Love Is Our Mission

The family Fully Alive

 

GIA ĐÌNH SỐNG TRỌN VẸN

SỨ VỤ TÌNH YÊU

 

Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ

Tài liệu giáo lý chuẩn bị

Đại Hội Gia Đình Thế Giới

Tài liệu giáo lý chuẩn bị

Đại Hội Gia Đình Thế Giới

Philadelphia, 2015

 

 

 

 

Gia Đình Sống Trọn Vẹn

SỨ VỤ TÌNH YÊU

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu tập giáo lý về đời sống gia đình này, được soạn thảo do Tổng Giáo Phận Philadelphia và Hội Đồng Giáo Hoàng Về Gia Đình, trong việc chuẩn bị cho Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ 8 sẽ được tổ chức tại Philadelphia từ ngày 22 đến 27 tháng 9 năm 2015.

 

Tài liệu giáo lý này giải thích tổng quát giáo huấn của Giáo Hội về tính dục, hôn nhân, và gia đình bắt nguồn từ niềm tin căn bản về Chúa Giêsu. Những giáo lý này giới thiệu một tường thuật ban đầu với việc tạo dựng của chúng ta, ghi chú một cách mờ nhạt về sự sa ngã của chúng ta và những thách đố chúng ta đối diện, nhưng nhấn mạnh đến dự án cứu độ của Thiên Chúa. Tình yêu là sứ vụ của chúng ta, và vì yêu Chúa và tha nhân mà chúng ta sẽ sống một đời sống trọn vẹn.

 

Công Đồng Vaticanô II dậy rằng mỗi một gia đình là một “Giáo Hội tại gia”, một tế bào nhỏ bé của Giáo Hội hoàn vũ rộng lớn. Tập giáo lý này nhằm giải thích ý nghĩa lời dậy đó là gì. Chúng tôi khuyến khích mọi người học hỏi giáo lý này, thảo luận với nhau, một cách đặc biệt trong các giáo xứ, và cầu xin để làm cách nào Giáo Hội có thể phục vụ các gia đình, và các gia đình có thể phục vụ Giáo Hội. Giáo Hội và Gia Đình tùy thuộc song phương vào nhau.

 

Trong tập giáo lý này, chúng tôi sẽ cố gắng giới thiệu giáo huấn Giáo Hội bằng một cách thế mới mẻ, ý nghĩa, và dễ hiểu cho các giáo hữu đương thời và những tâm hồn thiện chí. Qua một chú giải, Thánh Augustine đã viết trong tác phẩm Tự Thú của ngài, Thiên Chúa mãi mãi cổ xưa, mãi mãi mới mẻ. Chúng tôi hy vọng rằng tài liệu giáo lý mới này xác định với các bạn giáo huấn sáng sủa và dễ hiểu của Giáo Hội, một giáo huấn tuyệt vời và khôn ngoan đáng kính, và là nguồn chân thật cho việc đổi mới mọi thời đại, bao gồm thời đại của chúng ta.

 

Chúng tôi mong được đón tiếp mọi người từ muôn phương sẽ đổ về Philadelphia. Để chuẩn bị cho biến cố này, chúng tôi van xin lời chuyển cầu của Đức Maria, Thánh Giuse, cha mẹ của Gia Đình Thánh Gia và là quan thầy của mọi gia đình.

 

Tổng Giám Mục Charles J. Chaput, O.F.M. Cap.

Tổng Giám Mục Tổng Giáo phận Philadelphia

 

Tổng Giám Mục Vincenzo Paglia

Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình

 

 

 

Gia Đình Sống Trọn Vẹn

SỨ VỤ TÌNH YÊU

 

 

TÓM LƯỢC TÀI LIỆU

 

 

Giáo Hội tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và Ngài yêu thương chúng ta. Chúng tôi xác tín điều này vì chúng tatừng kinh nghiệm với những khó khăn và đã tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô. Niềm tin này có khả năng thiết lập mối giao hảo trong dự án của Thiên Chúa cho mọi thụ tạo được mặc khải và tiết lộ. Tin tưởng vào dự án này, chúng tôi có thể công bố rằng mỗi cá nhân và chung nhân loại đều được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng tôi tin rằng Thiên Chúa tạo dựng chúng ta với một mục đích và cho một sứ vụ.

 

 

Chúng tôi tin rằng trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa trở thành con người. Chúng tôi tin rằng trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa mời gọi và thu phục toàn thể thế giới để biết Ngài, và sống như dân giao ước của Ngài trong Giáo Hội. Chúng tôi tin rằng tình yêu Thiên Chúa được hiện hữu và tỏa sáng trong giao ước này, nó mặc khải rằng Thiên Chúa trung tín cho đến chết mặc dù chúng ta phản bội và tội lỗi. Chúng tôi tin rằng Chúa Giêsu đã chịu nhục hình, chịu chết, và đã sống lại từ cõi chết, tuyên xưng quyền năng và sự thành tín của Thiên Chúa, cho chúng ta sự tin tưởng rằng đường lối của Ngài là chân thật. Chúng tôi xác tín rằng như dân giao ước của Ngài, Chúa Giêsu giờ đây đang hiện diện một cách bí tích với chúng ta, và rằng cuối cùng chúng ta sẽ thông phần chiến thắng của Ngài và hiệp thông với Ngài trên thiên đàng.

 

Được hỗ trợ bởi Chúa Thánh Thần và các bí tích trong Giáo Hội, chúng ta tìm kiếm sự hiệp thông mà Chúa Giêsu đã hứa, đó là vận mạng của chúng ta. Chúng tôi tin rằng mọi khía cạnh đời sống chúng ta - bao gồm sinh lý, sinh sản, và đời sống gia đình - là một phần trong sứ vụ để sống và để yêu như Chúa Giêsu đã dậy.

 

Chúng tôi tin rằng Bí Tích Hôn Phối, là qùa tặng xuất phát từ giao ước của Ngài đã được Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Trong giao ước hôn nhân, người vợ và người chồng sống với nhau trong ánh sáng giao ước đã được thiết lập giữa Thiên Chúa và Israel, giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Chúng tôi tin rằng hôn nhân là hạt giống của gia đình, là phân tử của giáo hội tại gia, và là phần tử căn bản của Giáo Hội hoàn vũ rộng lớn hơn.

 

Chúng tôi ý thức rằng chúng ta đã sa ngã, và trong mọi cách thức của đau khổ, cám dỗ, và tội lỗi có thể kéo chúng ta xuống và ngăn cản chúng ta không trở thành những người mà chúng ta được tạo dựng. Nhưng chúng tôi tin rằng dù bất cứ thử thách nào chúng ta đối diện hoặc bất cứ hình phạt nào chúng ta gây ra cho chính mình và những người khác, Thiên Chúa vẫn trung thành. Lòng thương xót, cuộc khổ nạn, và phục sinh của Ngài là dấu chứng rõ ràng rằng Ngài sẽ không lìa xa giao ước của Ngài. Thiên Chúa đã minh chứng rằng Ngài mạnh mẽ hơn tất cả mọi tội lỗi của chúng ta, và Ngài là đã chiến thắng tội lỗi. Trong cuộc sống chúng ta với nhau, qua sự hiện diện của Chúa Giêsu và của Chúa Thánh Thần ở giữa chúng ta, chúng tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ mang lại hoa trái của công việc mà Ngài đã khởi sự trong chúng ta. Trong niềm hy vọng khi Chúa Giêsu xuất hiện và thiết lập hoàn toàn vương quốc Ngài trên dương thế, chúng tôi tin rằng sứ vụ của chúng ta là làm chứng nhân cho những gì Ngài đã làm và đang làm. Chúng tôi tin rằng sứ vụ của chúng ta là yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như Ngài đã dậy chúng ta.

