngôn sứ Isaia năm nào về thời của Người: ” Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi… Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Is 40,4-5). Qua phần Phụng Vụ Lời Chúa, chúng ta có thể nhận ra một vài lý do để phấn khởi, vui mừng:

– “Hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi có Đấng Thánh của Israel thật cao cả”. Điệp khúc của đáp ca cho chúng ta một lý do để hân hoan đó là vì Đấng Thánh đang ở giữa chúng ta. Gioan Tẩy Giả cũng đã trả lời với một số tư tế và thầy Lêvi được phái đi từ Giêrusalem: ” Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một Đấng đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1,26). Đấng ấy chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Có Chúa ở cùng, chính là hạnh phúc bất tận. Có Đấng cao cả cũng là Đấng đầy lòng từ bi và hay thương xót ở cùng, thì chúng ta đâu còn sợ gì. Dù người mẹ nào có bỏ con mình đi nữa thì Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta, vốn là hình ảnh của chính Người (x. St 1,27). Vấn đề là chúng ta đã thực sự nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa chưa? Câu trả lời nằm ở nơi thái độ của chúng ta, đó là có phấn khởi mừng vui hay không.

Nếu như chúng ta chưa thực sự mừng vui thì đó là một trong những dấu chỉ cho biết chúng ta chưa nhận ra Đấng Thánh, Đấng cao cả đang ở giữa chúng ta. Phận phàm hèn, làm thế nào để chúng ta có thể thấy Thiên Chúa, Đấng ngàn trùng chí thánh? Chính Chúa Giêsu đã minh nhiên cho chúng ta chìa khóa vấn nạn. ” Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Những lời khuyên của Gioan Tẩy Giả cho dân chúng cũng như cho binh lính và những người thu thuế xưa chính là cách thế giúp họ thanh tẩy tâm hồn để nên trong sạch. Và Ngài đã lưu ý rằng không phải cứ cúi mình xuống nhận dấu thanh tẩy mà được thanh sạch, nhưng phải thay đổi đời sống. Sau này chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định với người Pharisiêu đã mời Người dùng bữa rằng: Không phải do việc tẩy rửa bên ngoài mà làm cho chúng ta nên thanh sạch, nhưng phải đem những cái bên trong ra mà phân phát thì mọi sự sẽ nên thanh sạch cho chúng ta. (x. Lc 11,37-41).

– Hãy vui mừng vì Thiên Chúa đã rút lại lời kết án. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và vì chúng ta, Người cũng quy tụ những kẻ hư hỏng, người tội lỗi về (x.Soph 3,14-18). Niềm vui của người được tha thứ tội lỗi là niềm vui thật khó tả, hơn nữa, khi đó là một món nợ, vượt quá khả năng chi trả của chúng ta. Một người được thứ tha sẽ trở thành nguyên cớ để nhiều người tội lỗi khác tin tưởng trở về. Bất cứ tội lỗi nào cũng có tính lây nhiễm ít nhiều. Cũng thế và hơn thế nữa, ân phúc tha thứ nào cũng có sức năng động lan tỏa. Đây chính là lý do để ngôn sứ Sôphônia mời gọi chúng ta hãy hân hoan và hãy nhảy mừng hết tâm hồn (Soph 3,14).

– Hãy vui mừng vì Chúa Kitô đã chọn chúng ta, không vì công nghiệp của chúng ta mà chỉ vì tình yêu của Người. Thánh tông đồ dân ngoại đã nói với tín hữu Philipphê rằng nếu tự hào về công trạng theo lề luật, thì ngài có thể hơn rất nhiều người. Nhưng ngài bỏ tất cả đằng sau, ngài chấp nhận mọi thua thiệt, trước một mối lợi lớn là được biết chúa Kitô (x. Phil 3,1-16). “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em…” (Ga 15,16). Vì đã chọn chúng ta nên Chúa Giêsu tự nguyện liên đới với chúng ta cho đến cùng. Người không chỉ làm con chiên gánh lấy tội nhân trần mà còn đón nhận loài người như đàn em đông đúc để thông chia phần phúc gia nghiệp đã hứa ban (x. Êph 1,3-14).

Tuy nhiên, một vấn đề cần làm sáng tỏ: niềm vui đích thật được biểu lộ như thế nào? Chắc hẳn chúng ta đồng thuận với nhau rằng đó không phải là những tiếng cười ha hả của những bữa tiệc tùng đầy sơn hào hải vị và rượu bia. Cũng chẳng nhất thiết là trạng thái lâng lâng, ngay sau khi đạt được một thành công trong kinh doanh hay trong thi đấu thể thao…Một niềm vui đích thật đó là tâm trạng của người cảm nhận mình được yêu thương vượt quá mọi công trạng mình đã có, vượt quá mọi khả năng mình đang có hay sẽ có. Tâm trạng này chính là sự bình an tận đáy tâm hồn khiến chúng ta can đảm vượt qua mọi thử thách và gian khổ, đồng thời thúc đẩy chúng ta nỗ lực sống đức ái, nghĩa là biết yêu thương một cách không tính toán không chỉ với người dễ thương mà với cả những người thù ghét và bách hại chúng ta. Có thể nói rằng các thánh tử đạo là những người đã thể hiện niềm vui đích thực này cách rõ nét.

Nước Trời là vương quốc của tình yêu và của niềm vui đích thật. Chúng ta có thể luận suy chân lý này qua các hình ảnh tiệc cưới mà Chúa Giêsu đã dùng để minh họa về thực tại Nước Trời và các hình ảnh mà Người nói về tình trạng trầm luân đời đời, đó là nơi phải khóc lóc và nghiến răng (x. Mt 22,2; Mt 8,12). Mùa Vọng lại về, một trong những ý nghĩa của Mùa Vọng là chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Chúa nhập thể – nhập thế. Thiên Chúa đã làm người, đã vào trần gian và Người mãi ở với chúng ta cho đến tận thế (x. Mt 28,20). Nước Trời đang ở giữa chúng ta (x. Lc 17,21). Ước gì bà con lương dân, anh em khác đạo và cả những người tự nhận là vô thần, thấy được niềm vui đích thật nơi Kitô hữu chúng ta. Trăm nghe không bằng một thấy. Thiết tưởng rằng đó cũng là một lời loan báo tin mừng khả tín không thua, mà có khi lại hơn những tổ chức “lễ hội đình đám” bên ngoài trong dịp mừng Chúa Giáng Sinh.

 

30. Bác ái và bổn phận

Tác giả Ôn Như Nguyễn Ngọc có kể câu chuyện như sau: Gia đình buôn bán nọ chế ra một cái cân để lừa đảo khách. Cái cân vừa nhẹ vừa nặng và bao giờ phần lợi cũng về phía ông ta. Vì buôn bán vậy nên chẳng bao lâu ông đã trở nên giàu có. Lại sinh được hai người con trai hiền lành, học giỏi khôi ngô tuấn tú, ai cũng khen là nhà có đại hồng phúc.

Một hôm, hai vợ chồng bàn nhau: bây giờ hai vợ chồng ta đã dư giả, giàu có không còn thiếu thứ gì ta hãy phá bỏ cái cân kia đi để dành cái đức lại cho con. Sau khi đem cái cân ra đập. Khi bể ra thì thấy có đọng một cục máu đỏ hỏn. Sau đó ít lâu thì hai đứa con bất tử lăn đùng ra chết, làm cho hai vợ chồng khóc lóc thảm thiết. Được Bụt hiện ra dạy “Hãy tu tĩnh làm ăn không tham lam gian lận”. Từ đó hai vợ chống cố gắng làm ăn không gian lận, làm phúc bố thí. Quả nhiên sau một thời gian sinh được hai đứa con trai khác hiền lành tử tế, văn hay chữ tốt, và sau lớn lên cha mẹ được vẻ vang hạnh phúc.

Qua câu chuyện trên ta thấy hai vợ chồng vì buôn bán gian lận nên hai đứa con bị Trời phạt nhãn tiền. Điều đáng khen là họ nhận ra mình tội lỗi, và tự biết phục thiện sửa đổi và được tha thứ. Công việc mà họ phục thiện chính là ăn ngay ở lành, làm phúc bố thí và không buôn bán gian lận. Nhìn chung lại chính là hãy biết làm tròn bổn phận và sống bác ái. Tương tự bài Tin Mừng dân chúng cũng lũ lượt kéo đến với Gioan.B và hỏi ông “Tôi phải làm gì?” hay “Tôi phải phục thiện bằng cách nào? ” để rước Chúa. Câu trả lời của Gioan.B không ngoài hai việc chính là:

  1. Sống bác ái

Trong bản văn Tin Mừng không nói rõ là Gioan.B kêu gọi mọi người sống bác ái. Nhưng qua lời ông yêu cầu mọi người hãy sống tương trỡ lẫn nhau:”Ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”. Gioan.B muốn họ làm một công việc bác ái cụ thể giúp tha nhân chứ không phải chờ đợi bằng lời nói xuông. Thật ra ngày nay chúng ta cũng gặp được nhiều người làm việc từ thiện, làm những công việc bác ái giúp đỡ người nghèo, người tàn tật cơ nhỡ ở khắp nơi. Nhưng cách làm việc của họ không có được tinh thần bác ái như lời Gioan.B kêu gọi. Vì đôi khi họ chi cho những chiếc “áo cũ”, “áo không mặc nữa”. Còn Gioan.B thì kêu gọi người ta cho đi cái mình “đang mặc”. Không thể phủ nhận lòng tốt của mọi người, nhưng nhiều người đã lạm dụng công việc bác ái để đạt được mục đích mà họ muốn, chứ không có chút gì là ái cả. Cho nên cũng có rất nhiều phần lương thực được giúp cho người nghèo, mà là phần dư thừa chứ không phải tất cả những gì họ có. Nhưng cũng có những tấm lòng cao cả mà cho đi với tinh thần không đắn đo, không đòi hỏi mà làm việc bằng một con tim hiến dâng. Điều đó thật đáng khen.

Thực trạng ngày nay đang cần con người sống bác ái với nhau nhiều hơn nữa, biết “nhường cơm xẻ áo”. Qua thống kê mới đây cho biết trên thế giới có khoảng một tỉ người bị đói vì cuộc khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh đó lại có quá nhiều người dư thừa tiền của. Nếu tất cả mọi người đều sống theo lời mời gọi cua Gioan.B, thì trên thế giới không còn người đói nghèo và bệnh tật nữa. Thánh Gioan.B khôngđưa ra một đòi hỏi nào quá sức mình, vì vậy để sống trong tầm tình mùa vọng, chúng ta không chỉ dọn đường mà còn phải sống bác ái ngay trong đời thường, với những người ở xung quanh ta. Vì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không thích ta sống dư thừa của cải, trong khi người anh em lại thiếu thốn không đủ cung ứng cho nhu cầu của họ.

  1. Làm việc bổn phận

Bài Tin Mừng còn nhắc đến những người thu thuế và lính tráng. Đối với dân Israel, hai hạng người này bị coi là xấu xa tội lỗi, vì họ tiếp xúc với dân ngoại và nghề nghiệp mang đến cho họ hành vi bất nhân, làm giàu cách bất chính. Nhưng thánh Gioan.B thì không nghĩ thế, ngài chỉ yêu cầu họ làm đúng, làm tròn và làm tốt công việc mà họ đang làm. Tiêu biểu đối với người thu thuế ngài nói: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh”. Nghĩa là gian lận trong thu thuế là không hợp với đạo đức. Với người lính cũng nhận được mệnh lệnh tương tự: “Chớ hà hiếp ai cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”. Công việc binh nghiệp tự nó đâu phải là xấu, mà cũng chẳng đáng chê trách, chỉ xấu khi người ta lợi dụng nó làm việc bất chính, như hà hiếp, tống tiền… Lời kêu gọi của Gioan.B trong mùa chay này thật đơn giản dễ thực hiện. Nhưng đòi hỏi mỗi người phải thực hiện cách triệt để và quyết liệt. Vì nếu chúng ta dọn lòng không sửa đổi thì Thiên Chúa sẽ không vào được lòng ta, vì nó đã chứa đầy những bất chính lo âu rồi. Vậy mỗi người hãy biết ăn năn sám hối để dọn lòng đón Chúa trong mùa vọng này.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng ra với tha nhân, để yêu thương chia sẻ những gì mình có, và làm tốt công việc mà Chúa đã giao. Amen.

 

31. Vui sống trong Chúa

(Suy niệm của Lm. Anphong Trần Đức Phương)

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng được gọi là “Chúa Nhật Hãy Vui Lên!” (Gaude/Rejoice Sunday). Chủ Tế có thể mặc Áo Lễ mầu hồng. Lý do là vì chúng ta đã sống được một nửa thời gian đặc biệt hy sinh, hãm mình, tĩnh tâm và cầu nguyện để chuẩn bị Đại Lễ Chúa Giáng Sinh, và “Ngày Chúa Đến” đã gần tới.

Mở đầu Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, trong lời Ca Nhập Lễ, Giáo Hội trích lời Thánh Phaolô kêu gọi tín hữu Philiphê “Hãy vui lên trong Chúa; tôi nhắc lại, anh em hãy vui lên, vì Chúa đã đến gần!” (Philiphê 4: 4-5). Đây cũng là những lời mở đầu của Bài Đọc II (Philiphê 4:4-7) trong Thánh Lễ hôm nay.Trong đoạn này, Thánh Phaolô khuyến khích chúng ta hãy vui luôn trong Chúa với tâm tình cầu nguyện, cảm tạ, tri ân và sống an hòa với mọi người; rồi phó thác mọi nỗi lo âu cho Chúa, Chúa sẽ lo liệu mọi sự cho chúng ta, và lòng chúng ta sẽ được an vui trong Chúa với niềm phó thác tuyệt đối.

Ngay trong Bài Đọc I, trích trong sách Tiên Tri Sophonia (3: 14-18), chúng ta đã đọc được những lời phấn khởi vui mừng: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hân hoan! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui lên…!” Tiên Tri Sophonia (Zephaniah) sống vào thế kỷ 7 trước Chúa Giáng Sinh. Tiên tri có nhiệm vụ cảnh tỉnh và kêu gọi dân chúng hãy sám hối lỗi lầm, ăn năn sửa đổi đời sống “vì ngày của Giavê đã tới gần!”, và sau cùng, Tiên Tri cũng đem lại niềm vui cho Dân Chúa “Vì Chúa đã đến gần… Chúa yêu thương dân của Người… ngày của Chúa là ngày giải thóat!”

Cũng như các Tiên Tri khác trong Cựu Ước, Tiên Tri Sophonia có nhiệm vụ kêu gọi Dân Chúa đừng bỏ đường lối Chúa, và đừng quên đi niềm mong chờ “Đấng Thiên Sai” (“Đấng Được Xức Dầu” – “The Messiah” – “Đấng Kitô”) mà Thiên Chúa đã hứa sẽ đến để cứu độ Dân Chúa. Đó là “Ngày của Chúa.” Ngày đó đã thực sự đến, là ngày Chúa Giêsu Kitô Giáng Sinh, và nhân loại đang sửa soạn mừng kỷ niệm ngày đại lễ đó – LỄ CHÚA GIÁNG SINH!

Vị tiên tri sau cùng của Cựu Ước chuẩn bị lòng người chờ đón “Ngày Chúa Đến” là Thánh Gioan Baotixita. Ngài thường được gọi là Gioan Baotixita hay Gioan Tẩy Giả, vì ngài ban Phép Rửa thống hối dọn lòng dân đón Đấng Kitô. Ngài cũng còn được gọi là Gioan Tiền Hô, vì Ngài “đi trước để dọn đường” cho Chúa đến. Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước (Luca 3: 1-6), chúng ta đã nghe Thánh Gioan nhắc lại lời của Tiên tri Isaia kêu gọi “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng…” Chúa Nhật tuần này, trong Bài Phúc Âm (Luca 3: 10-18), Thánh Gioan thẳng thắn xác định Ngài không phải là Đấng Kitô, Ngài chỉ làm phép rửa thống hối để dọn lòng dân chúng đón “Đấng uy quyền hơn tôi đang đến… Ngài sẽ ban phép Thanh Tẩy cho anh em trong Chúa Thánh Thần và lửa.” Thánh Gioan cũng chỉ cho mọi người phải làm gì để dọn lòng đón Chúa đến. Đó là chia cơm sẻ áo cho người nghèo khó. Mỗi người, tùy theo nghề nghiệp, phải làm gì cụ thể để sửa đổi đời sống: “người thu thuế” hay “quân nhân” hay các ngành nghề nào khác, tất cả đều cần phải chu toàn bổn phận, sống theo lương tâm ngay thẳng.