 

Chúng tôi tin rằng sứ vụ chúng ta là tình yêu, và rằng sứ vụ này là con đường duy nhất chúng ta có thể sống trọn vẹn, và trở thành những người mà chúng ta đã được tạo dựng. Chúng tôi tin rằng tình yêu này cần được dậy dỗ, chia sẻ, và hiệp thông trongvà qua gia đình, giáo hội tại gia. Chúng tôi tin rằng gia đình chia sẻ sứ mạng chung của cả Hội Thánh, và chúng tôi muốn dùng tập giáo lý này để giải thích viễn tượng của tình yêu chi tiết hơn.

 

 

 

MỤC LỤC

 

Thánh Irenaeus, Thánh Giáo Phụ đầu tiên của Giáo Hội đã nói một cách thời danh rằng “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống một cách trọn vẹn”. Giống thế, vinh quang của người nam và người nữ là khả năng yêu như Thiên Chúa yêu. Đời sống gia đình là một lời mời gọi để thể hiện tình yêu này trong suốt mọi ngày trong cuộc sống.

 

Những gì người Công Giáo tin về mục đích con người, hôn nhân, và gia đình - đó là nội dung của tài liệu giáo lý sau đây được soạn thảo cho Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2015 tại Philadelphia. Tài liệu này bao gồm 10 bước hoặc 10 chương:

 

 

I.  Được tạo dựng để Vui Mừng…………………………………………………..

Chúng ta còn hơn một sự ngẫu nhiên của tiến hóa. Chúng ta cao cả hơn tổng hợp sinh vật học của chúng ta. Thiên Chúa hiện hữu. Ngài tốt lành. Ngài yêu thương chúng ta. Ngài tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Ngài để chia sẻ niềm vui của Ngài. Ngài dùng cánh tay hành động trong đời sống chúng ta. Ngài sai người Con duy nhất để tái lập lại tước vị của chúng ta và hướng dẫn chúng ta về nhà với Ngài.

 

II. Sứ vụ Tình Yêu………………………………………………………………

Thiên Chúa hành động qua chúng ta. Chúng ta có một sứ vụ. Chúng ta sống trên đời vì một mục đích. -- để đón nhận tình yêu Thiên Chúa và để chỉ cho người khác thấy tình yêu của Ngài. Thiên Chúa tìm kiếm để chữa lành vũ trụ vỡ nát. Ngài mời gọi chúng ta trở nên những nhân chứng cho Ngài và những phụ tá của Ngài trong sứ mạng này.

  III. Ý nghĩa của Tính Dục……………………………………………………….

Thế giới hiển nhiên, bụi đất, vật chất, hơn kém chỉ là chất liệu hoặc đất sét tạo hình cho ý muốn con người. Công việc tạo dựng là thánh thiện. Nó mang ý nghĩa bí tích. Nó phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa. Điều này bao gồm cả thân xác chúng ta. Tính dục của chúng ta có một sức mạnh để truyền sinh và chia sẻ phẩm tính được tạo dựng mang hình ảnh Thiên Chúa. Chúng ta cần sống với ý nghĩa này.

IV. Hai trở nên Một…………………………………………………………………

Chúng ta không được tạo dựng để sống cô đơn. Con người cần và bổ túc cho nhau. Tình bạn và cộng đồng thỏa đáng ước muốn với những ràng buộc trong sự quan tâm và tình yêu chung. Hôn nhân là một mô phỏng cá biệt hình thức tình bạn trong đó nó mời gọi một người nam và một người nữ yêu nhau trong cách thức giao ước của Thiên Chúa. Hôn nhân là một bí tích. Tình yêu hôn nhân là hoa trái và được dâng hiến một cách hoàn toàn. Tình yêu này có trong hình ảnh của sự trung tín của Chúa Giêsu đối với Giáo Hội.

V. Tạo dựng Tương Lai……………………………………………………………….. 

Hôn nhân có nghĩa là sinh sản và đón tiếp một đời sống mới. Trẻ em hình thành tương lai, cũng như các em được hình thành trong gia đình của chúng. Không có trẻ em sẽ không có tương lai. Trẻ em được nuôi dậy bằng tình yêu và hướng dẫn sẽ là nền tảng cho một tương lại yêu thương. Trẻ em bị thương tích báo trước một tương lai thương tích. Các gia đình là nền đá kiên cố cho tất cả những cộng đồng rộng lớn hơn. Các gia đình là những giáo hội tại gia, là nơi ở đó cha mẹ dậy dỗ con cái khám phá ra rằng Thiên Chúa yêu thương chúng và có một chương trình cho đời sống mỗi em.

 

VI. Tất cả tình yêu mang lại Hoa Trái…………………………………………………..

Không phải mọi người được kêu gọi để kết hôn. Nhưng mọi cuộc sống đều mang ý nghĩa sản sinh. Mỗi cuộc sống có một sức mạnh và nhu cầu để phát sinh một sự sống mới -- nếu không qua việc sinh sản con cái, thì cũng qua những hình thức sống động khác của việc cho đi chính mình, xây dựng, và phục vụ. Giáo hội là một đại gia đình bao gồm những ơn gọi khác nhau, mỗi ơn gọi đều khác nhau, nhưng cần thiết và hỗ trợ nhau. Ơn gọi linh mục, đời thánh hiến, và ơn gọi giáo dân độc thân làm phong phú, và được phong phú bởi chứng từ của đời sống hôn nhân. Những cách thức thanh tịnh khác nhau và cử độc thân ngoài hôn nhân là những hình thức dâng hiến cuộc đời cho việc phục vụ Thiên Chúa và cộng đồng nhân loại.

VII. Ánh sáng trong một Thế Giới Tối Tăm……………………………………………… 

Ở một nghĩa tốt nhất của nó, gia đình là một học đường của tình yêu, công bằng, thương xót, tha thứ, tương kính, nhẫn nại, và khiêm tốn giữa một thế giới tối tăm bởi ích kỷ và bất hòa. Trong những trường hợp ấy, gia đình dậy cho biết ý nghĩa nhân bản là gì. Tuy nhiên, nhiều cám dỗ nổi lên trong đó cố tình dụ dỗ chúng ta quên đi rằng người nam và người nữ được tạo dựng cho một giao ước và hiệp nhất. Thí dụ, nghèo đói, giầu có, hình ảnh khiêu dâm, ngừa thai, những triết lý và hiểu biết sai lầm có thể dẫn tới việc tạo nên một nhận thức thách đố hoặc đe dọa đời sống gia đình lành mạnh. Giáo Hội chống lại những sai lầm này nhân danh việc bảo vệ các gia đình.

VIII. Một mái âm cho Trái Tim Bị Thương Tích…………………………………………

Nhiều người, đặc biệt hôm nay, đối diện với những tình trạng đau khổ do nghèo đói, bất lực, bệnh tật và nghiện ngập, thất nghiệp, và cô đơn của tuổi già. Nhưng ly dị và sự thu hút đồng tính ảnh hưởng đời sống gia đình một cách đặc biệt. Gia đình công giáo và hệ thống gia đình sẽ là nguồn xót thương, an toàn, thân thiện, và nâng đỡ đối với những ai đang phải chiến đấu với những vấn nạn này.