Mỗi người chúng ta hôm nay cũng cần lắng đọng tâm hồn và thưa với Chúa: Chúng con phải làm gì để dọn lòng chúng con đón Chúa đến trong dịp Lễ Giáng Sinh sắp tới? Chúng con phải làm gì để luôn sẵn sàng đón Chúa đến với chúng con trong bất cứ biến cố nào xảy ra trong cuộc đời chúng con; nhất là khi Chúa đến gọi chúng con ra khỏi cuộc đời này?

Trong thinh lặng và cầu nguyện, chúng ta sẽ được Chúa chỉ bảo phải làm gì, tùy theo cương vị chúng ta là Chủ Chăn, Linh Mục, Tu sĩ hay cha mẹ trong gia đình, hay giới trẻ đang lớn lên trong một xã hội đầy xáo trộn này.

“Mừng vui lên Sion! Này đây Chúa ngươi đến rồi!

Mừng vui lên Sion, Ngài khấng nghe lời ngươi đó!

Ngài dẫn đưa ngươi qua những hố sâu, qua núi đồi,

Về nơi an vui, nơi suối mát đẹp tươi…”

(Thành Tâm: Thánh ca “Vui lên, Sion”).

 

32. Hãy vui lên.

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hàng Ngày’)

Alqua Robil là một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng nhất trong các thiên tài dương cầm trên thế giới hiện nay. Tuy tự xưng mình là người vô thần, nhưng ông đã nói về Chúa Giêsu như sau: “Đối với tôi, Đức Giêsu Kitô đã và luôn luôn là một nhân vật siêu việt cao vời và lý tưởng nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Sự kiện Ngài là người Do Thái khiến cho tôi kiêu hãnh lây, vì tôi cũng thuộc dòng giống Do Thái. Cuộc sống của Ngài, các lời Ngài giảng dạy, sự hy sinh và lòng tin của Ngài đã trao ban cho thế giới món quà quí báu cao trọng nhất mà thế giới chưa bao giờ nhận được. Đó là món quà của “tình yêu thương”; tình yêu thương đối với tha nhân, tình yêu thương đối với người nghèo khó, tình thương xót, tình nhân loại và sau cùng là tất cả các tâm tình khiến cho con người trở thành cao thượng.”

Phải! Nhận xét trên đây của nhạc sĩ Alqua Robil thật sâu sắc và chí lý. Đúng thế! Ở đâu có tình yêu thương, thì ở đó có hạnh phúc tươi vui và an bình đích thực. Bởi vì, tình yêu thương là phương thế duy nhất hữu hiệu giúp con người xây dựng một thế giới tốt lành hơn mà không gây đổ máu, chết chóc và tàn phá thương đau cho con người.

Qua các bài đọc hôm nay, Mẹ Giáo hội kêu mời chúng ta thực thi tình yêu thương ấy trong cuộc sống mỗi ngày. Trong chương III, thánh Luca trình thuật biến cố ngôn sứ Gioan Tẩy Giả rao giảng phép rửa thống hối bên bờ sông Jordan, để nêu bật tính cách đại đồng của ơn cứu độ. Thánh sử Luca lồng khung sinh hoạt này của thánh Gioan Tẩy Giả trong những môi trường và với những lớp người vẫn thường bị Do Thái giáo cho là tội lỗi, như đám đông dân chúng dốt nát, ô hợp, bọn thu thuế gian tham xảo trá và lũ lính tráng vô đạo ác độc.

Là người có nếp sống chay tịnh khắc khổ, khi nghe ngài giảng, người ta tưởng đâu là thánh Gioan cũng nghiêm ngặt đòi buộc mọi người sống khổ hạnh tiết chế như ngài. Nhưng không, thánh nhân không đòi buộc họ làm những việc lạ thường khó khăn, mà chỉ khuyên mọi người thay đổi kiểu cách sống và thái độ hành xử đối với người khác. Thánh nhân đề nghị với một thái độ sống quân bình, biết thực thi công lý và yêu thương, chia sẻ cụ thể với tha nhân như:

– Ai thuộc lớp người giàu có, dư tiền dư của và phương tiện vật chất thì từ nay đừng sống ích kỷ, bo bo vơ vét tích trữ cho mình như trước nữa, mà hãy biết chia sẻ cơm áo, quảng đại trợ giúp cho họ có công ăn việc làm, tạo điều kiện sinh sống cho các anh chị em nghèo khó thiếu thốn hơn mình, cốt sao để họ có cuộc sống hạnh phúc sung sướng và đầy đủ, xứng đáng với phẩm giá con người.

– Ai thuộc lớp công nhân viên nhà nước, nắm giữ các nhiệm vụ trong các guồng máy hành chính, thuế má và mọi dịch vụ ngành nghề của cuộc sống, thì từ nay đừng ỉ nại quyền bính mà gian tham, hối lộ, chèn ép, áp bức, hà hiếp và khai thác bóc lột người dân nữa, nhưng hãy sống công bằng.

Nhà nước và các giới chủ hãng hãy trả tiền lương công nhân viên của mình, còn các công nhân viên hãy chu toàn bổn phận của mình với lương tâm nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm và phục vụ cao độ. Bởi vì, khi thăng tiến công ích là mọi người phục vụ và lo lắng cho chính gia đình mình, cho tương lai của con cái và những người thân yêu của chính mình, chứ không phải cho ai khác.

– Giới quân nhân là những người có phận vụ phụng sự quê hương và bênh đỡ kẻ cô thân, cô thế thì hãy biết chu toàn phận vụ với tinh thần hào hiệp và ý thức trách nhiệm, chứ đừng dùng vũ khí và chức vụ của mình để hà hiêp bóc lột người dân.

Nói cách khác, thánh Gioan Tẩy Giả khuyên mọi người có kiểu cách sống và hành xử công bằng, yêu thương, liên đới và biết tôn trọng tha nhân, làm thế nào để loại trừ ra khỏi cuộc sống của chúng ta mọi hình thức bạo lực, ích kỷ, tính gian dối lừa đảo, lòng ham hố của cải và tư lợi, gây thiệt thòi và đau khổ cho nhau. Dĩ nhiên, kiểu cách sống trên đây chưa đủ để con người có thể trở thành môn đệ và con cái của Chúa, nhưng nó là một bước khởi đầu cụ thể tốt đẹp, giúp sửa soạn tâm hồn đón nhận Chúa Cứu Thế đến.

Ngoài những kiểu cách hành xử kể trên, cuộc sống lòng tin của người tín hữu còn phải mang một đặc thái khác, đó là thái độ tươi vui mà ngôn sứ Sôphônia nói đến trong chương 3,14-18. Ngôn sứ Sôphônia sống vào cuối thế kỷ VII, và thời đó có rất đông dân thành Jérusalem và vùng Judéa chạy theo các thần linh ngoại giáo. Họ chủ trương hòa đồng các thói tục tôn thờ thần ngoại này với việc phụng sự Thiên Chúa. Ngôn sứ Sôphônia đã mạnh mẽ tố cáo thái độ lệch lạc và bất trung này của họ. Ông báo trước cho họ biết các hình phạt họ sẽ phải gánh chịu, đó là cảnh thành thánh Jérusalem sẽ bị đạo quân Babylon bủa vây đánh chiếm.

Để diễn tả tai ương này, ngôn sứ dùng kiểu nói “Ngày Của Giavê”. Trong ý nghĩa Kinh Thánh, “Ngày Của Thiên Chúa” ám chỉ biến cố Thiên Chúa phán xử con người và mọi loài, mọi vật trong thời cánh chung. Trong ngày lịch sử thế giới kết thúc, Thiên Chúa ra tay uy quyền can thiệp để tạo dựng trời mới đất mới. Đó là thời gian quyết liệt định đoạt đối với vận mệnh con người, hoặc rộng mở tâm hồn đón nhận ơn cứu độ hoặc tự loại trừ khỏi hàng ngũ những người sẽ được cứu thoát.

Tuy nhiên, ngôn sứ Sôphônia cũng hé mở cho dân Do Thái lòng xót thương nhân lành của Thiên Chúa và sự hiện diện cứu độ của Ngài. Thiên Chúa sẽ đến để thu hồi án phạt, chấm dứt tình trạng đọa đày buồn thương cho họ và cứu thoát họ. Chính vì thế, ông mời gọi mọi người “hãy vui lên”, hãy reo hò hớn hở hân hoan, vì Sion là người con gái yêu của Thiên Chúa. “Con gái” là kiểu nói hay được thơ văn của các dân tộc vùng Trung Đông cổ dùng để gọi các thành phố vùng biển.

Trong truyền thống Kinh Thánh, “con gái Sion” ám chỉ nhóm tín hữu còn sót của dân Israel, tức những người đã kiên trung tin tưởng vào Thiên Chúa, tuân giữ luật Ngài và mong chờ Đấng Cứu Thế đến. “Vui lên” cũng là động từ thánh sử Luca dùng trong trình thuật thiên thần Gabriel truyền tin cho Trinh Nữ Maria. Biến cố Chúa Giêsu Con Thiên Chúa Nhập Thể làm người để cứu chuộc nhân loại là một tin vui vĩ đại. Chính vì thế, nên sứ thần mới chào Mẹ Maria với lời chào lạ lùng: “Hãy vui lên, Đấng đầy ơn phúc”.

Mẹ Maria là người được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn, nên được tràn đầy ơn thánh Chúa. Mẹ là hiện thân số còn sót lại của Israel, của cộng đoàn nhỏ bé gồm các tín hữu đã biết sống trung thành với Thiên Chúa và lời hứa của Ngài. Đồng thời Mẹ cũng là toàn thân của Israel đang trông đợi ơn cứu độ thực hiện trong lịch sử loài người. Mẹ Maria là Sion mới, nơi Thiên Chúa sẽ xuống ngự trị và sống với con cái loài người.

Trong chương 4,4 thư thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Philipphê, Ngài cũng lập lại sứ điệp Tin Mừng ấy và khuyến khích tín hữu sống vui tươi, để trong cuộc đời hãy quên hết mọi khó khăn đau đớn tủi nhục và gian truân cay đắng để chỉ còn cảm thấy niềm vui. Niềm vui đó được phát xuất từ chính tình yêu thương của Chúa Giêsu Kitô, và Ngài giải thích lý do của niềm vui đó là: Kitô hữu có nhiều lý do thuận tiện để luôn có thái độ sống vui tươi. Bởi vì kể từ khi Chúa Giêsu nhập thể làm người, thì Thiên Chúa đã hiện diện giữa lòng trần gian và Ngài đồng hành với họ, chia sẻ mọi biến cố vui buồn trong đời họ.

Qua bí tích rửa tội, Ngài đã giải thoát họ khỏi xích xiềng nô lệ tội lỗi, trả lại cho họ sự tự do, ơn làm con cái Thiên Chúa. Tin vui cứu độ ấy không cho phép Kitô hữu buồn sầu thất vọng như những người không có niềm tin. Có Chúa trong lòng, có Chúa trong đời, có Chúa kề bên thì người Kitô hữu có được tất cả.

Vì thế, họ phải sống tin yêu phó thác và an bình, tươi vui, không âu lo, không sợ hãi. Kết hợp với Chúa qua lời cầu nguyện, qua cuộc sống đối thoại thân tình với Ngài. Họ phó thác mọi sự cho Chúa, và noi gương Chúa Giêsu sống nhân hậu, sống tốt với mọi người, yêu thương, thông cảm và quảng đại với mọi người. Nếu Giáo Hội đánh mất đi sự tươi vui của mình, thì điều đó có nghĩa là Giáo Hội đã đánh mất đi tất cả. Khi đó Giáo Hội không làm chứng cho niềm hạnh phúc là hôn thê của Chúa Kitô nữa, và điều đó cũng có nghĩa là tình yêu đã chết hay đang hấp hối. Tuy nhiên, khi đó Giáo Hội sẽ không còn khả năng yêu thương con người hay yêu thương với một tình yêu buồn sầu, mà tình yêu buồn sầu thì không phải là tình yêu.

Cũng thế, một tín hữu không còn khả năng sống tươi vui là dấu chỉ họ chưa gặp gỡ Thiên Chúa đích thực, Khi người Kitô hữu đánh mất đi niềm vui, thì họ phải tự vấn lương tâm mình xem nó có phải là ấu trĩ hay không? Và nếu quả thật có như vậy, thì đây là lúc chúng ta phải nghe lời thánh Phaolô kêu mời: Anh chị em hãy tìm lại Chúa Kitô, nghĩa là món quà và ơn thánh quí báu nhất trong Mùa Vọng hay sao?

 

33. Chúng tôi phải làm gì?

(Trích trong ‘Tin Mừng Chúa Nhật – Năm C’)

Bác sĩ Karl Menniger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ làm nhiều người kinh ngạc khi đọc cuốn “Whatever became of sin” (Điều gì đang xảy đến cho tôi?) Ông bắt đầu cuốn sách với câu chuyện khiến mọi người phải suy nghĩ. Vào một ngày Chủ nhật tháng 9 năm 1972, trên góc phố đông người qua lại, xuất hiện một nhà giảng thuyết. Vào lúc các nhân viên văn phòng vội vã lo đi ăn trưa, ông thình lình giơ cánh tay gầy guộc dùng ngón tay xương xẩu chỉ vào một nhân viên nào đó la lên: “Anh là kẻ có tội”, đoạn ông đứng im, nghỉ vài giây, rồi lại chỉ vào một người khác và la lên: “anh là kẻ có tội”.

Bác sĩ Menniger nói: “Tác động mà nhà giảng thuyết gây ra nơi những người bộ hành đi qua đó thật là kỳ lạ”. Họ lấm lét nhìn ông rồi quay mặt đi chỗ khác, rồi lại lén nhìn nữa, và cuối cùng vội vàng đi tiếp…

Chắc hẳn Gioan Tẩy Giả cũng gây được tác động tương tự trên đám dân khi Ngài xuất hiện bên bờ sông Giođan. Hẳn nhiên, một số chế nhạo Ngài, một số tức giận khó chịu, một số khác giật mình như bị chích vào vùng nhạy cảm, tự tận thâm sâu của lòng họ nhận ra sự sai quấy đã làm. Chúng ta đọc thấy phản ứng đó qua câu hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?”. Trong cuốn sách nói trên, bác sĩ Menniger cho thấy người thời nay làm nhiều điều sai quấy, nhưng điều đó không làm cho ông ưu tư, điều ông ái ngại là có rất nhiều người không chịu chấp nhận rằng mình làm điều sai quấy, chính vì thế mà nhà giảng thuyết trên chỉ nói: anh là kẻ có tội đã tạo ra một tác động kỳ lạ nơi những nhân viên làm việc tại Chicago.

Dầu con người chấp nhận hay không chấp nhận, sự thật vẫn là con người là một tội nhân:

Mọi người đều phạm tội, Thánh Kinh chép: “Chẳng một người nào công chính dù chỉ một người thôi. Mọi người đều trở mặt, đi vào đường lầm lạc. Chẳng một ai làm lành, dù chỉ một người cũng không. Vì mọi người đều phạm tội không còn phản chiếu vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3,10.12.23).

Nếu vua tiên tri Đavít có thú nhận: “Lúc chào đời, con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” thì cũng chỉ nói lên thân phận của kiếp người trước cái nhìn của Thiên Chúa.

“Nếu chúng ta chối tội là chúng ta tự lừa dối, và không chịu nhìn nhận sự thật. Nếu chúng ta bảo mình vô tội là cho Chúa nói dối” (1Ga 1,8.10).

Chúa Giêsu khẳng định với Nicôđêmô: “Thể xác chỉ sinh ra thể xác. Thánh Linh mới sinh ra tâm linh”. Như vậy cần phải tái sinh.

Nhưng việc tái sinh này, Gioan Tẩy Giả không làm được, ông có thể cho con người biết mình tội lỗi, như các người thu thuế nhận ra mình có lỗi trong việc thu thuế quá mức, đám lính tráng nhận ra mình hay bắt nạt dân chúng, còn tất cả dân chúng đều nhận ra tội ích kỷ không chia sẻ của cải cho những ai túng thiếu. Ông đòi buộc dân chúng xét lại tâm hồn mình và nhận biết lỗi lầm. Ông còn đòi họ phải từ bỏ tội lỗi để quay về với Thiên Chúa… Nhưng còn việc tha tội thì ông không làm được. Ông không làm được nhưng có thể chỉ cho người ta Đấng có thể làm điều ấy: “Tôi thì lấy nước mà rửa cho các ngươi, nhưng Đấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người. Chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa”. Rửa trong Thánh Thần là cách nói khác của tái sinh, là lãnh nhận ơn tha thứ tội lỗi do công ơn cứu chuộc của Đức Kitô trên thập giá. Đó chính là lý do vui mừng mà thánh Phaolô đã kêu gọi và là cao điểm của Thánh Lễ Chúa Nhật III Mùa Vọng hôm nay.