IX. Mẹ và Thầy, Gia Đình: Đặc Tính và Vai Trò của Giáo Hội………………

Giáo Hội có những hình thức tổ chức bởi vì Giáo Hội phải hoạt động trong thế giới. Nhưng điều này không ảnh hưởng đến căn tính của Giáo Hội. Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Kitô, một “nhân vị” không phải là một “vật thể.”Trong những từ ngữ của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, Giáo Hội là mẹ và là thầy của chúng ta, là người ủi an, hướng dẫn đức tin của gia đình chúng ta. Ngay cả khi những phần tử và những người hướng dẫn của Giáo Hội phạm lỗi, chúng ta vẫn cần đến sự khôn ngoan của Giáo Hội, những bí tích, nâng đỡ và sự công bố chân lý, bởi vì Giáo Hội là thân thể của Chúa Giêsu trên thế giới -- tài liệu phong phú của gia đình dân Chúa.

 

X. Chọn lựa Đời Sống……………………………………………………………………….   

 

Thiên Chúa tạo nên chúng ta với một lý do. Tình yêu của Ngài là sứ vụ đời sống chúng   ta. Sứ vụ này có thể giúp chúng ta tìm ra căn tính đích thực của mình. Nếu chúng ta chọn mang lấy sứ vụ này, chúng ta sẽ có một viễn ảnh mới về nhiều vấn đề, không chỉ riêng gia đình. Để sống sứ vụ giáo hội tại gia cũng có nghĩa là những gia đình Công Giáo sẽ phải đôi khi sống như những thành phần thiểu số, với những giá trị khác nhau khác với nền văn hóa bao quanh chúng ta. Sứ vụ tình yêu của chúng ta sẽ đòi hỏi sự can đảm và chấp nhận hy sinh. Chúa Giêsu đang mời gọi, và chúng ta có thể đáp trả, chọn lựa sống đức tin, đức cậy, đức ái, vui mừng, phục vụ, và sứ vụ.

 

Kinh cầu cho Đại Hội Gia Đình Thế Giới tại Philadelphia………………………..……....       

 

Những viết tắt được dùng trong tài liệu……………………………………………………..     

       

Những ghi chú cuối……………………………………………………………………………

 

 

Con người không thể sống mà không có tình yêu. Nó tồn tại là một cá thể mà nó không thể thấu hiểu chính nó, cuộc đời nó vô nghĩa, nếu tình yêu không được mặc khải cho nó, nếu nó không gặp được tình yêu, nếu nó không cảm nghiệm được tình yêu và làm cho tình yêu trở nên của riêng nó, nếu nó không tham dự một cách tha thiết trong đó. Điều này, như đã được nói tới, là tại sao Chúa Kitô Đấng Cứu Độ “mặc khải một cách trọn vẹn con người cho chính mình”. Nếu chúng ta có thể dùng cách diễn giải, thì đó là kích thước con người của mầu nhiệm Cứu Độ. Trong tầm kích này, một lần nữa con người tìm ra sự cao cả, phẩm giá, và giá trị thuộc về nhân tính của nó.

 

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần,10

4 tháng 3 năm 1979 

 

Chúng ta sẽ suy nghĩ một cách đặc biệt về gia đình, một tế bào căn bản của xã hội. Từ nguyên thủy Thượng Đế đã chúc phúc cho người nam và người nữ nhờ đó họ có thể sinh hoa trái và sinh sôi nẩy nở, và vì thế gia đình chính là một hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi trên thế giới.

Những suy nghĩ của chúng ta phải đem về trước chúng ta vẻ đẹp của gia đình và hôn nhân, sự cao cả của thực tại con người mà nó vừa đơn giản, nhưng cũng rất phong phú, bao gồm những vui mừng và hy vọng, những phấn đấu và đau khổ, như là toàn bộ cuộc sống. Chúng ta sẽ tìm kiếm chiều sâu thần học của gia đình, và nhận ra những thực hành mục vụ mà tình trạng hiện nay của chúng ta đã đòi hỏi. Chớ gì chúng ta hành động một cách ân cần và không rơi vào “chiếu lệ”, bởi vì điều này sẽ giảm giá trị một cách không tránh khỏi phẩm chất công việc của chúng ta. Ngày nay, gia đình bị coi thường và đối xử tồi tệ. Chúng ta được kêu gọi để nhận thức vẻ đẹp, sự thật, và tốt lành thế nào được bắt đầu từ một gia đình, là một gia đình ngày nay; và gia đình cần thiết như thế nào cho đời sống thế giới và cho tương lai nhân loại. Chúng ta được kêu gọi để tỏ bày dự án tuyệt vời của Thiên Chúa cho gia đình và giúp người phối ngẫu kinh nghiệm một cách vui mừng dự án này trong cuộc đời của họ, trong khi chúng ta đồng hành với họ chấp nhận những thử thách.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Remarks to the Extraordinary Consistory of Cardinals

  • tháng 2 năm 2014

 

 

I. ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ VUI MỪNG

 

 

 

Chúng ta còn hơn một sự ngẫu nhiên của tiến hóa.Chúng ta cao cả hơn tổng hợp sinh vật học của chúng ta.Thiên Chúa hiện hữu.Ngài tốt lành.Ngài yêu thương chúng ta. Ngài tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Ngài để chia sẻ niềm vui của Ngài. Ngài dùng cánh tay hành động trong đời sống chúng ta. Ngài sai người Con duy nhất để tái lập lại tước vị của chúng ta và hướng dẫn chúng ta về nhà với Ngài.

 

Một chương trình cho sự sống và tình yêu nâng đỡ chúng ta

1. Giáo Huấn Công Giáo về hôn nhân và gia đình bắt nguồn từ tâm điểm của đức tin chúng ta. Vì lý do này, chúng ta có thể khởi đầu bằng cách nhìn lại câu chuyện căn bản của Giáo Hội. Thiên Chúa chúng ta không thể không tới gần và xa cách; chúng ta tin rằng Thiên Chúa mặc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu là nguồn mạch cho hy vọng, niềm tin, tình yêu, và vui mừng là những gì đem lại sinh khí đời sống gia đình Công Giáo. Ngài là lý do chúng ta có thể tin vào sự khôn ngoan của niềm tin Công Giáo. Tất cả những gì chúng tôi trình bày trong cuốn giáo lý này xuất phát từ chính Chúa Giêsu.1

 

2. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô gần đây đã nói về đời gia đình, “Đoan hứa tình yêu chung thủy là điều có thể khi chúng ta nhận ra một dự án lớn lao hơn những gì chúng ta nghĩ và những gì chúng ta chịu đựng, một dự án mà nó nâng đỡ chúng ta và cho chúng ta có thể trao phó hoàn toàn tương lai chúng ta cho người mình yêu.” 2Nhưng chúng ta sống trong một thời điểm của chủ thuyết khoa học hoài nghi (skepticism) một cách thế tục xâu xa về bất cứ “dự án to lớn hơn” hoặc mang ý nghĩa cao cả hơn nào đối với kinh nghiệm con người. Đối với nhiều người, con người tự nhiên nhỏ bé hơn một sựtiến hóa ngẫu nhiên, những nguyên tử carbon với một dáng dấp bên ngoài. Một cách khác, đối với nhiều người, chúng ta không có mục đích cao hơn những gì chúng ta tạo nên cho chính mình.

 

3. Trong một kỷ nguyên của kỹ thuật tiến bộ và phồn thịnh vật chất, hình thức lý lẽ không có Thiên Chúa này có thể được xem là chính đáng. Những kết cục của nó, chỉ là một viễn ảnh quá nhỏ bé về con người đàn ông cũng như đàn bà mà chúng ta là. Nó làm giảm giá trị phẩm giá con người. Nó để lại một cơn đói cho những tâm hồn đang đói khát. Nó không phải là thật.

 

4. Thực ra, chúng ta thao thức về ý nghĩa. Tìm kiếm mục đích, là một kinh nghiệm của mọi người.Vì vậy, con người luôn luôn hỏi câu hỏi căn bản giống như: “Tôi là ai?”, “Tại sao tôi có mặt ở đây?”, “Tôi phải sống như thế nào?” Đức tin Kitô Giáo nhập vào Miền Địa Trung Hải cổ xưa, hòa trộn với văn hóa Hy Lạp, Rôma, Do Thái, và những nền văn hóa khác. Nó là một thế giới ở đó có nhiều câu trả lời khác nhau đối với những câu hỏi căn bản về cuộc sống để tranh dành ưu thế.

 

5. Tình trạng của chúng ta ngày nay cũng tương tự. Như trong thế giới cổ đại, những nền văn hóa hôm nay chồng chéo, và hòa nhập với nhau. Do đó mà bây giờ, những triết lý về đời sống tranh dành, đưa ra những viễn ảnh khác nhau của cái gì làm cho đời sống trở nên tốt. Cùng một lúc, đau khổ và nghèo đói cũng vậy, và cả đến chủ thuyết ngờ vực - nơi một số nền văn hóa - tới bất cứ tôn giáo hoặc triết lý nào nói là đưa ra sự nối kết và hiểu biết chân lý.

 

6. Với quá nhiều những câu trả lời trái ngược, thời đại của chúng ta là thời đại nghi hoặc, mập mờ. Nhiều người ngày nay thật lòng tìm kiếm ý nghĩa của nó, nhưng không biết ai để tin tưởng hoặc ở đâu để ký thác cuộc sống của họ.

 

 7. Nhận thức bất ổn này, Kitô hữu là những người tin vào Chúa Giêsu Kitô.3  Mặc dù có những mập mờ về lịch sử con người, đường lối hy vọng và vui mừng, yêu thương và phục vụ của Công Giáo đặt nền móng trên sự gặp gỡ với Chúa Giêsu. Như Thánh Gioan Phaolô II đã công bố trong thông điệp đầu tiên của ngài: “Trong lịch sử con người, mặc khải tình yêu và lòng thương xót đã mặc lấy hình dạng và một tên gọi: đó là Giêsu Kitô.”4Tất cả những gì theo sau đó, Chúa Giêsu Kitô là căn bản của đức tin Kitô giáo. 5

 

 

Chúa Giêsu mặc khải Thiên Chúa, và dự án bắt đầu được khai mở

 

 8. Trong Thánh Kinh, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ của Ngài: “Các con gọi Ta là ai?” (Mt 16:13-20). Lịch sử nhân loại trải qua 2000 năm đã khai mở câu trả lời. Các Kitô hữu là những người, đã từng gặp gỡ Chúa Giêsu bằng nhiều cách thế - qua những chứng từ của các thánh và các tông đồ, qua Kinh Thánh, và các bí tích, trong lời cầu nguyện và việc phục vụ những người nghèo khổ, trong thờ phượng và qua các bạn bạn hữu và gia đình - đã có thể tin vào Chúa Giêsu, và người mà Thánh Phêrô đã nói: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16:16, NRSV).

 

9. Giữa nhiều việc Ngài đã làm trên trái đất, Chúa Giêsu đã đau khổvà điều này đã được lưu lại trong tình yêu; Chúa Giêsu đã bị đóng đinh do bàn tay con người và đã sống lại chiến thắng trên sự chết. Bởi vì chính Thiên Chúa đã chịu những đau khổ này, các Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa không xa cách thân phận con người. Chúng ta không tin ở một vị chúa kỳ cục, hoặc một thần minh tranh dành với con người. Thiên Chúa trong Người chúng ta tin tưởng muốn chúng ta phát triển. Nhờ Chúa Giêsu Kitô, những người Công Giáo có được niềm tự tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô đã diễn tả trong thông điệp thứ nhất của ngài:

 

            Với những ai đang đau khổ, Thiên Chúa không đưa ra những cuộc tranh luận để giải thích mọi sự; hơn thế, lời Ngài đáp trả chính là sự đồng hành hiện tại, một lịch sử của sự thiện mà nó đã động chạm đến những mẩu chuyện đau thương và mở ra một luồng sáng. Trong Chúa Kitô, tự mình, Thiên Chúa ước muốn được chia sẻ con đường này với chúng ta và cho chúng ta cái nhìn của Ngài để chúng ta có thể nhìn thấy ánh sáng trong đó. Chúa Kitô là Đấng nhẫn nại trong đau khổ, là Đấng “tiên phong và tuyệt vời của đức tin chúng ta”. 6

 

 

10. Một nghĩa nào đó, tất cả nền thần học Kitô giáo là chú giải những gì để nói rằng Thiên Chúa trở thành con người, đã chết, và đã sống lại. Thiên Chúa hiện diện trong xác thân con người trong Chúa Giêsu có nghĩa rằng Đấng Tạo Hóa tuyệt vời của thế giới thì cũng là người Cha gần gũi, thân mật, một cách hoàn toàn dễ cảm của chúng ta. Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ luôn luôn là một mầu nhiệm vô tận, và cũng một Thiên Chúa đó đã trở thành một con người đặc biệt trong một thời gian đặc biệt và nơi chốn cá biệt.Thiên Chúa đã trở nên yếu đuối như một trẻ thơ trong máng cỏ hoặc một người trên thập giá. Chúa Giêsu đã giảng dậy và nói năng, đã cười và khóc; cuộc sống của Ngài, cái chết của Ngài, và sự phục sinh của Ngài có nghĩa là trong khi Thiên Chúa một cách hoàn toàn lạ lùng, khó lòng giải thích và thấu triệt, Ngài không khó lòng để hiểu. Đó là Chúa Giêsu, Đấng mà chúng ta có thể nói về Thiên Chúa và sự thật thần linh với niềm xác tín.

 

11. Chúa Giêsu đã nói về Ngài như Con của Chúa Cha, và với Cha Ngài, đã sai Chúa Thánh Thần ở với dân Ngài. Nhờ đó chúng ta học nơi Ngài rằng bản tính của Thiên Chúa là sự hiệp nhất nội tại của ba ngôi vị thần linh. Cha, Con và Thánh Thần. Qua bí tích thánh tẩy để gia nhập Giáo Hội Ngài, Chúa Giêsu mời gọi mọi người trở nên phần tử giao ước của Thiên Chúa và phần tử của sự hiệp nhất thần linh. Lịch sử của Israel, và sau này của Giáo Hội, là một lịch sử với ý nghĩa ý toàn cầu, vì nó là một dấu hiệu để sống như dân Chúa và tham dự trong sự hiệp thông thần linh.