Chúng ta phải hết sức ngạc nhiên khi xét đến bối cảnh mà vị tông đồ đã đưa ra lời kêu mời vui mừng này. Đây không phải là như một người đang vui say lạc thú trần gian đưa tay cầm ly rượu kêu mời bạn hữu, nhưng là một con người đang sống trong ngục tù, Phaolô đã được đưa về giam tại Rôma, đang chờ đợi bản án chung kết, có thể là tử hình (và sau này là tử hình thật). Chỉ trong một bức thư gửi giáo đoàn Philipphê, ngài đưa ra lời kêu gọi vui mừng này tới hai lần, và lần nào cũng “tôi nhắc lại” với một tâm tình tha thiết đặc biệt. Người cha tinh thần ấy đang động viên tinh thần đoàn con của mình trong hoàn cảnh khó khăn mà họ đang phải đương đầu. Ông không thuyết giảng một cách mơ hồ, nhưng khích lệ họ với chính kinh nghiệm của bản thân mình, tại sao ông có thể vui và vui luôn, dầu trong bất cứ hoàn cảnh nào?

Ông có thể vui vì ông đã được tha thứ. Không ai có thể vui vì mình là tội nhân, nhưng vì tội nhân đã được tha thứ: “Đây là lời trung thực, đáng được mọi người tin nhận: Chúa Cứu Thế Giêsu đã đến trần gian để cứu vớt những người tội lỗi. Trong những người được cứu, ta nặng tội nhất” (1Tm 1,15). Ông nặng tội, bởi vì “trước kia, ta là người phạm thượng, tàn bạo, khủng bố người theo Chúa, nhưng Chúa còn thương xót vì ta không hiểu điều mình làm khi chưa tin nhận Ngài” (1Tm 1,13). Chỉ những ai nếm trải được sự tha thứ này mới cảm nhận được điều mà thánh tông đồ chia sẻ. Mỗi lần chúng ta phạm tội, lòng chúng ta luôn áy này, tâm hồn chúng ta nặng chĩu như bị một khối nặng đè lên, nhưng khi vừa được ơn tha thứ, biết rõ tội mình được tha, lòng chúng ta được thanh thoát, khối nặng đã bị cất đi…

Phaolô vui mừng vì tội được tha, vì ngài biết rõ Đấng ngài đặt niềm tin vào: “Vì ta biết rõ Đấng ta tin cậy, chắc chắn Ngài có quyền bảo vệ mọi điều ta uỷ thác cho đến ngày cuối cùng” (2Tm 1,12). Ông đã ký thác linh hồn mình cho Chúa Giêsu, và ông biết chắc chắn cuộc đời ông sẽ kết thúc như thế nào, sẽ dẫn ông đến bến bờ nào. Được như thế là nhờ: “Ta cứ chăm chú nhìn vào Chúa Giêsu là căn nguyên và cứu cánh của đức tin. Nhằm vào niềm vui tối hậu, Chúa đã kiên nhẫn vác cây thập giá xem thường sỉ nhục, và hiện nay ngồi trên ngai uy quyền tuyệt đối, bên phải ngai Thiên Chúa” (Dt 12,2). Cả cuộc đời đã như thế, còn gì mà không vui mừng: “Riêng phần ta, ta biết gần đến ngày từ giã trần gian, về thiên đàng. Ta đã chiến đấu anh dũng, chạy xong cuộc đua, giữ vừng niềm tin. Từ đây mão miện công chính đã dành sẵn cho ta. Chúa là Chánh án chí công sẽ ban cho ta trong ngày Ngài trở lại, cũng như cho tất cả những ai yêu mến, trông đợi Ngài” (2Tm 4,6-8).

Có lẽ trong chúng ta có người tự nghĩ: ai được như Phaolô, ai được Chúa đích thân gặp gỡ. Đúng thế, nhưng chúng ta cũng rất tự hào vì đã có một anh hùng tử đạo, không những có tinh thần của Phaolô, nhưng còn mang tên Phaolô nữa, đó là cha thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh.

Trong bức thư viết từ nhà giam tại Hà Nội đề ngày 24.04.1843 gửi cho các bạn ở chủng viện Vĩnh Trị, thầy viết: “’Tôi, Phaolô Lê Bảo Tịnh, đang mang gông xiềng vì Đức Kitô, từ ngục thất tôi gửi về các bạn những lời chào thân ái, và chắc chắn là những lời chào sau cùng… Tù ngục này quả là hình ảnh sống động của hoả ngục muôn đời. Không kể gông cùm xiềng xích, tôi còn phải nghe, phải chứng kiến, phải chịu đựng những oán ghét, thù hằn, những lời phỉ báng Thiên Chúa, những lời nói dâm ô, những cuộc xô xát, những hành vi bỉ ổi, những lời thề nguyền gian dối. Ngoài ra, tôi còn phải chịu phiền cực, chịu muỗi đốt, rệp cắn. Đã hết đâu, người ta còn luôn tuôn ra những lời căm hờn chửi rủa vua quan, bạn hữu, cha mẹ… Ngoài những đau khổ nói trên, mùa hè tôi phải chịu cái nóng nung người, mùa đông chịu rét buốt. Qua nhiều năm không bao giờ nhìn thấy mặt trăng hay ánh sao. Suốt đêm tôi không ngủ được, hoặc chỉ chợp mắt một vài trống canh là cùng… Nhưng nhờ ơn Chúa, ở giữa những cực hình thường làm cho các tù nhân khác phải sầu khổ, tôi lại được tràn ngập hoan lạc, vì tôi không cô đơn, nhưng Chúa Kitô ở với tôi. Chính Người, Thầy của chúng ta, chịu đựng sức nặng của cây thập giá, phần tôi, tôi chỉ vác cách nhẹ thôi. Vì Người không phải chỉ đứng xem chiến đấu nhưng chính Người chiến đấu và đắc thắng. Chính Người sẽ kết thúc cuộc chiến đấu…”.

Nhưng xem ra cuộc chiến chưa kết thúc, thầy lại được ra khỏi ngục, tiếp tục tu, làm linh mục chui, trở thành giám học chủng viện Vĩnh Trị, để rồi lại bị bắt giam tại nhà tù Nam Định, ngày 6.04.1857, tức là mười hai ngày trước khi chịu tử đạo, cha viết cho chủng sinh: “Chúng con hãy ca tụng Chúa nhân lành vì việc Người đã thực hiện nơi cha”, sau đó cha kể sơ qua về đời sống khổ cực trong lao tù, rồi tâm sự: “Cha cảm tạ Chúa đến muôn đời vì Người cho cha được sống trong yên lặng, cha có thể cầu nguyện và suy niệm tuỳ ý. Cha sung sướng tin tưởng rằng không gì có thể phân ly cha khỏi tình yêu Chúa Kitô, dù tù tội, đói khát, gươm giáo hay cái chết, vì Chúa Kitô là sự sống của cha”. Và rồi cha nhắc lại hầu như đúng lời vị đại tông đồ: “Cha có thể nói rằng: đã đến giờ cha phải ra đi, cha đã giữ vững đức tin, đã chạy hết chặng đường và cha đã trông đợi rằng: vị Thẩm phán sẽ trao cho cha vòng hoa dành cho người công chính, không phải chỉ cho cha, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người đến”. Cha kết thúc bức thư: “Sau khi khuất đi, nếu có thế lực gì bên Chúa, cha hứa sẽ không bao giờ quên chúng con. Vĩnh biệt”.

Chính nhờ thế lực của các vị anh hùng đức tin bên toà Chúa, và gương sáng của cha ông để lại mà chúng ta có được như ngày hôm nay. Tôi xin kết thúc bài chia sẻ với câu truyện sau đây: “Khi đạo Chúa được truyền bá ở thành phố lớn nhất miền Nam, có rất ít người tin Chúa. Một hôm có người ga trưởng là thầy Lê theo đạo. Thầy về thuyết phục những người trong gia đình và bạn hữu ở Bình Trị Đông, nhưng không ai chịu theo. Mấy tháng sau, thầy đau nặng rồi qua đời. Khi an táng, các tín hữu chung quanh tới cử hành, họ đau buồn vì mất một người anh em thân yêu, nhưng tất cả đều có niềm an ủi lớn và vui thoả khác thường trong Chúa, vì biết chắc thầy Lê đang an nghỉ trong Nước Chúa như lời Chúa dạy. Niềm an ủi và vui thoả khác thường đó đã gây một ấn tượng sâu xa nơi những người dự đám tang. Sau đó ít lâu, cả gia đình thầy Lê xin theo đạo, và rất nhiều người ở Bình Trị Đông quyết định theo Chúa. Những người ấy khi tin Chúa đều nói rõ, tuy trước kia họ không muốn nghe Phúc Âm, nhưng niềm vui an ủi vui thoả của các tín hữu giữa đám tang thầy Lê đã khiến họ lưu ý đặc biệt, rồi tìm hiểu đạo và tin Chúa”

 

34. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng

Anh chị em thân mến.

Trên đường đi, anh chị em gặp nhiều bản hiệu hướng dẫn; nào cấm đậu xe, không được nhấn còi, rẻ trái, rẻ phải… thỉnh thoảng còn có những cảnh sát giao thông. Vậy mà tai nạn giao thông cứ xảy ra thường xuyên. Không phải những người đó không nhìn thấy bản chỉ dẫn, cũng không phải họ không biết luật lệ giao thông. Trái lại họ biết rất rỏ, nhưng không tuân giữ nên mới có tai nạn xảy ra. Nếu họ biết tôn trọng luật lệ giao thông thì họ bảo đảm an toàn cho mình mà còn gìn giữ cho người khác nữa.

Gioan tẩy giả xuất hiện, ông kêu gọi ăn năn sám hối, sửa đỗi cuộc sống. Mọi người chạy đến với ông và hỏi: “chúng tôi phải làm gì?”. Ông không chỉ cho điều gì mới lạ, mà từng người từng địa vị, từng trường hợp, ông bảo sống đúng trách nhiệm của mình, làm tròn bổn phận được chỉ định. Ông chỉ dạy và ông còn làm gương cho mọi người, qua việc ông xác định thân phận của mình. Ông chỉ là người đi báo tin, ong chỉ biết làm tròn trách nhiệm của mình, ông không chấp nhận những gì mà mọi người gán ghép cho, ông không thể nhận điều mình không xứng đáng được nhận. Ông chỉ kêu gọi mọi người chuẩn bị đón Đấng đến sau ông, nhưng có trước ông, quyền lực hơn ông và là Đấng mang ơn cứu rỗi đến cho mọi người.

Lời kêu gọi của Gioan năm xưa đối với những người Do Thái thời bấy giờ, cũng là lời mời thống thiết đối với từng người trong chúng ta. Nhưng chúng ta có biết lắng nghe và chạy đến để hỏi như người Do Thái khi xưa không? Tôi phải làm gì? Chúng ta cũng đã từng nghe câu trả lời, nghe rất nhiều, nhưng những gì đã nghe có đưa tới hành động hay không lại là một chuyện khác.

Ai có hai áo thì chia cho ngưới không có,

Ai có của ăn cũng hãy làm như vậy.

Đừng đòi hỏi quá mức ấn định.

Chớ dùng vũ lực,đừng vu khống mà tống tiền người ta,

Hãy an phận với số lương của mình.

Những điều đó chúng ta biết quá rõ, những điều đó chúng ta cũng nghe quá nhiều, nghe nhiều quá rồi đôi khi trở nên nhàm chán. Chính vì nhàm chán nên chúng ta không thi hành được, mà đó lại là những điều cần thiết cho cuộc sống.

Hôm nay một lần nữa chúng ta lại nghe lời mời gọi, nhưng chúng ta có dám hỏi như những người Do Thái khi xưa: “chúng tôi phải làm gì?” Chúng ta có nghe câu trả lời và chúng ta có dám thực hành những gì mình đã lắng nghe không?

Nếu chúng ta biết nhìn lại chính mình, nhìn thấy những gì cần thay đỗi và không ngần ngại để cho con người chúng ta được trở nên tốt hơn.

Nếu chúng ta nhìn thấy được nhu cầu của những người chung quanh và biết đáp ứng theo khả năng của mình khi cần thiết.

Nếu chúng ta nhìn thấy được trách nhiệm của mình trong cuộc sống và biết chu toàn cách tốt đẹp.

Nếu chúng ta biết chấp nhận cuộc sống hiện tại mà không một lời kêu ca, phàn nàn, chỉ trích.

Nếu chúng ta biết tôn trọng những người chung quanh qua lời nói, hành động và cả suy tư.

Nếu chúng ta biết chấp nhận những gì mình đang có và bằng lòng với tất cả niềm tuân phục Thánh Ý Thiên Chúa.

Đó là chúng ta biết lắng nghe lời chỉ dạy của Gioan. Đó là chúng biết tự bảo vệ mình, đồng thời cũng tôn trọng và bảo vệ người chung quanh mà không gây thiệt hại cho họ và cho cả chính mình.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta nhìn thấy được chính mình, thấy những gì cần sửa đỗi, thấy những gì cần phải làm, để xứng đáng đón rước Chúa và lãnh ơn cứu độ. Xin Chúa đến và ngự trong tâm hồn mỗi người chúng ta.

 

35. Để tiến tới một thế giới tốt hơn – Achille Degeest.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Sự thể nhiều hạng người khác nhau đến nghe Gioan Tẩy Giả rao giảng cho thấy niềm hy vọng vào một thế giới tốt hơn phổ cập đến mức nào trong dân Israel. Với người Biệt phái và người Sa đốc tự tin đã giữ đạo bề ngoài mà thiếu thật lòng ăn năn trở lại thì chẳng ích gì. Với những người thu thuế, ông khuyên hãy thi hành chức vụ cách công bằng, vì thật vậy họ là nhân viên thuế vụ, thậm chí lại thu thuế cho người La mã đô hộ. Với những quân nhân, ông khuyên không nên dùng sức mạnh phục vụ cho bất công. Với tất cả đám đông, ông rao giảng hãy chia sẻ của cải, tương thân tương ái và thực thi công bằng cách thực tế. Ở điểm này chúng ta thấy rằng biến cố lớn là công cuộc cứu độ mà Gioan Tẩy Giả loan báo sắp xảy đến trong tương lai gần, nó liên quan đến khắp mọi người chẳng trừ ai. Để chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ, người ta cần thay đổi nếp sống cho phù hợp với tinh thần tôn trọng công lý và liên kết nhau trong tình thân ái.

Một vấn đề cho chúng ta: Phúc Âm loan báo một cuộc cách mạng. Vậy cách mạng này là gì?

1) Đó là một cuộc cách mạng nội tâm thực hiện bằng sự thanh tẩy tâm hồn trong Chúa Thánh Linh và trong lửa. Nhờ được thanh tẩy trong Chúa Thánh Linh, con người được mạc khải, nhận thức rằng mình là con Thiên Chúa. Qua trung gian Chúa Thánh Linh, con người nói với Thiên Chúa và gọi Thiên Chúa là Cha. Thanh tẩy bằng lửa là một sự thanh lọc thiêng liêng, là sám hối vì trót phạm tội, chấp nhận mình phải cố gắng xua đuổi sự dữ. Thanh tẩy do ông loan báo chính là phép rửa của Kitô giáo, là bí tích thăng tiến con người lên địa vị làm con Thiên Chúa, và điều hợp lý là từ đây con người phải tỏ ra xứng đáng với phẩm trật tôn quý đó.

2) Đó cũng là một cuộc cách mạng trong xã hội loài người –được thực hiện bằng bạo lực ư? Không, vì ông khuyên đám thính giả chớ dùng bạo lực, theo nghĩa cưỡng bách người khác làm theo ý mình. Ông cũng không đề nghị dùng bạo lực để giải phóng, nhưng nói rằng xã hội được giải phóng là do kết quả những nỗ lực mỗi cá nhân để cố gắng cư xử công bằng vì lòng bác ái. Tuy nhiên xin chớ hiểu lầm. Một hình phạt ghê gớm dành cho những kẻ nào vì ích kỷ, tham lam hoặc ác ý mà từ chối không đón nhận Tin Mừng. Thánh Gioan Tẩy Giả ví họ với rơm rạ người ta đem đốt sau vụ gặt. Một sự cưỡng bách chính đáng duy nhất là tự ép buộc mình thực thi công bằng bác ái. Sử dụng bạo lực đối với tha nhân, dù để đạt một cứu cánh mình cho là tốt, tất sẽ bị Thiên Chúa nghiêm phạt.