 

 

Chúa Giêsu mặc khải căn tính và định mệnh con người

 

12. Chúa Giêsu mặc khải Thiên Chúa là ai, bao gồm Chúa yêu thương chúng ta và đến với chúng ta. Nhưng Chúa Giêsu cũng mặc khải con người là gì. Công Đồng Vaticanô II trình bày về Chúa Giêsu như “Lời” của Thiên Chúa, dậy rằng “Sự thật là chỉ có mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể đem lại ánh sáng cho mầu nhiệm con người.” 7Trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta học những sự thật về chính chúng ta, những điều mà chúng ta đã không thể phát minh, và những điều mà chúng ta nếu không cũng chẳng thể hiểu được.Như Thánh Kinh đã ghi nhận, “sự sống anhem được ẩn dấu với Chúa Kitô.” (Col 3:3, NRSV). Người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa quá yêu thế gian (Jn 3:16), rằng không để chúng ta trong nghi ngờ, Thiên Chúa đã mặc xác phàm để tỏ ra Thiên Chúa là ai và chúng ta là ai. Công Đồng Vaticanô II giải thích:

 

Lý do chính về phẩm chức con người nằm trong ơn gọi con người để hiệp thông với Thiên Chúa. Từ tình trạng rất nguyên thủy của nó, con người đã được mời gọi để quay về với Thiên Chúa. Vì con người sẽ không tồn tại nếu nó không được tạo dựng bởi tình yêu Thiên Chúa và một cách không ngừng được giữ gìn; và nó không thể sống một cách trọn vẹn theo chân lý ngoại trừ nó nhận biết một cách tự do để yêu mến và tận hiến chính mình cho Đấng Tạo Hóa của nó. 8

 

Như Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã huấn dụ trong Đại Hội Gia Đình Thế Giới ở Milan năm 2012, “Chính tình yêu đã làm cho con người tự nhiên trở nên hình ảnh xác thật của Ba Ngôi Chí Thánh, hình ảnh của Thiên Chúa.”9

 

 

13. Cụm từ “hình ảnh của Thiên Chúa” xuất phát từ sách Khởi Nguyên (Gen 1:26-27, 5:1, và 9:6).  Điều này gợi ý rằng mỗi một cá nhân rất quí giá với sự cá biệt và phẩm giá không thể coi thường. Chúng ta có thể lạm dụng hoặc lợi dụng người khác hay chính mình, nhưng chúng ta không loại trừ sự thật về việc Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta như thế nào. Phẩm cách căn bản của chúng ta không căn cứ trên những sa ngã hoặc thành đạt của chúng ta. Sự thiện hảo của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài đối với chúng ta đitrước và là căn bản vượt xa hơn bất cứ tội lỗi nào của con người. Hình ảnh Thiên Chúa sống động trong chúng ta, dù chúng ta chấp nhận hay không chấp nhận nó. Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nói lên rằng sự vui mừng thật của chúng ta hoàn toàn nằm trong sự hiểu biết, yêu mến, và phục vụ tha nhân như Chúa đã làm.

 

14. Nói về người nam và người nữ như “hình ảnh Thiên Chúa” có nghĩa rằng chúng ta không thể nói về con người mà không tham chiếu từ Thiên Chúa. Nếu bản tính Thiên Chúa là sự hiệp nhất của Ba Ngôi - Cha, Con, và Thánh Thần - và nếu chúng ta được tạo dựng nên theo hình ảnh đó, thì bản tính của chúng ta là tùy thuộc lẫn nhau. Để trở thành một con người, chúng ta cần sự hiệp thông. 10 “Để trở thành một người theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, vì thế, cũng liên quan đến sự hiện hữu trong tình thân và tương quan với người khác.” 11 “Tôi”, để trở thành chính chúng ta, chúng ta cần đến người khác, và chúng ta cần Chúa. Chúng ta cần người để yêu, và được yêu.Để trở thành con người mà chúng ta được tạo thành, chúng ta phải hy sinh chính mình cho anh chị em của chúng ta. “Là một con người… không chỉ chiếm hữu ‘qua quà tặng trân quí của cái tôi’  Mô hình cho hoạt động trao đổi chung của con người là chính Thiên Chúa, như Ba Ngôi, như một sự hiệp nhất trong các Ngôi. Để nói được con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa có nghĩa là con người được mời gọi để hiện hữu ‘vì’ người khác, và trở thành một tặng vật cho người khác.” 12Để cứu mạng sống của mình, chúng ta phải mất nó vì Chúa (Mt 10:39, 16:25). Lối diễn tả thần học về con người này sẽ là bản thảo dự áncho toàn bộ thần học luân lý, bao gồm giáo huấn của Giáo Hội về gia đình.

 

15. Chúng ta có thể không quan tâm đến những ảo ảnh về việc tự cho mình là đầy đủ. Nhưng chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa - và nếu chúng ta muốn sống như những người con trai, con gái của Thiên Chúa mà chúng ta là, thì chúng ta phải chấp nhận lời dậy của Ngài để yêu mến Ngài và yêu thương láng giềng. Cũng như Chúa Giêsu đã mặc khải bản tính của Thiên Chúa qua tình yêu và sự hy sinh của Ngài, cũng vậy, chúng ta phải chấp nhận một cách sâu thẳm sự thật con người mình khi bước vào những mối tương quan của tình yêu và phục vụ với anh chị em chúng ta và trong việc thờ phượng Thiên Chúa.

 

16. Như Công Đồng Vaticanô II đã ghi trong khi tranh luận về phẩm giá con người, nhiều nhà vô thần tin rằng “nguyên nhân khoa học” một mình có thể nói với chúng ta về tất cả những gì chúng ta cần để biết về chính mình, mà không cần tham khảo bất cứ điều gì bên ngoài thế giới tự nhiên. 13 Nhưng người Công Giáo coi thần học này là căn bản nhân chủng học; nói một cách khác, chúng ta tin rằng hiểu biết về Thiên Chúa và mục đích sáng tạo của Ngài rất quan trọng đối với bất cứ tường thuật đầy đủ nào về con người. Người Công Giáo tin rằng mặc khải về chính Ngài của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu đem chúng ta lại với chính mình, mặc khải sự thật chúng ta là ai, tiết lộ rằng - một cách chính yếu nhất - chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là căn bản cho căn tính của chúng ta, và căn bản hơn bất cứ những băn khoăn nào, tham vọng nào, hoặc vấn nạn nào mà chúng ta có thể có. Như Thánh Gioan Phaolô II đã dậy trước đây trong triều đại giáo hoàng của ngài, “Người nào ước muốn hiểu biết một cách đầy đủ về mình - và không chỉ do trực tiếp, từng phần, thường xuyên nông cạn, và ngay cả những tiểu chuẩn và đo lường về con người của nó - nó phải bao gồm sự băn khoăn, lưỡng lự, và ngay cả những yếu đuối và tội lỗi, với sự sống và cái chết của nó, để đến gần Chúa Kitô.” 14

 

17.  Khi dậy về hôn nhân, chính Chúa Giêsu hướng tới dự án và mục đích tạo dựng của Thiên Chúa.  Khi những Pharisiêu chất vấn Chúa Giêsu bằng câu hỏi về ly dị, câu trả lời của Ngài nhắc lại rằng Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam và có nữ, và rằng người chồng và người vợ trở nên một huyết nhục.15  (Mt 19:3-12, Mk 19:2-12). Một cách tương tự, khi Tông Đồ Phaolô viết cho người Côrinthô về đạo đức tính dục, ngài đã nhắc họ về sự hiệp nhất nên một thân xác của người đàn ông và đàn bà trong tạo dựng. (1 Cor 6:16) Khi ngài viết cho người Êphêsô về hôn nhân, một lần nữa ngài nhắc họ về sự kết hợp này, và nói với họ rằng nó là một “mầu nhiệm cao cả” liên quan đến Chúa Kitô và Hội Thánh (Eph 5:32). Viết cho giáo đoàn Rôma, ngài nói về bản thể Thiên Chúa và sẽ được mặc khải qua việc tạo dựng, và nói về tội lỗi - bao gồm tội dâm dục - mà nó dấy lên từ hành động chối bỏ sự hiểu biết của chúng ta về đấng tạo hóa. (Rom 1:18-32)

 

 

Tình yêu là sứ vụ của gia đình

 

 18. Giờ đây đã rõ ràng tại sao “tình yêu là sứ vụ của chúng ta” là đề tài cho Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2015. Một trong những tài liệu của giáo hoàng đặc biệt nhất về đời sống gia đình của thế kỷ 20 - Familiaris Consortio, một lần nữa của Thánh Gioan Phaolô II - đã tóm lược giáo huấn Công Giáo về Thiên Chúa và bản tính con người qua niềm tin Công Giáo để chúng ta phải sống thế nào:

 

Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống Ngài: mời gọi con người để hiện hữu qua tình yêu. Ngài gọi con người cùng lúc cho tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu và trong chính Ngài, Ngài sống mầu nhiệm tình yêu ngôi vị hiệp thông. Tạo dựng loài người theohình ảnh của chính Ngài và tiếp tục giữa cho nó hiện hữu. Thiên Chúa ghi trong lòng người nam và người nữ ơn gọi, cùng với khả năng và lời đáp trả của tình yêu và hiệp thông. Vì thế, tình yêu là căn bản và là ơn gọi thiên phú của mọi người. 16

 

Tình yêu Thiên Chúa không ngừng thôi thúc chúng ta. Chúng ta không thể bị thu hồi ơn gọi này. Chúng ta đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và mặc dù sự thật của tội lỗi con người, ơn gọi bao hàm trong việc tạo dựng của chúng ta không thể bao giờ bị tẩy xóa.

 

19. Những viễn cảnh Công Giáo về hôn nhân, gia đình, và tính dục thuộc về sứ vụ rộng lớn hơn để sống theo cách thức làm cho tình yêu Thiên Chúa được nhận biết và sáng chói, để sống sứ vụ này hầu làm cho cuộc sống thường ngày sống với sự vui mừng của Thiên Chúa. Con người đầy đủ - thân xác và linh hồn của chúng ta nam hay nữ và tất cả những gì thuộc về nó - được bao gồm trong lời mời gọi của Thiên Chúa. Chủ đề cho Đại Hội Gia Đình Thế Giới này là “gia đình sống một cách trọn vẹn”, và tốt lành. Đời sống gia đình được trọn vẹn đầy đủ khi chúng ta đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên những người con trai, con gái mà Ngài đã tạo dựng.

 

 20. Kỷ nguyên của chúng ta lời thời gian nghi ngờ và hoang mang. Chúa Giêsu là chiếc neo đáng tin cậy. Phẩm giá con người nghỉ yên một cách an toàn trong Chúa Giêsu. Thiên Chúa làm người.Chúa Giêsu mặc khải Thiên Chúa là ai và chúng ta là ai.Trong Chúa Giêsu, chúng ta gặp gỡ một Thiên Chúa, Đấng đã vươn đến chúng ta, Đấng đã thiết lập sự hiệp thông và mời gọi chúng ta chia sẻ niềm vui của Ngài. Chúng ta được tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và được mời gọi để hiệp thông với Ngài và với nhau. Tình yêu này đem lại mục đích và định hình tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống con người, bao gồm gia đình.

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN ______________________________________

 

  1. Cái gì về Chúa Giêsu mà làm cho Ngài trở nên đáng tin tưởng?

 

  1. Điều gì trong đời sống của bạn khiến bạn không giống với Chúa Giêsu? Điều gì có thể giúp bạn trở nên giống Ngài hơn, hoặc ngay cả thân mật với Ngài?

 

c ) “Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì? Có thể hiểu được căn tính con

người ngoài Thiên Chúa không? Tại sao có và tại sao không?

 

  1. “Sứ vụ chúng ta là tình yêu” là chủ đề của tập giáo lý này. “Tình yêu” có nghĩa gì trong đời sống của bạn? Sứ vụ để yêu này có ảnh hưởng gì trên các quyết định của bạn, những ưu tiên của bạn và những tham vọng của bạn?

 

 

       

 

II. SỨ VỤ CỦA TÌNH YÊU

 

 

 

Thiên Chúa hành động qua chúng ta.Chúng ta có một sứ vụ.Chúng ta ở trên đời vì một mục đích. -- để đón nhận tình yêu Thiên Chúa và để chỉ cho người khác thấy tình yêu của Ngài. Thiên Chúa tìm kiếm để chữa lành vũ trụ vỡ nát.Ngài mời gọi chúng ta trở nên những nhân chứng cho Ngài và những phụ tá của Ngài trong sứ mạng này.

 

Thánh Kinh đã đưa ra nội dung và hình ảnh cho ý nghĩa của tình yêu

21. Lịch sử mở màn với việc tạo dựng người nam và người nữ giống hình Thiên Chúa. Trong lịch sử, Thiên Chúa mời gọi và hình thành con người.Ngài lập giao ước với chúng ta, trước hết qua dân Israel và rồi qua Chúa Kitô và Giáo Hội.Trong mối tương giao này, Thiên Chúa dậy chúng ta yêu như Ngài đã yêu.

 22. Nói một cách khác, được tạo dựng cho sự hiệp thông, chúng ta học biết rằng tình yêu là sứ vụ của chúng ta. Tặng ân của sự hiện hữu của chúng ta đi trước và khuôn đúc những gì chúng ta làm và chúng ta sống thế nào. Tóm lại, “Cách thức Chúa yêu thương trở nên mức đo lường tình yêu nhân loại.” 17

 

 23. Để sống như vậy đòi hỏi đức khiêm nhu. Nó đòi chúng ta làm cho trái tim của chúng ta phù hợp với Thiên Chúa và nhìn thế giới này qua cặp mắt của Ngài. Đường lối Chúa là con đường tốt hơn, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng hơn.    

 

24. Thánh Kinh tràn ngập hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa.Thiên Chúa là người cha đón đứa con hoang đàng trở về và mở tiệc ăn mừng. (Lk 15:11-32) Thiên Chúa là người chăn chiên đi tìm con chiên lạc. (Lk 15:3-7) Thiên Chúa là một người mẹ âu yếm những đứa con của bà. (Isa 66:13) Thiên Chúa là người bạn đã hiến mình vì người khác, và rơi lệ khi các bạn hữu mình đau khổ. (Jn 11:35) Thiên Chúa là bậc thầy hướng dẫn chúng ta biết yêu và phục vụ kẻ khác như những người láng giềng. (Mt 22:39) Thiên Chúa là người làm vườn, chăm sóc chúng ta cho đến khi trổ sinh hoa trái tốt. (Jn 15:1) Thiên Chúa là vị hoàng đế mời chúng ta đến dự tiệc cưới. (Mt 22:1-14) Thiên Chúa nghe tiếng người mù kêu cầu, và đã dừng chân để hỏi anh: anh muốn ta làm gì cho anh? (Mk 10:46-52) Thiên Chúa đón tiếp và phủ đầy tình xót thương trên dân Ngài khi họ đói khát, cho họ của ăn (Mt 14:13-21), 18  và dâng hiến chính mình Ngài. (Mt 26:26)