 

36. Đau khổ.

Giáng sinh năm ấy, cha Lini đang hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng để cử hành thánh lễ trong một bầu khí trang trọng, thì bỗng mọi người trong nhà thờ đều xôn xao. Ngẩng đầu lên, cha nhìn thấy một người phong cùi, mặt mũi xần xùi. Hai cánh tay bị cụt. Vết thương ở chân tuôn máu làm thành một vệt dài trên nền gạch bông. Toàn thân bốc ra mùi hôi thối.

Tất cả đều kinh hoàng. Còn cha thì bối rối. Một đàng không thể bắt đầu thánh lễ khi người phong cùi còn đứng đó. Đàng khác, cha cũng không thể đuổi anh ta, bởi lẽ nhà thờ là nhà của Chúa, cha chung của mọi người, không trừ một ai. Càng là bất hạnh thì lại càng đáng được ở lại để đón mừng Chúa giáng sinh.

Người phong cùi dừng lại trước bàn thờ với thái độ van xin. Thế rồi cha nói với anh:

– Bạn hãy ở lại với chúng tôi và chúng ta sẽ làm thành một gia đình duy nhất. Các vết lở loét nơi tâm hồn còn thối tha hơn những vết lở lóet nơi thân xác gấp bội. Tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Và dưới một góc cạnh nào đó, tất cả chúng ta đều là những người phong cùi về đời sống thiêng liêng trước mặt Chúa.

Sự việc này đã đánh động cha để rồi sau lễ giáng sinh năm ấy, cha đã dồn mọi nỗ lực để chăm sóc cho những người đáng thương này.

Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay và đưa ra câu hỏi:

– Nếu Thiên Chúa là tình yêu thì tại sao lại xảy ra biết bao nhiêu tội ác và bất hạnh trên thế giới?

Và như thánh Phaolô đã diễn tả:

– Đối với nhiều người, thập giá đã trở nên dấu chỉ của sự điên khùng và dại dột. Thế nhưng Thiên Chúa lại dùng chính sự điên khùng và dại dột này để cứu chuộc chúng ta.

Thực vậy, để cứu chuộc chúng ta Ngài không cần phải đổ máu, mà chỉ cần phán một lời hay sai một thiên thần cũng đủ. Tuy nhiên, Ngài đã không làm như vậy. Trái lại, Ngài đã xuống thế làm người để trở thành một Emmanuel, một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở cùng chúng ta mà thôi chưa đủ, Ngài còn muốn chia sẻ thân phận khổ đau của kiếp người: Sinh ra trong nghèo khó. Lớn lên trong lao động cực nhọc. Cũng khổ đau. Cũng đói khát. Cũng mỏi mệt. Suốt dọc quãng đời công khai Ngài đã thực hiện biết bao nhiêu phép lạ để xoa dịu những đớn đau của những người đương thời. Như lời tiên tri Isaia: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, công bố sự giải phóng cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được xem thấy, trả tự do cho kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân về ngày khen thưởng…”.

Và sau cùng đã đổ ra những giọt máu cuối cùng với cái chết đầy tủi nhục, đầy ê chề trên thập giá để cứu chuộc chúng ta như lời thánh Phaolô: “Chính Ngài đã hạ mình bằng cách vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”. Để rồi kể từ đây, thập giá đã trở nên dấu chỉ của sự khôn ngoan, của tình thương và của ơn tha thứ.

Còn chúng ta thì sao, chúng ta có thái độ nào khi đứng trước thập giá của đời mình và nhất là chúng ta có biết nâng đỡ để làm giảm nhẹ thập giá của những người chung quanh hay không.

 

37. Chúng tôi phải làm gì đây?

Dân chúng tỉnh ngộ đến hỏi Gioan: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lc 3, 10)

Khi ấy, thánh Gioan Tiền hô đã đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối, như lời chép trong sách Tiên tri Isaia (Is 40, 3): hãy dọn đường cho Chúa; thung lũng hãy lấp đầy – núi đồi phải bạt xuống – quanh co uốn cho ngay – gồ ghề phải san cho bằng…. Lời rao giảng của Gioan vừa đanh thép, đánh động lòng người, vì thế dân chúng tuôn đến nghe Gioan giảng dạy, đồng thời vì xúc động và tỉnh ngộ do những lời Gioan rao giảng, nên họ đã hỏi Gioan: Lạy Thầy, chúng tôi phải làm gì? Câu hỏi này, hôm nay có phải cũng là câu hỏi của mỗi người Kitô hữu chúng ta không, nhân mùa Vọng, kính mời anh chị em cùng suy niệm.

  1. Câu hỏi: trong Kinh thánh, một số trường hợp người ta đến hỏi Chúa như thế:

Mc 10, 17: một anh thanh niên giàu có đến trước mặt Chúa Giêsu, sụp lạy Chúa và hỏi: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”….

Lc 10, 25-28: một kinh sư đứng lên hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời……? “

Cvtđ 22, 6-11: Thánh Phaolô sau khi bị Chúa quật ngã trên đường đi Damas, đã hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con phải làm gì đây?”

Thánh Phêrô, trong tác phẩm và phim “Quo Vadis”, khi ông muốn trốn chạy ra khỏi thành tránh cơn bắt bớ, đã bị Chúa chặn lại hỏi: “con đi đâu vậy?”, và ông cũng đã hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con phải làm gì?”

Anh chị em thân mến, câu hỏi trên đây, Hội thánh cho chúng ta đọc lên ngay giữa Mùa Vọng này, chắn chắn phải có ý nghĩa và mục đích của nó. Chính vì thế trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta còn tìm thấy câu trả lời cho dân chúng của thánh Gioan Tiền Hô nữa…

  1. Câu trả lời: nhiều hạng người đến hỏi Gioan Tiền Hô, ông trả lời theo hoàn cảnh họ:

* Với dân chúng cách chung, là những người chỉ thích làm toán cộng và toán nhân, để tiền của và quyền lợi càng nhiều thêm, Gioan dạy làm toán trừ và toáV chia: hãy chia sẻ. Bác ái kitô giáo là yêu thương bằng hành động, là chia sẻ với anh em khó khăn hơn mình, chứ không phải là bố thí cái dư thừa của mình. Đức Kitô đã yêu thương ta bằng một tình yêu cụ thể, sống động, và là mẫu gương trước tiên về tình yêu đó…

* Với các người thu thuế, là những người muốn thu càng nhiều chừng nào càng tốt, Gioan khuyên: đừng đòi hỏi quá mức ấn định; mỗi người hãy sống đúng cương vị và bổn phận của mình

* Với binh lính là hạng người thường lợi dụng sức mạnh để hà hiếp kẻ khác, Gioan nhắc nhở: ” hãy biết bằng lòng “.

Những điều Gioan dạy hầu như không giống thói quen ở đời, là thích được thêm; ở đây Gioan dạy phải bỏ bớt. Người đời thì hi vọng thu tích thêm cái bên ngoài, Gioan dạy hi vọng chính là giải thoát được những thứ cồng kềnh làm ta buồn, những cái làm ta chìm xuống; thoát được những thứ đó, cuộc đời sẽ vui hơn và tràn đầy hi vọng…

  1. Gợi ý sống và chia sẻ:

* Chúng tôi phải làm gì? Dân chúng đã khiêm tốn và tỏ lòng sám hối mà hỏi thánh Gioan, để ông chỉ cho họ con đường phải theo. Phần ta ta có đủ khiêm tốn và ăn năn, để dọn tâm hồn chờ Chúa đến không, nhất là khi ta có tội?

Thánh Gioan không nói người khác phải sống như Ngài, nhưng nhắc nhở mọi người hãy sống xứng đáng với chức vụ, địa vị và nghề nghiệp của họ. Thánh Gioan là như thế. Còn ta ta có sẵn sàng noi theo gương Ngài? để không đòi hỏi kẻ khác theo ý riêng của mình, mà giúp họ nên thánh trong ơn gọi của họ không?

 

38. Đấng Thánh Israel thật cao cả – Cố Lm. Hồng Phúc

Thánh Phaolô Tông đồ, trong thư gửi giáo đoàn Philiphê đã kêu lên “Anh em hãy vui luôn trong Chúa. Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên” (Philiphê 4, 4).

Chúng ta hãy vui lên vì Chúa gần đến.

Chúng ta hãy vui lên vì Chúa đến đem sự bình an, hòa bình chân chính cho nhân loại.

HÒA BÌNH không phải chỉ là tình trạng không có chiến tranh.

Hòa bình chân chính dựa trên sự nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa, phụng sự Ngài, yêu mến Ngài, đồng thời đối xử với tha nhân trong tình bác ái và thương yêu. Sự an bình đó mới đem lại nguồn vui chân thật mà nhà tiên tri Sophonia mô tả trong bài đọc thứ nhất.

Muốn được sự hòa bình chân chính đó phải làm sao?

Qua bài Phúc âm, Gioan tiền hô mô tả cho chúng ta.

Trước tiên, Người trả lời cho ba nhóm người đến đặt câu hỏi: “Vậy chúng tôi phải làm gì?”

Cho nhóm người thiện chí đang mong ngày Chúa đến, Gioan dạy họ, cũng như dạy chúng ta biết chia sẻ cơm áo với những người túng thiếu. Đó là điều tối thiểu. Nếu ngày nay, tiếng nhà Tiền hô còn vang vọng giữa núi đồi, Ngài sẽ kêu gọi cải thiện hoàn cảnh tương xứng, bảo vệ sức khỏe v.v… Đối với những người thu thuế, đại diện cho lớp quan chức hay tham nhũng bốc lột người ta, nhà tiên tri gọi sự liêm khiết. Và với những người có phận sự giữ trật tự công cộng, họ phải công minh, biết tôn trọng kẻ khác. Mỗi người trong địa vị, chức vụ, công việc của mình, Gioan đòi hỏi phải chu tất.

Nhưng Gioan, vị tiền hô ấy là ai? Ông không được sai đến chỉ để ban vài bài luân lý thường thức. Tiếng ông vang dội trên núi đồi, lôi kéo đoàn người tầng lớp lớp. Người ta coi ông là Đấng Messia trông đợi. Nhưng Ông chỉ là một “tiếng kêu”, một người làm phép rửa dọn đường.

Gioan là nhà tiên tri đầu tiên nói đến một “Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần và lửa”. Ông cũng làm phép rửa, theo tục lệ Do-thái để khuấy động sự thống hối, ăn năn nhưng đây chỉ là một nghi thức tiên báo phép Rửa của Đấng Messia đã đến, đó là Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần và lửa, là Phép Rửa tội. Thánh Gioan Tông đồ sẽ nói rõ: “Rửa trong nước và Thánh Thần” (Gio 3, 5). Phép Rửa tội bao gồm hai mầu nhiệm: Phục sinh và Hiện xuống, nhờ đó chúng ta được rửa sạch tội lỗi, liên kết với Chúa Kitô Phục sinh, nhưng đồng thời cũng được sức mạnh Chúa Thánh Thần để làm chứng nhân của Chúa Giêsu sống lại. Sau này, với thời gian Giáo hội mới tách rời thành hai là Phép Rửa tội và Thêm sức, nhưng với phép Thánh Thể được gọi chung là Bí tích gia nhập Kitô.

Chúng ta đã được rửa tội “trong nước và Thánh Thần” (Ga 3, 5).

Chúng ta đã được “rửa tội trong Thánh Thần và Lửa” (Lc 3, 16).

Nhưng chúng ta có sống ơn Rửa tội không? Chúng ta có làm cho xã hội thấm nhuần tinh thần Kitô-giáo không?

Trong thông điệp Centesimus Annus (1991) khi phân tích sự sụp đổ của cộng sản Đông Âu và sự tái thiết một xã hội mới, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II lên án điều mà Ngài gọi là “Xã hội ăn xài” muốn giảm hạ con người vào lãnh vực kinh tế và làm thỏa mản các nhu cầu vật chất mà thôi, nghĩa là thay thế thần tượng đã sụp đổ bằng một thần tượng khác không mấy tốt đẹp hơn.

Hãy chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa.

“Hãy hát mừng Chúa, vì Người đã làm những việc cả thể, hãy công bố việc này trên khắp địa cầu. Hãy nhảy mừng ca ngợi vì ở giữa ngươi có Đấng Thánh của Israel thật cao cả” (Is 12).

Ngài đã đến và sắp đến.

 

39. Sám hối.

(Trích trong ‘Manna’ – Lm. Nguyễn Cao Siêu)

Suy Niệm

Màu tím bao trùm mùa Vọng.

Các Kitô hữu lo sám hối để lãnh nhận bí tích Hòa giải. Nhiều người ngại xưng tội, ngại đào bới lại quá khứ. Xưng tội mang dáng dấp của một cái gì buồn thảm!

Thật ra bí tích Hòa giải là một điều tươi tắn hơn nhiều. Sám hối không phải chỉ là quay về quá khứ, mà còn là hướng đến tương lai với rất nhiều hy vọng.

Sám hối còn có màu hồng như màu áo lễ hôm nay.

Khi dân chúng đến với Gioan, nhận phép rửa sám hối, họ đã hỏi ông: Chúng tôi phải làm gì đây? Cả những người thu thuế và binh lính cũng hỏi những câu tương tự.

Chúng tôi: sám hối mang tính tập thể, tính liên đới. Hội Thánh chúng tôi cùng chịu trách nhiệm về sự dữ.

Phải: một thúc bách của trái tim hoán cải thực sự.

Làm gì đây: sám hối không phải chỉ là một cảm xúc, tuy thánh thiện, nhưng lại mông lung, xa rời thực tế.

Sám hối đích thực đưa đến một hành động cụ thể. Gioan đã cho ta những câu trả lời còn nguyên giá trị.

Sám hối là sống bác ái, có hai chia một. Nhường cơm sẻ áo là ra khỏi nỗi bận tâm về mình.

Sám hối là sống công bằng, không tham lam vơ vét, không dùng quyền lực để cưỡng đoạt, áp bức ai.

Sám hối là hết nô lệ cho của cải, tiền bạc, quyền lực. Như thế dọn đường cho Chúa đến bằng sám hối đòi ta chỉnh đốn lại con đường đến với tha nhân.

Trở về với Chúa diễn tả qua việc trở về với anh em.

Gioan không bắt những người thu thuế bỏ cái nghề ô nhục, cũng không đòi những người lính Do thái bỏ phục vụ Hêrôđê. Ông cũng không bảo họ lên Đền Thờ dâng lễ đền tội, hay vào hoang địa sống nhiệm nhặt như mình. Họ cứ làm nghề của họ, nhưng với một tinh thần mới.

Sám hối thực sự thì đụng đến bàn tay, một bàn tay chứa đựng cả con tim và khối óc.

Trong mùa Vọng này, chúng ta phải hỏi nhau: mình phải làm gì?

Giới trẻ hôm nay muốn cảm thấy mình có ích, và muốn dùng thời giờ của mình sao cho có ý nghĩa.

Hãy gặp nhau, chấp nhận nhau và làm việc với nhau. Hãy cùng nhau làm một điều tốt nào đó cho đồng bào. Hãy cho thấy mình là người có đức tin. Đức tin được diễn tả qua hành động yêu thương cụ thể, và yêu thương lại làm cho đức tin lớn lên.

Xưng tội cần dốc lòng chừa. Dốc lòng chừa đòi đổi lối nghĩ và lối sống.

Đứa con thứ cần sống khác, sau khi trở về nhà Cha.

Chúng ta đã được chịu phép rửa trong Thánh Thần, nhưng chúng ta vẫn cần được Thánh Thần thanh tẩy mỗi ngày. Chúng ta không thể tự sức mình canh tân cuộc sống. Trở lại với tình yêu là hồng ân của Thánh Thần. Ước gì chúng ta mềm mại để cho Ngài uốn nắn và dạy ta biết làm gì để bày tỏ lòng hoán cải.

Gợi Ý Chia Sẻ

Có những tội cá nhân và những tội tập thể. Bạn thấy nhóm của bạn, giáo xứ của bạn, Hội Thánh của bạn thường vấp vào những khuyết điểm hay thiếu sót nào, thậm chí tội nào, đối với Chúa và tha nhân?

Tội tâp thể cần có một cuộc sám hối tập thể. Nhóm của bạn định làm một việc cụ thể nào để bày tỏ lòng sám hối tích cực trong mùa Vọng này?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.