 

 

Hôn nhân là hình ảnh căn bản của Thánh Kinh đối với tình yêu Thiên Chúa

 

25. Tất cả những hình ảnh trên và nhiều hình ảnh khác nữa giúp chúng ta khám phá chiều sâu của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ghi dấu đặc tính tình yêu chúng ta được kêu gọi để làm chứng nhân trong chính cuộc đời mình.Nhưng như nhận xét của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, đã cho chúng ta một chìa khóa quan trọng về một tầm nhìn tổng quát cho chung vấn đề:

 

“Thiên Chúa yêu thương dân Ngài.”Thật vậy, trên tất cả mặc khải của Thánh Kinh diễn tả một câu truyện tình, câu truyện về giao ước của Thiên Chúa với con người.Đó là tại sao câu truyện hiệp nhất đời sống và tình yêu giữa một người nam và một người nữ trong giao ước hôn nhân đã được Thiên Chúa dùng như một dấu chỉ của lịch sử cứu độ.”19

 

26. Hình ảnh hôn nhân là tâm điểm cho việc diễn nghĩa giao ước Thiên Chúa với Israel, và giao ước của Ngài sau này với Giáo Hội. Như Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã dậy, “Hôn nhân đặt trên nền tảng tình yêu duy nhất và chung cuộc trở thành hình ảnh của mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và Dân Ngài và ngược lại.” 20  Giao ước của Thiên Chúa là chủ đề trung tâm của Thánh Kinh, và hôn nhân là một thí dụ đặc thù cho việc diễn tả liên hệ mật thiết của Thiên Chúa với con người. Cùng với dòng tư tưởng này, khi còn là Tổng Giám Mục Munich, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã giải thích:

 

Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để đi vào lịch sử tình yêu với nhân loại.Ngài tạo dựng nó để cho tình yêu có thể tồn tại. Đàng sau những từ ngữ của Israel chứa ẩn đó nó dẫn một cách trực tiếp vào Tân Ước… Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để có thể trở nên con người và tuôn đổ tình yêu của Ngài trên chúng ta và mời gọi chúng ta để đến phần mình cũng yêu mến Ngài.21

 

 27. Hình ảnh hôn nhân này bắt đầu từ Cựu Ước. Ở đó chúng ta học biết rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta một cách thân mật, với sự nhẹ nhàng và đắm đuối. “Các Tiên Tri, một cách đặc biệt là Tiên Tri Hôsê và Êzêkien đã diễn tả cái đắm đuối của Thiên Chúa bằng những hình ảnh gợi cảm mang tính xác thịt.” 23 Trong Hôsê, Chúa hứa “dụ dỗ” Israel, nói “thủ thỉ bên tai nàng” tới khi nàng “đáp lại như trong những ngày nàng còn trẻ”, và gọi ta “mình ơi.” (Hos 2:14-16). Trong Êzêkien, Thiên Chúa nói với Israel qua hình ảnh gợi cảm: “Ta đã phủ vạt áo Ta trên ngươi, bao phủ thân thể trần trụi của ngươi. Ta đã thề nguyền và lập giao ước với ngươi, Chúa là Thiên Chúa nói, và ngươi thuộc về Ta. Ta đã lấy nước tắm rửa, gột sạch máu me, rồi xức dầu thơm cho ngươi... Ngươi lớn lên đẹp một cách lộng lẫy, xứng đáng là một hoàng hậu.”23 Ezek 16:8-13, NRSV) Chúng ta cũng tìm thấy ngôn ngữ tương tự trong Isaia, 24 Giêrêmia, 25 và trong các Thánh Vịnh. 26 Diễm Tình Ca hằng thế kỷ trước cũng đã vang vọng những lời được dùng trong hôn nhân để diễn tả tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa đối với Dân Ngài.

 

 

Thánh Kinh không mẫn cảm về tình yêu hôn nhân

 

28. Hôn nhân giữa Thiên Chúa và dân Ngài có thể bị lay chuyển. “Tương quan mật thiết của Thiên Chúa với Israel được miêu tả bằng những dụng ý của cuộc hứa hôn và thành hôn,”  vì vậy khi Dân Chúa phạm tội, hành động vi phạm của chúng ta trở nên một thứ “ngoại tình và đĩ điếm”. 27Trong Hôsê, tình yêu của Thiên Chúa dành cho Israel đã đặt Ngài vào vai trò một người chồng bị phụ tình bởi người vợ bất trung. Như Thiên Chúa đã nói với Hôsê, “Hãy đi, yêu một người phụ nữ đã có người yêu và là người ngoại tình, như Thiên Chúa yêu dân Israel dù chúng quay đầu với những thần minh khác.” (Hos 3:1, NRSV)

 

29. Khi Dân Chúa bỏ quên các giới luật Ngài, khinh thường những người nghèo đói ở giữa họ, tìm kiếm sự an toàn do quyền lực ngoại bang, hoặc quay sang những tà thần - thì ngoại tình và đĩ điếm là những từ đúng nhất cho mối tương quan của họ. 28

 

30. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn trung thành. Cảm nhận do những lời lẽ trong Êzêkien 16, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chú thích Thiên Chúa nói những lời yêu thương như thế nào mặc dù Israel bất trung. 29Israel tội lỗi, Israel quên lãng, Israel điếm đàng, chạy theo tà thần. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi dân giao ước của Ngài.Thống hối và tha thứ là những đường lối luôn luôn có thể.Lòng thương xót của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài kiếm tìm cái tốt của Israel ngay trong lúc chúng trốn bỏ Ngài.“Phải, Thiên Chúa đã gọi ngươi như người vợ bị ruồng bỏ và sầu muộn trong tâm hồn, giống như người vợ lúc thanh xuân khi nàng bị ruồng rẫy, Thiên Chúa của ngươi phán.Vì trong một thời gian ngắn Ta đã bỏ rơi ngươi, nhưng vì lòng xót thương vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về… với tình yêu đời đời Ta sẽ xót thương ngươi.” (Isa 54:6-8, NRSV) Thiên Chúa kiên trì trong tình yêu đối với dân Ngài, dù chúng ta sa ngã, dù khi chúng ta cố tình sống không cần Ngài.

 

31. Cũng cùng một cách thế, tình yêu Kitô hữu phức tạp nhiều hơn tình cảm.Nó bao gồm ước muốn dục vọng và cảm xúc, nhưng nó cũng là một sự lựa chọn.Tình yêu là một sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận, một thái độ mà chúng ta chấp nhận, một lời mời gọi mà chúng ta bị chinh phục.Tình yêu này có những tầm kích chúng ta cần khám phá khi chấp nhận nó. Hình thức yêu thương này tìm và theo Chúa, Đấng mà giao ước thành tín của Ngài dậy cho chúng ta biết tình yêu là gì. Thiên Chúa không bao giờ loại bỏ Israel vì thái độ chống đối.Ngài cũng không bao giờ ngã lòng vì bị chối từ.Ngài không bao giờ nhẹ dạ.Chỉ mình Ngài là tuyệt vời, là sự thiện hảo chân thật và tối hậu cho dân Ngài. Và trong khi tình yêu Ngài đối với Israel nhiệt tình với ước muốn - không ai đọc các tiên tri có thể phủ nhận điều này - hình ảnh  “luyến ái” đối với tình yêu thần linh luôn luôn được dậy men bởi lòng chung thủy thánh hiến của Ngài. 30 Tình yêu của Thiên Chúa luôn luôn đi với lòng từ bi và nhẫn nại của Ngài.