Chúng con thường xây nhà trên cát, vì chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy, nhưng lại không dám đem ra thực hành. Chính vì thế Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con. Xin cho chúng con đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa, đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.

Xin giúp chúng con dọn dẹp mảnh đất đời mình, để hạt giống Lời Chúa được tự do tăng trưởng.

Ước gì ngôi nhà đời chúng con được xây trên nền tảng vững chắc, đó là Lời Chúa, Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.

 

40. Hé mầm hy vọng.

Lần mò tiến bước trong bóng đêm, ta ước ao có được ánh sáng soi chiếu, ta sẽ mừng rỡ khi bắt gặp được một tia sáng dù le lói, dù chỉ là vật được chiếu sáng. Dân Do Thái xưa cũng mừng rỡ đến đón nhận phép rửa của Gioan. Họ đã mong ngóng đợi chờ Vị Cứu Tinh và nay họ nhận thấy nơi Gioan có vẻ là Vị Cứu Tinh mà họ đang trông ngóng, họ xin ông chỉ cho họ phải làm gì để tỏ lòng sám hối. Và Gioan đã chỉ cho họ cũng như ông tự nhận về vai trò của mình.

Ta thấy được rằng lòng sám hối không chỉ được thực hiện trong tâm nhưng còn đòi hỏi phải thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng việc thực thi công bằng bác ái. Với dân chúng “ai có hai áo thì chia cho người không có, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”. Với người thu thuế thì “đừng đòi hỏi gì quá mức đã quy định….” Gioan không đòi hỏi mọi người phải và sa mạc như ông nhưng hãy thực thi công bình bác ái trên chính nghề nghiệp của mình. thế nên cuộc sống thường ngày của ta chính là phương tiện giúp ta nên thánh. “Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp” nên mọi việc chúng ta làm dù khiêm tốn mấy đi chăng nữa nếu được thực thi với tấm lòng quảng đại vui tươi thì cũng trổ hoa nhân đức trước mặt Chúa.

Gioan cũng tiết lộ thân phận của mình cho người Do Thái. Ông nhận mình không phải là Mêssia, ông chỉ là người dọn đường, chỉ là vật được chiếu sáng bởi ánh sáng thật đang đến, ông nhận mình không đáng cởi quay dép cho Đấng Mêssia… Gioan qủa là một con người được tuyển chọn, đang khi sự nghiệp của ông đang hoang đãng, mọi người đang tín nhiệm lũ lượt kéo đến với ông nhưng ông không vì thế mà ngộ nhận về sứ mạng của mình, ông khiêm tốn nhìn nhận chính mình. khiêm tốn không có nghĩa là hạ mình nhưng là nhìn nhận chính mình. Phép rửa của Gioan chỉ là tỏ lòng sám hối không đáng gì so với phép rửa trong cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô sẽ thực hiện. Gioan giới thiệu Đấng Mêsia cho dân chúng rằng Ngài sẽ thanh luyện để dành riêng những người con mới trong trời mới đất mới. Cũng như Gioan ta biết mình chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương cho hiện diện trong cuộc sống này và đã được máu châu báu của Đức Kitô đổ ra mà chuộc lại nên ta phải biết trân trọng từng giây từng phút trong cuộc sống của ta. Tuy nhiên quê hương thật của chúng ta là quê hương vĩnh cửu trên trời, ta xây dựng quê hương trần thế nhưng không vì thế mà bỏ quên quê hương thật. Nhìn nhận mình chỉ là thụ tạo còn cho ta thấy được mọi sự trong cuộc sống mà ta có được đều là ân ban. Nên tâm tình cảm tạ tri ân phải hằng luôn đặt trên môi miệng chúng ta. vì là ân ban nên mọi sự ta có đều là đón nhận, ý thức điều này cho ta biết khiêm tốn tránh thái độ tự kiêu tự mãn nhưng phải luôn dâng lời cảm tạ.

Chúa đã gần đến! Gioan đã hé mở cho dân Do Thái thấy Đấng Mêssia đã gần đến, hãy ăn năn sám hối để nhận ra Ngài. Khung trời hy vọng đã hé mở, thời kỳ muôn dân mong đợi đã gần đến.

 

41. Thiên đàng là thế đó – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Mừng vui lên Sion, này đây Chúa ngươi đến rồi.

Mừng vui lên Sion, Ngài khấng nghe lời ngươi đó.

Ngài dẫn đưa ngươi, qua những hố sâu, qua núi đồi,

Về nơi an vui, nơi suối mát trong đẹp tươi.”

Đó là lời reo ca thoát thai từ niềm tin son sắt của tiên tri Sôphônia trong cảnh tang tóc khổ đau của kiếp lưu đày biệt xứ.

Số là vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, vùng đất Do thái bị áp lực và sâu xé bởi đoàn quân viễn chinh Assyria hùng mạnh ở phía Bắc và vương quốc Aicập rộng lớn ở phía Nam. Ngoài ra còn phải đương đầu với tệ nạn cướp bóc, sách nhiễu của các nước lân bang. Triều đình Do thái bị phân năm xẻ bảy. Người thì muốn cấu kết với Assyria để tránh tai hoạ, kẻ thì đòi liên minh với người Assur để chống giặc phương Bắc. Tình trạng rối rắm, bất ổn, chia rẽ, lo sợ đã làm đất nước nhỏ bé Giuđa rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, kiệt quệ chưa từng thấy. Rốt cuộc Giêrusalem bị dày xéo, đền thờ rơi vào tay giặc, và dân cư phải đi lưu đày. Kiếp nô lệ cho đế quốc Assur bắt đầu.

Vào khoảng năm 609 trước Thiên Chúa giáng sinh, đế quốc Assur bắt đầu suy yếu. Tin tưởng ngày Giavê ra tay cứu thoát, thấy trước thời kỳ khôi phục quốc gia Giuđa, Sôphônia đã phấn chấn tâm hồn người dân lưu đày bằng lời reo vui: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi nhà Israel hãy vui mừng! Vì Chúa đã cất án phạt trên ngươi. Địch thù của ngươi, Ngài bắt phải tháo lui. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn phải sợ khổ cực nữa” (Xp 3:14-15).

Đây là niềm vui lớn lao cho toàn dân. Vui vì được Giavê giải thoát. Vui vì Chúa đến ở với dân Người. Chính Thánh Phaolô cũng đã nhắc đến niềm vui cứu độ này cho cộng đoàn tiên khởi Philip: “Anh em hãy vui mừng lên… vì Chúa đã gần bên” (Phi 4:4-5). Đây chính là chủ đề của Chúa nhật thứ 3 mùa vọng. Màu tím trong phụng vụ được thay bằng màu hồng. Qua đó, Giáo hội kêu mời dân Chúa hãy đổi mới thái độ sống, hãy hân hoan vui mừng, hãy hát lên, vì khổ đau kinh hoàng sẽ qua đi và bình an của trời cao đang ngự đến.

Hãy đổi mới thái độ sống cũng chính là câu trả lời của Thánh Gioan Tiền hô khi dân chúng đến hỏi “Chúng tôi phải làm gì?”

Theo Thánh Gioan, để đón chào Sứ giả Bình an, để tiếp nhận Hạnh phúc của trời cao, thì “ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy… Đừng đòi gì quá mức ấn định… Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai.” Phải chăng vị ngôn sứ đã muốn làm nổi bật chân lý: Hãy thương người để gặp được Chúa.

Khi hết lòng tu chỉnh thái độ sống của mình đối với anh chị em chung quanh, khi cố gắng thực thi công bình, bác ái, yêu thương và san sẻ, khi quyết tâm thay đổi tính khí xung giận hận thù, là tôi đang chân thành mở ngỏ đón mừng Đấng Cứu Thế ngự đến, là khơi dòng cho nguồn bình an tuôn tràn đến người thiện tâm, và làm cho thiên đàng thật sự chớm nở nơi trần thế.

Người Nhật thường kể cho nhau nghe câu chuyện về một hiệp sĩ Samurai hung bạo, cộc cằn không ai bằng. Một hôm chàng ta đến gặp một vị thiền sư và nói:

– Xin hãy chỉ cho tôi biết thiên đàng là gì và hoả ngục là gì?

Vị thiền sư đưa mắt nhìn con người thô bạo từ đầu đến chân rồi thất vọng trả lời:

– Dạy cho ngươi biết thế nào là thiên đàng và thế nào là hoả ngục ư? Ta không thể dạy cho ngươi bất cứ điều gì cả. Vì ngươi là một kẻ hung bạo, thô lỗ. Ngươi là nỗi tủi nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ Samurai. Hãy cút khỏi mặt ta. Ta không chịu được ngươi nữa.

Nghe những lời sỉ vả ấy, chàng hiệp sĩ nổi nóng, liền rút gươm định chém đầu vị thiền sư. Nhưng vị này giơ tay ngăn lại và nói:

– Hỏa ngục là thế đó!

Chợt nhận ra đây là bài học thực tiễn của nhà tu hành, chàng hiệp sĩ vội dừng tay. Sự hối hận bỗng đâu dâng tràn tâm hồn, chàng ta hiểu rằng vị thiền sư muốn hy sinh cả mạng sống để dạy cho mình bài học về hoả ngục. Thế rồi chàng từ từ hạ gươm xuống, cho vào bao, đoạn đến quì gối trước mặt vị thiền sư với tất cả sự thành tâm sám hối. Vừa nâng chàng dậy, vị thiền sư vừa nhìn sâu vào đôi mắt của chàng và nói:

– Thiên đàng là thế đó!

Thiên đàng đã hiện hữu nơi cõi thế. Đấng Cứu Thế đã đến trần gian. Một Hài Nhi đã sinh ra đời. Nhưng, nếu không biết thành tâm sám hối, đổi mới thái độ, làm sao người ta có thể cảm thấu được hạnh phúc thiên đàng là gì, Chúa Hài đồng là ai, hay niềm vui cứu độ là chi. Phải chăng vì bao lâu nay tính nóng nảy, giận hờn, ích kỷ, và nhất là vì thiếu hành vi sám hối mà người ta đã gây ra không biết bao nhiêu quang cảnh tan nát, lưu đày, hoả ngục cho chính mình và cho tha nhân?

Nhưng nếu biết sống an hoà với mọi người, biết chia sẻ cứu giúp những ai bần cùng khốn khó, biết chế ngự thói xấu tật hư, biết hướng lòng lên với trời cao bằng kinh nguyện và lời tri ân, thì như lời Thánh Phaolô đoan quyết, “bình an của Thiên Chúa sẽ gìn giữ lòng trí của anh em trong Đức Giêsu Kitô” (P1 4:7)

Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

 

42. Sám hối, một niềm vui

Khi nghe ông Gioan rao giảng kêu gọi sám hối, rất nhiều người đến từ Giêrusalem và các vùng phụ cận để được Gioan thanh tẩy, họ thú nhận sự bất trung đối với Thiên Chúa và những tội ác đã phạm. Sám hối là cải đổi nội tâm, thay đổi suy nghĩ và đời sống. Sám hối bao gồm dứt khoát từ bỏ quá khứ tội lỗi, đồng thời quyết tâm dấn thân thực sự trong đời sống mới. Sám hối đúng nghĩa làm ta phải đau xót, mất mát, tổn thương vì là tự mình cắt bỏ một thói quen chưa hay, một đam mê thiếu trong sáng, hay một tật xấu nào đó… để lòng mình khiêm nhường hơn, biết yêu mến sự thiện hảo hơn, biết sống tinh thần phục vụ, biết sống vì Chúa và vì anh chị em hơn…

Khi chịu phép rửa tỏ lòng sám hối, đông đảo dân chúng hỏi ông Gioan,”Chúng tôi phải làm gì?” vì không phải chịu phép rửa là xong, nhưng còn phải sinh hoa quả là việc lành phúc đức thể hiện lòng thống hối nữa. Ông Gioan kêu gọi hãy cảm thông, chia cơm sẻ áo cho người nghèo khổ “ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”.Ông Gioan không đòi dân chúng bỏ lối sống bề ngoài, nếu họ là lính hay người thu thuế, thì cứ hãy giữ chức vụ của mình, nhưng phải cải đổi nội tâm, đổi mới tâm hồn bằng sám hối và dấn thân vào một lối sống mới”người thu thuế thì đừng đòi gì quá mức ấn định cho các người; còn các người lính thì đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai, hãy bằng lòng với số lương của mình”. Ông Gioan dạy bảo dân chúng hãy sống ngay lành, trong sự công bằng và tình bác ái với nhau. Đây là cách chuần bị rất tốt để “dọn đường” cho Chúa đến trong tâm hồn mình.

Một hôm Mẹ Têrêsa Calcutta đem 5 chiếc bánh cho một gia đình nghèo đói. Sau khi cám ơn và chia cho bốn đứa con, bà mẹ đó cầm 2 chiếc bánh vội vã chạy sang nhà hàng xóm. Khi bà trở lại Mẹ Têrêsa hỏi: Chị cầm bánh đi đâu vậy?

Người mẹ đó vui vẻ trả lời: Con mang bánh chia cho gia đình chị Ba. Họ cũng đang đói như gia đình con.

Thật cảm động và yêu thương: Dù nghèo dù thiếu thốn họ vẫn quan tâm và chia sẻ cho nhau. Một nghĩa cử cao đẹp thay.

Xưa dân chúng đã nghe lời ông Gioan kêu gọi mà chịu phép rửa tỏ lòng thống hối và thực hành những nhân đức để thay đổi đời sống, chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả có làm lay động tâm hồn chúng ta không? Mỗi người hãy tự đặt câu hỏi như những người Do thái xưa với Gioan “Tôi phải làm gì?” Xưa Gioan bảo những người Do thái hãy sống đúng cương vị và trách nhiệm của mình.

Hôm nay thánh Gioan cũng bảo chúng ta, đừng tham lam của cải người khác, đừng nói thêm nói bớt, hay đặt chuyện vu khống; nhưng mỗi người hãy sống đúng cương vị của mình, hãy hoàn thành tốt trách nhiệm của mình, hãy thực thi công bằng và bác ái trong đời sống mình với hết thảy mọi anh chị em chung quanh. Những ai biết sống yêu thương chia sẻ là những người ở trong Thiên Chúa.

Hãy tiết kiệm trong chi tiêu, mua sắm để chia sẻ, giúp đỡ những người đang thiếu thốn, những người kém may mắn hơn; nhất là cho những anh chị em là nạn nhân của cơn bão số 9 vừa qua. Người phụ nữ nghèo trong câu chuyện trên còn biết nhín chút quà bánh để chia cho người hàng xóm nghèo của chị. Còn chúng ta, chúng ta có làm được thế không?

 

43. Nhậy cảm với hoàn cảnh sống

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Ngọc Long)

Nếu có ai hỏi tôi: Bây giờ chúng tôi phải sống đạo làm sao cho đúng với tin mừng của Chúa? Tôi sẽ lúng túng không biết trả lời làm sao cho đúng, cho ngắn gọn dễ hiểu và dễ thi hành.

Nếu có ai hỏi tôi: Lề luật nào là kim chỉ nam cho đời sống người tín hữu Chúa ở trần gian? Tôi không ngần ngại trích dẫn tin mừng của Chúa như sau: Đó là luật mến Chúa và yêu người (Mt 22,33-40).

Nếu có ai hỏi tiếp: Như vậy chúng tôi phải sống như thế nào?

Phúc âm hôm nay ghi lại câu trả lời của Ông Thánh Gioan Tẩy Giả khi xưa trả lời cho những người hỏi ông cũng câu hỏi này: Anh em biết đấy, chúng ta nên chia cơm xẻ áo với người nghèo khổ; không nên cậy quyền thế hà hiếp người khác, không nên tham lam vượt quá giới hạn cho phép…(Lc 3, 10-14)

Tôi chắc người nghe sẽ có phản ứng ít là âm thầm trong lòng: Lại giọng luân lý. Điều đó ai chả biết! Vả chăng đạo nào, sách luân lý nào cũng dậy như vậy mà, có gì khác đâu!

Có thật sự Ông Thánh Gioan chỉ dậy luân lý như thế hay ông còn muốn điều gì khác hơn nữa?

Tôi không tin là ông chỉ muốn đem một mớ lý thuyết luân lý dậy đời ra làm câu trả lời. Nhưng Ông muốn nói đến những sự việc nhỏ nhặt, những biến cố, những khó khăn, những thắc mắc, những tiếng kêu cứu cần sự giúp đỡ trong đời sống của con người. Những sự việc đó tuy nhỏ bé, tuy không có chiều kích gì to lớn vĩ đại, nhưng là nền tảng cho câu trả lời người ta hỏi Ông: Chúng tôi phải sống thế nào?

Câu trả lời của Ông Gioan không dựa trên một sách vở dẫn chứng cớ, hay một lý luận nào, nhưng đặt nền tảng trong nhu cầu đời sống: bất cứ người nào cũng cần cơm ăn áo mặc, cần được kính trọng che chở bảo vệ, cần được quan tâm và không bị hà hiếp. Theo Ông, nếu biết nhậy cảm và sống tình liên đới với hoàn cảnh đời sống của con người, chính là sẵn sàng biết chấp nhận đổi mới cuộc sống của chính mình: Trở về với tin mừng mến Chúa yêu người rồi.

Những dấu chỉ bên ngoài tỏ tình liên đới với con người không là những dấu hiệu trống không vô nghĩa, nhưng có giá trị mang lại ơn cứu rỗi, mang lại hạnh phúc, vì là phản ảnh tình yêu Thiên Chúa giữa trần gian và Thiên Chúa nhìn thấy tâm tư của người làm và chúc phúc cho việc họ làm.

Truyện kể: “Một người giầu có luôn luôn nghĩ về cách làm thế nào giữ của cải của mình kể cả khi sắp chết. Ông muốn khi chết cũng phải mang tiền đi theo để có thể mua sắm những thứ cần dùng cho đời sống. Lúc nằm trên giường bệnh và biết ngày giờ sống của mình sắp hết hạn, ông cố gượng lần mò chiếc chìa khóa hòm đựng tiền buộc dính liền với sợi dây chuyền nơi cổ. Ông gọi người đầy tớ tín cẩn đến bảo mở hòm tiền ra và lấy vòng vàng chôn cùng với ông trong quan tài.

Sau khi qua đời, ông được gọi lên trời. Đi qua tầng trời ông nhìn thấy một bàn dài có bày bán nhiều thứ hàng. Ông hỏi ngay: Thứ bánh này giá bao nhiêu? Người bán trả lời: Một đồng thôi!. Còn hộp cá mòi kia giá bao nhiêu? Dạ giá cũng như vậy! Còn hộp sữa giá bao nhiêu? Dạ cũng một đồng thôi!

Như vậy quá rẻ. Được, tôi mua hết cả mâm đựng những thứ này! Ông ta lần túi tiền mang theo, móc ra những đồng tiền vàng tính trả cho người bán.

Người bán hàng lắc đầu nói ngay: Này Ông, như thế không đủ đâu. Ông đã được sống hơn năm mươi nhăm năm trên đời, nhưng ông đã không học biết đủ!!!

Ông ta liền sừng sộ đối lại: Như thế nghĩa là gì? Bộ những thỏi vàng này không đủ để trả cho bằng ngần ấy thứ sao?

Người bán hàng bình tĩnh cắt nghĩa tiếp: Chúng tôi chỉ nhận những loại tiền đã trao tặng giúp đỡ người khác thôi. Đó là lòng bác ái thương người!”

 

44. Chúng tôi phải làm gì đây?

(Trích trong ‘Manna’ – Lm. Nguyễn Cao Siêu)

Suy Niệm

Lắm khi lối sống đạo hình thức và cằn cỗi của ta làm nhiều người coi Kitô giáo là một thứ duy tâm tự ru ngủ với những ý tưởng tuy đẹp nhưng chẳng bao giờ trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thực ra Kitô giáo là tôn giáo của hành độngNiềm tin đích thực đòi nhập cuộc và dấn thân. Tình yêu đích thực đòi thực hiện cuộc cách mạng nơi lòng cá nhân cũng như ngoài xã hội.

Trong Tin Mừng theo thánh Luca, động từ LÀM được nhắc lại nhiều lần: “Tại sao anh em gọi Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà anh em không làm điều Thầy dạy?” (Lc 6,46). “Người nghe mà không làm thì giống như người xây nhà không nền móng” (Lc 6,49). Trong cuộc đối thoại với một luật sĩ, Đức Giêsu đã bảo ông: “Hãy làm như vậy và ông sẽ được sống” (Lc 10,28). Sau dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Ngài còn dặn ông: “Hãy đi và làm như vậy” (Lc 10,37).

Con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay. Đức Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó.

Chúng tôi phải làm gì đây? Câu hỏi này được nhắc lại ba lần trong đoạn Tin Mừng.

Những người đến với Gioan để chịu phép rửa đã không chỉ sám hối về quá khứ tội lỗi mà còn muốn tìm một hướng sống trong tương lai.

Hoán cải đích thực đòi thay đổi cách sống.

Ông Dakêu đã chia phân nửa tài sản cho người nghèo. Gioan mời gọi người có hai áo chia cho kẻ không có.

Hoán cải thực sự đòi phải trả giá vì nó đụng đến bản thân tôi ở chỗ sâu nhất. Chính vì thế, hoán cải là một ơn mà ta phải xin và can đảm đón nhận.

Mùa Vọng là thời gian hoán cải để chờ Chúa đến.

Nhiều bạn trẻ lo xét mình xưng tội, xưng tội để rồi bắt đầu một đời sống mới, vui tươi và quên mình, công bình và bác ái.

Như Phao-lô sau khi bị quật ngã trên đường về Đa-mát, chúng ta cũng muốn đặt câu hỏi: “Lạy Chúa, tôi phải làm gì?” (Cv 22,10).

Gợi Ý Chia Sẻ

Có người nhận xét rằng người Công Giáo Việt Nam giữ đạo trong nhà thờ, nhưng chưa sống đạo ở ngoài nhà thờ. Bạn nghĩ gì về nhận xét đó?

Bạn hãy chia sẻ một quyết tâm riêng của bạn trong những ngày cuối của mùa Vọng. Nhóm của bạn có thể có một quyết tâm chung không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, con được no nê mà vẫn thiếu ăn, vì bên con còn có người đói lả.

Con uống nước mát mà họng vẫn khô ran, vì bên con còn có người đang khát.

Con vui cười mà nước mắt tuôn rơi, vì bên con còn có người phiền muộn.

Con sáng mắt mà vẫn ở trong bóng đêm, vì bên con còn có người mù tối.

Con mặc áo đẹp mà vẫn rách tả tơi, vì bên con còn có người trần trụi.

Con nằm trong nệm êm mà vẫn thao thức, vì bên con còn có bao người thiếu thốn.

 

45. Sứ điệp tình thương

(Suy niệm của Lm. Augustin Nguyễn Huy Tưởng)

Bài tin mừng hôm nay nói về sứ điệp của Gioan: sứ điệp tình thương. Thương là chia xẻ những gì mình có, vật chất hay tinh thần. Có hai áo thì cho một áo. Thỏa mãn với đồng lương của mình. Đừng ức hiếp ai. Nói tóm lại muốn đón Chúa phải thực tập yêu thương.

Càng có kinh nghiệm sống chúng ta càng cảm nhận lời kinh thánh: Omnis homo mendax: mọi người đều giả dối. Tội lỗi làm cho con người thành pháo đài của nhau. Hay như hiền triết la mã: homo homini lupus: người là chó sói của con người. Gần đây Jean Paul Sartre: l”enfer c”est les autres.

Không yêu thương là tội lỗi và tội lỗi làm cho con người xa cách nhau. Gioan kêu gọi sự chia sẻ và sự lương thiện. Chúng ta đang sống ở trần gian có nghĩa là không có gì thiệt trong cõi ta bà thế giới này. Thi sĩ gọi trần gian chỉ là ảo ảnh là hư không. Vi thực ra cái trò huyễn hóa của trần gian này như giấc mộng vàng. Và tình yêu chúng ta dành cho nhau nhiều khi cũng không thực như là dọi chiếu tình yêu qui hướng về mình mà thôi. Chúng ta yêu kẻ khác có thật sự vì họ hay là vì chúng ta? Cái phân biệt tình yêu đích thực chính là sự qui chiếu này.

Người Mỹ rất sợ hurt feelings nên ngôn ngữ hành động của họ nhiều khi hời hợt giả dối không thật. Mới buổi sáng nói: you are wonderful buổi chiều đã có thể lay off không thương tiếc. Hai ông cha Việt nam thấy thằng nhỏ cỡi xe đạp ném báo bị xỉu vì lạnh. Mang nó vào nhà. Mẹ nó kêu cảnh sát vì nghi cho hai chàng đông phương này làm con bà xỉu. Cũng may thằng bé tỉnh dậy cho hay: không có hai ông nó đã chết. Bà mẹ cám ơn rối rít. Về nhà cha sở còn quở: các cha bác ái không phải lối. Vậy thì bác ái đúng là như thế nào? Bác ái đúng là: cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm (thánh Âutinh) hay đối với những kẻ Chúa yêu mọi sự đều tốt đẹp.

Sứ điệp thứ hai là lòng khiêm nhượng của Gioan. Ngài khiêm nhường đến mức không coi mình là nô lệ của Chúa. Nô lệ cởi dây giày mà ngài nói mình không đáng cởi dây giày. Tận cùng bằng số trong cuộc đời. “Ai nhất thì tôi thứ nhì, ai còn muốn nữa tôi thì thứ ba”. Tội đầu tiên của con người là kiêu ngạo nên Chúa Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Ngài nâng kẻ hèn mọn lên (kinh Magnificat). Gioan còn nói: Ngài phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi.

Đa số chúng ta muốn lớn hơn người khác. Chúng ta còn muốn lớn hơn cả Chúa nữa. Sau tội kiêu ngạo là tội ghen ghét: Cain Abel, Esau Jacob, 11 anh em và Giuse, vì thấy người khác hơn mình.

Trong “Cổ Học Tinh Hoa” có kể câu chuyện: loài hồ sợ loài vật nào nhất: loài hồ sợ loài hồ nhất. Hai ca sĩ hai bác sĩ hai người cùng làm một nghề thường ghen ghét nhau. Chẳng qua vì thiếu sự khiêm nhường. Thánh Têrêxa nói: khiêm nhường là nhận sự thực. Ta không dám nhận sự thực của chính ta vì sợ mất lòng. Nếu ai cũng thấy ta như Chúa thấy, chắc là chúng ta xấu hổ lắm. May thay ngày tận thế mọi người sẽ thấy. Nhưng nếu chúng ta thành thực và nhận sự thực của chính chúng ta, chúng ta sẽ thêm xác tín sự yếu đuối để dựa cậy vào Chúa hơn. Hãy tâm niệm thánh vịnh 131:

Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi,

đường cao vọng chẳng đời nào bước,

việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu,

hồn con con vẫn trước sau,

giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình,

như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,

trong con hồn lặng lẽ an vui,

cậy vào Chúa Ich diên ơi,

từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.

 

46. Hoa thơm lấn dần cỏ dại

Mảnh đất sau khi đã được dọn dẹp sạch cỏ rác, muốn cho tốt hơn người ta thường tìm cách cải tạo. Vun xới hay bón thêm phân là một trong những cách cải tạo. Nhờ đó, những cây trồng xuống sẽ mau xanh tốt và nếu là cây thu hoạch thì đem lại năng suất cao.

Lời Chúa Chúa nhật II Mùa vọng Thánh Gioan đã chỉ cho cách dọn dẹp những trở ngại trên đường liên lạc giữa ta với Chúa. Tuần này, ông cũng tiếp tục chỉ cách cụ thể hơn. “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” Với những người thu thuế thì: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh”. Còn với binh lính thì: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”

Đặc biệt, ông còn chỉ cho cách để cải tạo con đường liên lạc giữa ta với Chúa hiệu quả hơn. Ông nói: “…..Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa”. Như vậy, Thánh Thần mà Chúa Giêsu đem lại sẽ giúp ta.

Tâm lý chung của nhiều người gần đến Lễ Giáng sinh thường lo nghĩ đến những việc mang tính bên ngoài hơn. Máng cỏ, đèn sao và cờ xí phải cho rực rỡ và rầm rộ. Tổ chức lễ sao cho thật ồn ào và náo nhiệt. Đó là suy nghĩ có thể nói được là còn nông cạn nếu nhìn theo cái nhìn đức tin.

Xưa kia, Chúa Giêsu đến thế gian trong khung cảnh âm thầm lặng lẽ. Đến nỗi nơi Người được sinh ra có thể nói là đầu đường xó chợ vì là nơi tồi tàn và hôi thối. Dường như lịch sử loài người từ trước đến nay chưa từng có ai được sinh ra trong khung cảnh như thế. Hơn nữa, Người lại còn được sinh ra giữa đêm đông lạnh giá mà không có tấm áo che thân phải nhờ đến hơi của bò lừa sưởi ấm.

Vì thế, những sự chuẩn bị chỉ mang tính cách bên ngoài chắc là Người sẽ không vui. Vì thế, hãy để lòng ta chìm đắm trong mầu nhiệm cao cả này. Chắc chắn trong sự chìm đắm ấy, Thánh Thần Chúa sẽ chỉ cho cần phải làm gì để vun xới tâm hồn cho hiệu quả.

Hãy tỏ lòng yêu mến Chúa thật nhiều như chị phụ nữ tội lỗi đã quỳ gối trước Chúa Giêsu lấy nước mắt và tóc mà lau chân Người. (Lc 7, 36 – 50)

Hãy có thái độ chăm chỉ lắng nghe Lời Chúa như cô Maria ở làng Bêtania khi Chúa Giêsu đến thăm nhà. (Lc 10, 38 – 41)

Hãy khiêm tốn thật lòng và khao khát đi tìm Chúa như Dakêu – người thu thuế xưa. (Lc 19, 1 – 10)

Hãy thực thi giới răn yêu người như người Samaritanô nhân hậu. (Lc 10, 29 – 37)

 

47. Chúng tôi phải làm gì?

Sau khi nghe lời kêu gọi ăn năn sám hối của thánh Gioan Tẩy Giả, nhiều người tỏ vẻ phục thiện, sẵn sàng cải đổi nếp sống sai lạc của mình, họ xin thánh Gioan những lời khuyên thiết thực: “chúng tôi phải làm gì đây?”.

Một câu hỏi hết sức quan trọng.

Đây là câu hỏi các nhà sản xuất, chế tạo thường xuyên đặt ra với sản phẩm của mình: Tôi phải làm gì… để cải tiến công nghệ… để nâng cao chất lượng hàng hoá?

Kết quả là họ đã thực hiện được vô vàn cải tiến trong rất nhiều lãnh vực, từ máy bay siêu thanh khổng lồ cho đến những con chíp nhỏ xíu, tất cả đều được cải tiến nhanh chóng phi thường.

Không chỉ trong lãnh vực công nghệ lớn lao mà ngay cả trong các mặt hàng tiêu dùng nhỏ mọn hằng ngày như cái chổi lau nhà, cái thùng rác nằm trong xó bếp, cũng luôn được cải tiến. Nói chung, tất cả mọi sản phẩm do con người làm ra, từ những sản phẩm lớn lao đồ sộ cho đến những thứ ti tiểu như cái chổi quét nhà… cũng đều được cải tiến từng giờ từng phút!

Trong khi đó, con người là tạo vật ưu việt của Thiên Chúa, được chính Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài, thì được cải thiện bao nhiêu về nhân cách, về phẩm chất đạo đức? Hay ngược lại ngày càng suy thoái trầm trọng?

Hiện nay, luật pháp của một số nước cho phép mẹ giết con (trong bào thai), cho phép những cặp đồng tính luyến ái kết hôn với nhau (nam với nam, nữ với nữ, chung chạ với nhau như vợ chồng) và được công nhận như một gia đình thực thụ, được hưởng mọi quyền lợi của một gia đình. Thứ tội ghê tởm đáng trừng phạt của dân thành Sô-đô-ma ngày xưa, nay được pháp luật của các nước được xem là văn minh, công nhận và hợp pháp hoá!

Đau thương thay, khi sản phẩm do tay con người làm ra thì ngày càng được nâng cao chất lượng, trong khi con người là sản phẩm đệ nhất của Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh tuyệt vời của Ngài thì ngày càng sa sút, suy đồi thê thảm.

Con người không được nâng cấp thì cũng như bức tượng, trước sao, sau vậy, không cao thêm, không đẹp thêm; trái lại có khi càng về lâu càng bị rêu mốc, nứt nẻ, càng xuống cấp thêm. Như thế thì thật là đáng tiếc và đau lòng cho Thiên Chúa.

Bao nhiêu năm qua, chúng ta đầu tư rất nhiều công sức, thời gian cũng như tiền bạc để tạo bộ mã bên ngoài bằng các loại mỹ phẩm đắt tiền, bằng nâng cấp nhà, lên đời xe, nâng cấp đủ mọi thứ vật dụng trong nhà, còn chủ nhân của tất cả những thứ đó thì đã được nâng đến cấp nào hay đang xuống cấp nghiêm trọng?

Hãy tự đặt lại câu hỏi đó với chính mình và xin Chúa cho chúng ta càng quan tâm nhiều hơn, đầu tư nhiều công sức hơn để rèn luyện cho mình thành người có trình độ, có năng lực, có phẩm chất cao cho xứng với tầm vóc của người con Thiên Chúa.

Vậy để bắt đầu công cuộc cải thiện, chúng ta hãy noi gương những người đến nghe ông Gioan rao giảng, để thưa với Chúa và hỏi lại lòng mình: “Còn tôi, tôi phải làm gì?” rồi bắt đầu ra tay.

* * *

Lạy Chúa Giê-su, xin dạy con biết noi gương Chúa để đào tạo lại bản thân con, nâng cấp con người con thành người mới, có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức, có văn hoá.

 

48. Suy niệm của Lm. Ignatio Trần Ngà.

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI BẰNG ĐỜI SỐNG PHẢN CHIẾU TIN MỪNG.

Sau khi nghe thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi ăn năn sám hối, nhiều người tỏ ra phục thiện, sẵn sàng cải đổi nếp sống sai lạc của mình. Họ xin thánh Gioan những lời khuyên: “Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?”

Gioan Tẩy Giả đã đưa ra những lời khuyên thiết thực.

Đối với người khá giả thì ngài khuyên họ hãy chia cơm xẻ áo: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” (Lc 3,11)

Đối với người thu thuế thì ngài dạy họ đừng bắt chẹt ai: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” (Lc 3,13)

Đối với người nắm quyền lực trong tay thì đừng ức hiếp dân lành và đừng tham nhũng: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.” (Lc 3,14)

Nói chung, các lời khuyên nêu trên đều khuyến khích mọi người thực hiện công lý, công bằng và bác ái.

Nhưng tiếc thay, những lời khuyên của Gioan Tẩy Giả trên đây cũng như những lời Chúa dạy trong Tin Mừng chưa được nhiều người đón nhận và đem ra thực hành nên nhân loại phải sống triền miên trong bất công và nghèo đói.

Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Phát Triển của Liên Hiệp Quốc năm 2009, hiện nay những người giàu nhất trên thế giới tuy chỉ chiếm 2% số người trưởng thành trên địa cầu nhưng lại sở hữu tới hơn một nửa của cải toàn thế giới; trong khi hơn một nửa dân số nghèo trên thế giới chỉ chiếm chưa đầy 1% của cải trên toàn trái đất nầy!

Còn theo báo cáo của FAO (Tổ Chức Lương Nông Thế Giới) ngày 14 tháng 10 năm 2009 thì hiện nay có đến 1.02 tỉ người, chiếm 1/6 dân số toàn cầu, đang lâm nạn đói. Số người đói đã lên đến mức kỷ lục!

Trong hoàn cảnh số người lâm nạn đói tăng lên nhiều chưa từng thấy và sự chênh lệch giàu nghèo đạt tới khoảng cách chưa từng có trong lịch sử loài người, thì việc chia cơm xẻ áo, thực thi công lý và công bằng mà Thiên Chúa mời gọi, qua miệng ngôn sứ Gioan Tẩy Giả, là việc làm khẩn thiết hơn bao giờ hết, để đem lại ấm no cho mọi người, đem lại công bằng cho xã hội, đem lại hạnh phúc cho muôn dân.

Hơn ai hết, Kitô hữu phải là người đầu tiên đáp lời mời gọi của Thiên Chúa và Hội Thánh để thực thi bác ái, công bình trong xã hội.

Một số người cho rằng đạo và đời là hai lãnh vực cách biệt, chẳng có liên hệ gì với nhau nên bên nào thì chuyên lo việc bên đó. Thực ra, hai lãnh vực nầy gắn bó với nhau mật thiết như xác với hồn, bởi vì khi tôn giáo đào tạo nên một tín hữu tốt thì xã hội có thêm một công dân tốt; khi người tín hữu sống công bằng bác ái với người chung quanh, là họ đang làm cho xã hội nên tốt đẹp, vì họ cũng là công dân trong xã hội. Chính khi sống theo những lời khuyên dạy của Tin Mừng, Kitô hữu góp phần xây dựng và phát triển xã hội bằng chính đời sống của mình.

Vì thế, trong thư gửi cộng đồng dân Chúa dịp công bố năm thánh 2010, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhắc lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI gửi cộng đồng dân Chúa: “Khi xây dựng đời sống mình trên nền tảng những giá trị Tin Mừng như bác ái, liêm chính và quý trọng công ích, anh chị em là những công dân tốt, tích cực tham gia vào việc xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng. Qua anh chị em, Giáo Hội đóng góp phần mình vào việc phát triển con người và xã hội cách toàn diện…” Nói tóm lại: bằng đời sống phản chiếu Tin Mừng, người giáo dân góp phần phát triển con người và xã hội.

* * *

Dù chỉ là một khối đất đá sù sì không có gì hấp dẫn nhưng mặt trăng trở nên cần thiết và mang vẻ đẹp tuyệt vời khi đón nhận ánh sáng mặt trời và phản chiếu ánh sáng đó soi chiếu nửa phần trái đất đang chìm trong bóng tối. Cuộc đời người Kitô hữu dù có tầm thường, cũng trở nên hữu dụng và có giá trị cao khi biết đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa và phản chiếu ánh sáng Tin Mừng đó cho những người chung quanh.

 

49. Sự sám hối chân thành – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền.

Người Việt Nam được coi là một dân tộc hiếu khách. Vì thế, khi khách đến nhà thì “không gà thì vịt” và cố gắng tiếp đón làm sao để “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. Thực vậy, khi có khách đến thăm, người ta thường thăm dò ý muốn sở thích của vị khách để tiếp đãi cho chu đáo. Khách càng sang, càng cao qúy người ta càng chuẩn bị kỹ lưỡng từ trang trí nhà cửa, sân vườn đến các món ăn mà vị khách ưa thích. Cũng bởi sự hiếu khách đó, mà người Việt Nam thường tự trách mình thất lễ khi thiếu sự chuẩn bị mà khách lại đột xuất viếng thăm.

Cách đây hơn 2.000 năm người dân Palsetin cũng háo hức đón chờ một thượng khách đến viếng thăm. Một vị khách mà cả pho Cựu ước là bằng chứng sự trăn trở đợi chờ. Đó chính là Đấng Thiên Sai, Đấng Messia sẽ đến để thực hiện lời hứa cứu độ cho nhân trần. Hôm nay họ nghe Gioan rao giảng Đấng đó đã đến nhân trần. Đấng mà cha ông họ ngày đêm mong chờ mà chưa có diễm phúc gặp gỡ, nay quả là phúc đức cho họ được diện kiến Đấng Thiên sai. Họ tràn ngập niềm hân hoan. Họ chạy đến Gioan để tư vấn, xem phải làm gì để vui lòng Đấng Messia? Từ những người nông dân chất phác đầu hôm sớm mai nơi ruộng vườn đến các nhà thu thuế và quan quyền đều muốn có một động tác chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp Đấng Messia. Nhưng lạ thay, Gioan không bảo họ trang trí nhà cửa phố xá cho nguy nga lộng lẫy. Gioan không bảo họ chuẩn bị các món ăn đặc sản của dân tộc để thiết đãi Đấng Messia. Gioan đề nghị họ một cung cách sống để vui lòng Đấng Messia. Đối với đám đông dân chúng hãy biết sống chia sẻ với nhau. Hãy sống đùm bọc nhau trong tình bác ái chân thành qua việc chia sẻ cơm ăn, áo mặc. Đối với người thu thuế và người giầu có hãy sống công bình bác ái. Đừng cho vay nặng lãi. Đừng chồng chất thêm gánh nặng cho dân bằng sưu cao thuế nặng. Hãy sống bằng một trái tim nhân ái biết xót thương kẻ bần cùng lầm than. Đối với binh lính, Gioan đề nghị hãy biết thương dân, đừng hà hiếp bóc lột, đừng sống theo kiểu tham quan vô nại, hãy sống theo chức vụ của mình là để bảo vệ và gìn giữ sự an ninh cho dân làng.

Nghe lời Gioan ai nấy đều muốn thay đổi lối sống cho đẹp lòng Đấng Messia. Từng đoàn người đến sông Giordan. Trong đó có đủ mọi thành phần già trẻ, lớn bé. Quyền qúy cao sang và đói khổ bần hàn. Tất cả đều cúi mình sám hối. Tất cả đều muốn thay đổi lối sống. Sửa lại những quanh co gian trá của lòng người. Lấp đầy những hố sâu của ngăn cách bằng tình yêu chân thành. Và san bằng núi đồi kiêu căng bằng đời sống hoà hợp mến yêu. Một bầu khí thật vui tươi và an bình trải rộng khắp giòng sông Giordan. Một niềm hy vọng cho một thế giới không còn bất công, không còn hận thù chỉ còn có sự chia sẻ, cảm thông trong yêu thương chân thành. Một bầu khí hứa hẹn những ngày tháng thanh bình như lời tiên tri Isaia đã nói: “sói nằm chung với chiên con. Trẻ con thò tay vào hang rắn độc. Người ta sẽ lấy lưỡi gươm mà rèn nên lưỡi cầy và nhân loại sẽ cùng nhau hát vang tiếng hát hoà bình”.

Hôm nay, Giáo hội cũng gợi lại hình ảnh đó để nhắc nhở con người thời nay. Chúa đã đến với chúng ta hôm nay qua tha nhân, qua các bí tích. Chúa sẽ đến với chúng ta trong ngày cuối cùng của đời người dương gian, và Chúa sẽ đến trong uy nghi vinh hiển trong ngày quang lâm. Vậy có ai đó đã tự hỏi lòng mình: tôi phải làm gì để đón tiếp Chúa? Nếu chúng ta tin rằng Chúa đang hiện diện giữa chúng ta, liệu rằng chúng ta có gì để dâng cho Chúa? Có lẽ Chúa không cần chúng ta xây nhà nguy nga lộng lẫy cho Chúa. Chúa cũng không cần chúng ta trải thảm lót đường cho Chúa. Chúa chỉ cần chúng ta dâng cho Chúa tấm lòng thanh sạch không vương vấn tội nhơ. Một con tim tràn đầy tình yêu thương đồng loại. Một tấm lòng muốn sửa đổi, muốn thăng tiến bản thân cho tốt hơn, cho đúng với giáo huấn và lề luật của Chúa.

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Khi Chúa giáng sinh, muôn loài đều tới mừng Chúa. Mỗi loài đều dâng cho Chúa chút quà. Chị bò cái dâng sữa, cậu khỉ biếu Chúa mấy trái cây nhỏ, chú sóc nâu bé nhỏ tình nguyện ở lại làm đồ chơi cho Chúa. Chúa hài đồng vui vẻ nhận tất cả.

Đang lúc các thú vật quây quần bên Chúa, thì chàng cáo xuất hiện. Các con vật đều ghét cáo, vì hắn gian manh quỉ quyệt. Chúng chận không cho cáo đến gần Chúa và tự hỏi không biết cáo định âm mưu gì. Cáo nói rằng, cáo đến dâng lễ vật cho Chúa, nhưng chẳng thấy cáo mang theo lễ vật. Chúa ra hiệu cho cáo vào. Quì bên Chúa hài đồng chàng cáo thì thầm:

– Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa lòng quỷ quyệt của con!

Mọi con vật bỡ ngỡ:

– Dâng gì kỳ cục vậy?

Nhưng cáo vui cười hớn hở, còn Chúa đặt hai tay trên đầu cáo tỏ dấu ưng thuận chúc lành.

Có lẽ đó là món quà mà Chúa cần chúng ta dâng cho Chúa. Dâng lên Chúa chính tội lỗi, yếu đuối của mình. Dâng cho Chúa là hứa với Chúa từ nay sẽ thôi không theo đường cũ, quyết ăn ở ngay lành, sống công bình bác ái và thân ái với mọi người. Ước mong những ngày chuẩn bị mừng lễ giáng sinh với sự trang hoàng bên ngoài bằng hang đá, cây thông, đèn sao lấp lánh, mỗi người chúng ta cũng chuẩn bị một món quà từ tấm lòng sám hối ăn năn để từ trong sâu thẳm cõi lòng có thể rộn ràng lên câu hát “vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Amen.

 

50. Loan báo Lòng Thương Xót

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Cuộc đời thật vui khi con người sống yêu thương nhau. Tình yêu sẽ giúp người ta sáng tạo ra muôn nghìn cách để làm vui lòng nhau. Mỗi nghĩa cử yêu thương sẽ mang lại cho đời muôn vàn nụ cười của sự mãn nguyện hạnh phúc.

Có một lần đến quán cơm Nghĩa Tình ăn cơm giá 5.000đ với thợ lao động. Tôi nhìn thấy trên khuôn mặt những người nghèo là một nụ cười hạnh phúc vì được ăn ngon và no. Vì ở đây cơm được bao no với cơm thịt, cơm cá thật phong phú. Đặc biệt ở đây còn có “Ngày thứ năm hạnh phúc”. Trong ngày này tất cả các món như: phở, hủ tíu, bún bò, bún bò huế… cũng đồng giá là 1.000 đồng/1 tô và mọi người ăn bao nhiêu tùy thích.

Nếu tình cờ đi ngang qua các bệnh viện, các nơi có đông những công nhân nghèo chúng ta cũng thấy rộ lên niềm vui trên khuôn mặt những người nghèo khi nhận được những chén cháo tình thương, những bát cơm nhân ái…

Và như vậy, nếu xã hội có nhiều người thiện tâm làm việc thiện, luôn quảng đại dấn thân cho mọi hạng người cùng đinh là chúng ta đang làm cho xã hội vui lên, nhất là cho những phận người bất hạnh vui lên.

Phụng vụ Chúa nhật thứ 3 Mùa Vọng mời gọi chúng ta cùng vui lên. Vui lên vì Chúa đang hiện diện giữa chúng ta. Vui lên vì giờ hồng phúc đã đến với con người chúng ta. Và niềm vui này càng được nhân lên khi Gioan mời gọi mọi thành phần hãy làm điều gì đó tốt cho anh em. Gioan bảo đám đông dân chúng hãy làm cho xã hội vui lên qua việc thực thi bác ái một cách quảng đại với tha nhân: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Xã hội sẽ vui hơn nếu con người biết sống công bình với nhau. Cuộc đời sẽ vui hơn nếu người nghèo được quan tâm, được giúp đỡ. Xã hội sẽ hòa bình trật tự nếu mọi người biết tôn trọng phẩm giá và quyền lợi của nhau thay cho những hà hiếp, áp bức làm đau lòng nhau…

Có ai đó nói rằng: cuộc sống vốn đầy khổ đau rồi, đừng chồng chất gánh nặng lên nhau. Hãy sống làm vui lòng nhau hơn là đầy đọa nhau. Không ai lại vui khi nhìn thấy người khác khóc. Tại sao chúng ta không đối xử nhân ái với nhau thay vì cứ nói xấu, hay tìm cách loại trừ nhau? Làm đau lòng nhau đâu khiến ta vui lên?

Thế nên, điều quan yếu là hãy làm vui lòng nhau để gây tiếng cười cho nhân thế. Hãy thực thi lòng nhân ái trong Năm Lòng Thương Xót. Hãy thể hiện tình yêu một cách cụ thể chia cơm cho người đói ăn. Hãy tạo tình liên đới khi mời một gia đình nghèo hay di dân cùng ăn cơm với ta. Hãy sống khoan dung khi tha nợ cho những người bất hạnh đang gặp rủi ro, tai nạn trong làm ăn. Hãy sống tình tha thứ thay cho những đố kỵ ghen tương. Hãy xây dựng hòa bình thay cho những xung đột, hiềm khích lẫn nhau…

Đó là cách chúng ta loan báo Lòng Thương Xót Chúa cho anh em. Đó chính là lời chứng hùng hồn cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa mà chúng ta đã được hấp thụ, uốn nắn lên người loan báo tình thương.

Xin cho đời sống của chúng ta luôn mang lại niềm vui cho nhân thế qua việc bác ái, phục vụ. Xin cho lời loan báo tình thương của chúng ta luôn đi đôi với việc làm để muôn dân sẽ nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa, và cùng ca ngợi tôn vinh Thiên Chúa. Amen.

51. Thắp sáng đức tin

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Thời gian gần đây, mỗi ngày có hàng trăm cây nến được mang tới nhà thờ làm phép. Các cửa hàng bán nến xem ra “đắt như tôm tươi”. Vì người này rỉ tai người kia phải mua nến để chuẩn bị ngày “tận thế”. Người ta rỉ tai nhau “nếu không có nến được làm phép sẽ chịu cảnh tối tăm bao trùm trong ngày “tận thế”.

Có người còn xác định thật rõ ràng ngày định đoạt đó là ngày 21.12! Xem ra người ta rất sợ ngày đó. Đối với họ, đó không phải là ngày lành. Đó không phải là ngày họ chờ đợi mà là ngày họ không bao giờ muốn xảy đến trong cuộc đời của họ.

Theo niềm tin ky-tô giáo chúng ta vẫn xác tín sẽ có ngày “cánh chung” đối với con người và vũ trụ. Đó là ngày Chúa Ky-tô quang lâm để đưa vũ trụ tới thành toàn viên mãn. Nhưng đây không phải là ngày sợ hãi, mà là ngày tràn ngập niềm vui. Ngày mà muôn dân phải mong đợi. Vì trong ngày đó, Đức Ky-tô sẽ mang đến cho nhân trần niềm hạnh phúc viên mãn và trường cửu. Ngày đó con người sẽ không còn lo sợ chiến tranh, không còn lo âu vất vả, không còn những hỉ nộ ái ố. Ngày đó con người sẽ cùng nhau hát tiếng ca hoà bình. Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thiết đãi các dân tộc một bữa tiệc hiệp nhất, một bữa tiệc tràn đầy hoan lạc và bình an.

Trong ngày cánh chung của vũ trụ và cũng là ngày Đức Ky-tô quang lâm lần thứ hai, Giáo hội vẫn nhắc nhở chúng ta phải luôn cầm nến sáng trên tay. Nhưng không phải là cây nến vật chất mau tan biến mà là cây nến tâm hồn chúng ta. Cây nến của đức tin luôn toả sáng giữa thế gian. Cây nến của cuộc đời luôn tràn ngập tình yêu với tha nhân.

Như Gioan đã đề nghị người Do Thái một cung cách sống để đón chờ Đấng Messia. Giáo hội cũng mượn lời Chúa hôm nay để nhắc nhở mọi thành phần dân Chúa hãy có thái độ sẵn sàng chờ đón Chúa. Đối với tín hữu hãy biết sống chia sẻ với nhau. Hãy sống đùm bọc nhau trong tình bác ái chân thành qua việc chia sẻ cơm ăn, áo mặc. Đối với người thu thuế và người giầu có hãy sống công bình bác ái. Đừng cho vay nặng lãi. Đừng chồng chất thêm gánh nặng cho dân bằng sưu cao thuế nặng. Hãy sống bằng một trái tim nhân ái biết xót thương kẻ bần cùng lầm than. Đối với quan quân hãy biết thương dân, đừng hà hiếp bóc lột, đừng sống theo kiểu tham quan vô nại, hãy sống theo chức vụ của mình là để bảo vệ và gìn giữ sự an ninh cho dân làng.

Năm xưa dân Do Thái, nghe lời Gioan ai nấy đều muốn thay đổi lối sống cho đẹp lòng Đấng Messia. Từng đoàn người đến sông Giordan. Trong đó có đủ mọi thành phần già trẻ, lớn bé. Quyền qúy cao sang và đói khổ bần hàn. Tất cả đều cúi mình sám hối. Tất cả đều muốn thay đổi lối sống. Sửa lại những quanh co gian trá của lòng người. Lấp đầy những hố sâu của ngăn cách bằng tình yêu chân thành. Và san bằng núi đồi kiêu căng bằng đời sống hoà hợp mến yêu. Một bầu khí thật vui tươi và an bình trải rộng khắp dòng sông Giordan. Một niềm hy vọng cho một thế giới không còn bất công, không còn hận thù chỉ còn có sự chia sẻ, cảm thông trong yêu thương chân thành. Một bầu khí hứa hẹn những ngày tháng thanh bình như lời tiên tri Isaia đã nói: “sói nằm chung với chiên con. Trẻ con thò tay vào hang rắn độc. Người ta sẽ lấy lưỡi gươm mà rèn nên lưỡi cầy và nhân loại sẽ cùng nhau hát vang tiếng hát hoà bình”.

Thế nhưng, thế giới hôm qua cũng như hôm nay vẫn còn đó những bất công và hận thù, những chia rẽ, dối gian vì con người vẫn chưa dám sống theo niềm tin của mình. Họ tin Chúa, tin đạo nhưng không thực hành đạo. Đức tin của con người chỉ dừng lại nơi đầu môi chóp lưỡi nhưng không mang ra thực hành giữa cuộc đời. Đức tin của con người hôm nay đôi khi chỉ thể hiện trong nhà thờ nhưng không dám thể hiện trong thánh lễ cuộc đời.

Ước gì năm đức tin sẽ là dịp để chúng ta thể hiện đức tin của mình bằng hành động. Đức tin không dừng lại ở lời tuyên xưng nhưng thể hiện bằng cả đời sống tin cậy mến giữa cuộc đời. Ước gì ánh nến đức tin của chúng ta luôn sáng ngời, luôn được thắp sáng giữa thế gian còn đầy bóng tối của nghi nan, bóng tối của bất công và chia rẽ. Và ước gì chúng ta luôn là ngọn nến thắp sáng cho trần gian ánh sáng của tin yêu và hy vọng. Amen.

 

52. Suy niệm của McCarthy.

Suy Niệm 1. VĨ ĐẠI CỦA GIOAN TẨY GIẢ

Ngày kia, có một người thắp đèn kỳ lạ, tên là ông T. Ông là một người hoàn toàn đáng tin cậy và chính xác như một cái đồng hồ. Mỗi tối, khi trời vừa chập tối, thì các ngọn đèn dầu luôn luôn được thắp sáng lên. Bằng cách nào mà ông đoán biết được giờ giấc mà không một ai biết được, bởi vì ông không hề có đồng hồ.

Người ta thường nhìn ra cửa sổ đằng trước, khi ông đi lên đi xuống trên đường, để lại một vệt ánh sáng phía sau ông. Đối với tất cả mọi người, rõ ràng ông yêu mến công việc của mình. Ông sống chỉ vì một việc duy nhất: đốt lên những ngọn đèn. Cuộc sống của ông không phải là một cuộc sống dễ dàng, nhưng sáng rực một ý nghĩa.

Tất cả mọi người đều yêu quý ông, đặc biệt là các trẻ nhỏ. Khi bóng tối đến đe dọa kết thúc những trò chơi trên đường phố của chúng, thì ông T. đến, cùng với ngọn đèn, và chúng lại được tiếp tục chơi.

Điều gì làm cho ông T. trở nên lạ lùng đến thế? Rốt cuộc, có nhiều người yêu mến công việc của mình, và làm một cách trung thành. Tính cách vĩ đại của ông T. hệ tại ở sự kiện rằng ông bị mù lòa. Con người quá trung thành trong việc đem ánh sáng đến cho những người khác, nhưng lại không bao giờ nhìn thấy bản thân mình.

Cuối cùng, khi có đèn điện, và hiện nay, theo năm tháng, ông T. đã già yếu rồi, thì ông trở nên một người thừa. Cuộc sống của ông đột nhiên bị mất đi ý nghĩa. Ông cảm thấy mình vô dụng và không còn ai mong mỏi nữa. Thật đáng buồn. Những người đã từng quý mến ông, thì nay đã quên lãng ông. Ánh sáng mới vượt xa ánh sáng cũ quá nhiều, đến nỗi không còn ai tiếc nuối ánh sáng cũ nữa.

Ông T. nhắc nhở chúng ta về thánh Gioan Tẩy Giả. Tương tự như ông T., thánh Gioan Tẩy Giả đã làm việc cần cù, để mang đến cho mọi người ánh sáng của bản thân ngài. Ngài đã một nhân vật nổi tiếng, thống trị cả một vùng. Nhưng ngài luôn ý thức rằng có một ánh sáng vĩ đại hơn sắp đến, một ánh sáng mà bản thân ngài không được tiền định để đi vào. Khi ánh sáng đó xuất hiện qua con người của Đức Giêsu, thì ngài đứng sang một bên, để dọn đường cho Đức Giêsu. Đó là một tính cách vĩ đại.

Không một người nào đến, để làm nổi bật hoặc đạt được sự nổi tiếng cho bản thân mình. Bạn sẽ luôn luôn nhận thấy rằng ở sau hậu trường, có một người tạo điều kiện thuận lợi. Công việc của người đó là giúp đỡ, hướng dẫn và khích lệ bạn. Nói cách khác, để chuẩn bị đường cho bạn. Khi bạn đạt được sự nổi tiếng thì không ai nhìn đến người dọn đường nữa, và thường bị rơi vào quên lãng.

Để dọn đường, hoặc thậm chí chỉ để dọn phòng cho người khác, thì đòi hỏi phải có tinh thần khiêm tốn và quảng đại. Thật vậy, công việc này đòi hỏi một kiểu chết đi về bản thân mình. Khi rút lui khỏi một chức vụ cao, là chết đi một chút, thậm chí lại còn hơn cả một chút nữa. Một số người làm hư việc, khi nắm quyền lực trong một thời gian quá lâu dài.

Các bậc cha mẹ luôn dành ra những năm tháng tốt đẹp nhất cuộc đời mình, để chuẩn bị đường cho những đứa con của họ, theo ý nghĩa là mở lối cho chúng đi vào cuộc đời. Nhưng đến một thời điểm nào đó, cha mẹ phải rút lui, để con cái họ có thể tự đi trên đôi chân của chúng. Một khi đã đem cuộc sống đến cho con cái, thì cha mẹ cũng phải cho phép chúng được sống cuộc sống đó.

Tất cả chúng ta đều có khuynh hướng thích được nổi tiếng. Có lẽ một cách đầy bất ngờ, chúng ta thường thống trị người khác, và loại bỏ họ vào bóng tối. Chúng ta phải cố gắng chiếu tỏa hết khả năng của mình ra, trong khi vẫn phải cẩn thận, để không ngăn cản đường đi của người khác. Và chúng ta cũng phải ý thức về món nợ đối với người khác, đó là những người đã chuẩn bị đường cho chúng ta.

Suy Niệm 2. BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC

Một trong những chủ đề của các bài đọc hôm nay là chủ đề về hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều mong muốn có hạnh phúc. Nhưng bí quyết của hạnh phúc là gì?

Lần kia, có một người chăn chiên gửi con trai của ông đến với một người khôn ngoan, để học hỏi bí quyết của hạnh phúc. Khi tới tòa lâu đài đẹp đẽ, nơi sinh sống của con người khôn ngoan đó, người con trai đó nói với ông ta rằng anh mong muốn được biết về bí quyết của hạnh phúc. Tuy nhiên, thay vì giải nghĩa cho anh về bí quyết này, con người khôn ngoan đó lại đưa cho anh một cái muỗng chứa đầy dầu, nói rằng: “Con hãy nhìn khắp chung quanh tòa lâu đài. Trong đi vòng quanh, con hãy mang theo cái muỗng này, mà không được làm chảy dầu ra”.

Anh thanh niên bắt đầu đi vòng quanh tòa lâu đài. Trong khi đi, anh liên tục nhìn vào cái muỗng. Sau hai giờ, anh trở lại căn phòng, nơi có nhân vật khôn ngoan đó.

Người khôn ngoan hỏi “Tốt, thế con nhìn thấy cái gì?”.

Anh thanh niên tỏ ra bối rối, và thú nhận rằng anh không hề nhìn thấy gì cả. Mối quan tâm duy nhất của anh là không làm chảy dầu ra, theo như người khôn ngoan đã tin tưởng vào anh. Người khôn ngoan nói: “Vậy thì con hãy đi trở lại, và quan sát những quang cảnh tuyệt vời trong thế giới của ta. Con không thể tin tưởng vào một người nào, nếu con không biết gì về ngôi nhà của người đó”.

Trong tâm trạng khuây khỏa, anh thanh niên cầm lấy cái muỗng, và trở lại với công việc đi khám phá tòa lâu đài, lần này, anh quan sát tất cả những đồ đạc đẹp đẽ và những tác phẩm nghệ thuật trang trí các căn phòng của tòa lâu đài. Sau đó, anh thăm viếng khu vườn, với vòi nước nguy nga, những bông hoa và những bụi cây xinh đẹp, thưởng thức thị hiếu thẩm mỹ mà tất cả mọi đồ vật được bố trí theo đó. Khi trở về với nhân vật khôn ngoan, anh tường thuật lại từng chi tiết mọi thứ anh đã nhìn thấy.

Người khôn ngoan hỏi: “Nhưng những giọt dầu mà ta đã tin tưởng giao phó cho con đâu rồi?”. Anh thanh niên nhìn xuống cái muỗng, và nhận thấy không còn chút dầu nào cả.

Người khôn ngoan nói “À, ta chỉ có thể cho con một lời khuyên mà thôi: Bí quyết của hạnh phúc hệ tại ở khả năng nhìn thấy tất cả những điều tuyệt vời của thế giới, không bao giờ quên lãng những giọt dầu trong cái muỗng”.

Ngay tức khắc, anh thanh niên hiểu được điều mà nhân vật khôn ngoan đang nói. Người chăn chiên có thể ưa thích đi đây đi đó, nhưng người đó không bao giờ được quên đàn chiên của mình. Bí quyết của hạnh phúc bao gồm sự trung thành với những lời cam kết của mình và có tinh thần trách nhiệm, trong khi đồng thời vẫn thưởng thức được hương vị cuộc sống. Thật dễ dàng có hạnh phúc, khi chúng ta đang làm công việc mà mình mong muốn. Nhưng để tìm thấy hạnh phúc trong những công việc mà chúng ta phải làm, chứ không đơn giản là trong công việc mà chúng ta muốn làm, thì đây là một ân sủng của Thiên Chúa.

Hạnh phúc không phải là một cảm giác tự mãn nông cạn. Chúng ta không thể có hạnh phúc, nếu những công việc chúng ta làm đều khác hẳn so với những điều chúng ta tin tưởng. Và không thể có hạnh phúc, mà không có tình yêu. Khi chúng ta khước từ tình yêu, thì một cảm giác buồn phiền sẽ thấm nhập vào tâm hồn chúng ta.

Chúng ta cũng không được đánh giá sự vui mừng và lạc thú ngang hàng với nhau. Lạc thú thuộc về cơ thể, còn sự vui mừng thuộc về tinh thần. Bạn có thể nhanh chóng ngán ngẩm lạc thú, nhưng bạn không bao giờ chán ngán niềm vui.

Cuối cùng, chỉ duy nhất một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng được trọn vẹn những giấc mơ của chúng ta. Sự hiện diện của Thiên Chúa chính là nguyên nhân đưa đến niềm vui cho chúng ta. Ngôn sứ Isaia đã nói với dân chúng “Anh em hãy vui mừng lên”. Nguyên nhân của niềm vui đó là gì? Bởi vì “Thiên Chúa đang ở giữa anh em”. Và thánh Phaolô cũng nói với dân thành Philipphê: “Tôi mong muốn cho anh em được hạnh phúc”. Tại sao vậy? Bởi vì “Chúa rất gần rồi”. Niềm vui mà thế gian này không thể nào mang lại được, chính là niềm vui phát xuất từ ý nghĩ về Thiên Chúa và tình yêu của Người đối với chúng ta.

 

53. “Làm” – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Làm! Một động từ rất ngắn gọn: chỉ có một tiếng, nhưng lại là một con đường dài, khởi đi từ suy nghĩ đến cái miệng hoặc cái tai rồi mới đến bàn tay. Làm! Một động từ mà bản thân nó chẳng nói lên điều gì tốt hay xấu. Nhưng khi nó trượt hết con đường dài đến được bàn tay, thì kết quả của nó có thể là hoa trái của tình yêu, nhưng cũng có thể gây ra không biết bao nhiêu hận thù, chết chóc. Làm! Đơn giản là thế, nhưng cũng phức tạp không ít. Vì chỉ một hành vi nào đó, có khi thể hiện ra bên ngoài là một nghĩa cử rất yêu thương, lại ẩn chứa bên trong nó là một thái độ mua chuộc, mưu lợi, tệ hơn: trả thù. Có khi nó là một sự che đậy giả tâm của một ai đó.

Những năm qua, khi mà nhân loại còn đang bắt đầu thời gian khai mạc ngàn năm thứ ba, cứ tưởng rằng, với mọi nỗ lực đi đến hòa bình của bao nhiêu tâm hồn thiện chí, sẽ mang lại bình an cho thế giới. Nào ngờ, hòa bình trên thế giới vẫn bị đe dọa và thách thức từng ngà