 

 

Hôn nhân, Tình Yêu, và Sự Hy Sinh của Chúa Kitô trên thánh giá

 

32. Tình yêu Thiên Chúa được trình bày một cách sống động trong Êphêsô 5, ở đó Thánh Phaolô trình bày sự giống nhau của hôn nhân như Chúa Kitô và Giáo Hội. 31  Phaolô thúc đẩy cả vợ lẫn chồng “phải tùng phục nhau vì yêu mến Chúa Kitô.” (Eph 5:21, NRSV) Hôn nhân Kitô giáo vì thế không phải là sự mà cả giữa quyền lợi và trách nhiệm, nhưng đúng hơn là một cách diễn tả hình thức cho đi chính mình một cách hỗ tương.Nó vượt xa nhiều lý luận, nhưng đơn thuần chỉ là triết lý sống bình quyền.Phaolô viết rằng “Chồng là đầu của vợ như Chúa Kitô là đầu của Hội Thánh.” (Eph 5:23, NRSV) Nhưng điều đó có ý nghĩa gì trong chữ viết và thực hành?Phaolô kêu gọi người chồng yêu quên mình noi gương sự hy sinh của Chúa Kitô trên thập giá.Để giảm thiểu nam tính chiếm lĩnh và lợi dụng, và trong sự tương phản sâu xa đối với những qui luật gia đình khác nhau trong xã hội xưa, Phaolô dậy mộthình ảnh rõ ràng của Thiên Chúa: “những người chồng hãy yêu thương vợ, như Chúa Kitô yêu Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.” (Eph 5:25,NRVS) Theo kinh nghiệm của Êphêsô 5, Giáo Hội nói về hôn nhân như một bí tích, và chỉ dậy các cặp vợ chồng về một loại thánh giá của hiệp nhất tự hiến.

 

33. Chúa Giêsu cho phép các Kitô hữu nói một cách tự tin về tình yêu Thiên Chúa. Ngài mở giao ước của Thiên Chúa ra cho muôn dân, toàn bộ lịch sử của Israel như một bản tường trình công khai về Ơn Cứu Độ. Chúa Giêsu hóa thân thành tình yêu dâng hiến bởi vì, một cách văn hoa, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Ngài yêu thương Giáo Hội như hiền thê, và với tình yêu vô vị lợi - được minh chứng bằng máu trên thập giá - đưa ra một gương mẫu tình yêu hỗ tương và phục vụ cần thiết cho mọi gia đình và hôn nhân Kitô giáo.

 

34. Như Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã dậy: “Bằng cách suy ngắm cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô, chúng ta có thể hiểu … Thiên Chúa là tình yêu. Chính ở đó mà chân lý này được chiêm ngắm.Từ đó, mà định nghĩa tình yêu của chúng ta phải bắt đầu. Trong suy niệm này người Kitô hữu khám phá ra con đường mà đời sống và tình yêu của mình phải bước tới.” 32

 

35. Ngày nay đối với nhiều người “yêu” ít hơn một cảm tình ấm áp hoặc sự hấp dẫn thể xác. Những điều này có chỗ đứng của nó. Nhưng tình yêu thật - tình yêu bền bỉ và sâu xa và hy sinh trái timvượt thời gian - triển nở từ những gì chúng ta cho đi đối với những người khác, mà không phải là những gì chúng ta mang về cho chính mình. Chúa Giêsu Kitô đã chết trên thập giá cho phần rỗi chúng ta. Khả năng căn bản và giải phóng này giúp từ bỏ những đặc quyền của chúng ta và quên mình vì người khác là sợi chỉ để nối kết giáo huấn Công Giáo về hôn nhân và gia đình. Giáo huấn chắc chắn của Công Giáo về hôn nhân và gia đình phân chia tình yêu thật khỏi tất cả những gì giả dối.

 

36. Thánh Kinh có nhiều cách bổ túc và phức tạp giải thích về tình yêu Thiên Chúa, nhưng hôn nhân là một cách trong những cách tốt nhất.Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài - trước là Israel và sau là Giáo Hội - giống như một cuộc hôn nhân.Cuộc hôn nhân này không phải luôn luôn dễ dàng, nhưng tội lỗi con người không có lời kết thúc. Lòng chung thủy của Thiên Chúa mặc khải tình yêu chân thật là gì và lòng thành tín như thế nào. Chúa Giêsu Kitô, Đấng đón nhận mọi người chúng ta vào làm thành viên trong gia đình Thiên Chúa, ban cho chúng ta một định nghĩa tình yêu mới và bất ngờ, ban cho chúng ta những cơ hội mới để sống.

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN _________________________________

 

  1. Tại sao tình yêu Thiên Chúa giống như một cuộc hôn nhân?

 

  1. Con đường tình yêu Thiên Chúa khác với con đường tình yêu của chúng ta như thế nào?

 

  1. Tình yêu thật là gì và làm cách nào chúng ta có thể nhận ra nó? Những điểm gì giống và khác nhau giữa khái niệm về văn hóa của bạn về tình yêu lãng mạn và giao ước tình yêu của Thiên Chúa?

 

  1. Bạn có thể nghĩ về một lúc nào đó khi tình yêu Thiên Chúa đã giúp bạn để yêu trong một cách thế chân thành nhất và tốt hơn?

                                                                

       

 

III. Ý NGHĨA CỦA TÍNH DỤC CON NGƯỜI

 

 

 

Thế giới thiên nhiên, bụi đất, vật chất, hơn kém chỉ là chất liệu hoặc đất sét tạo hình cho ý muốn con người.Công việc tạo dựng là thánh thiện.Nó mang ý nghĩa bí tích.Nó phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa.Điều này bao gồm cả thân xác chúng ta.Tính dục của chúng ta có một sức mạnh để truyền sinh và chia sẻ phẩm tính được tạo dựng mang hình ảnh Thiên Chúa.Chúng ta cần sống với ý nghĩa này.

 

Thế giới vật lý tự nhiên dẫn vào sự tốt đẹp tinh thần

37. Đức tin Công Giáo luôn luôn là lòng sùng mộ “vật thể” của tôn giáo. Thánh Kinh bắt đầu trong một khu vườn và kết thúc với một bữa tiệc.33 Thiên Chúa đã tạo thành vũ trụ, gọi nó là tốt đẹp, vào bước vào lịch sử của thế giới này.Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, mặc xác phàm và trở thành một người trong chúng ta. Trong các bí tích, những chất liệu vật chất được thánh hóa và biến thành dấu chỉ hữu hình của ân sủng. Bánh và rượu thông thường, nước, dầu, và sự đụng chạm của bàn tay con người là tất cả những cách thức hiển nhiên trong đó sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên thật và hiệu lực.

38. Chúng ta tin vào những hành động từ bi con người. Khi chúng ta cho người đói ăn, cho kẻ khát uống, cho người trần trụi mặc, đón tiếp những kẻ vô gia cư, săn sóc người bệnh tật, thăm viếng tù nhân, hoặc chôn cất kẻ chết, đó chính là phục vụ Chúa Giêsu. (Mt 25:25-40) Chúng ta tin vào sự tốt lành của việc tạo dựng của Thiên Chúa. (Gen 1:4-31) Lòng tin tưởng này lan tỏa vào những tư tưởng Công Giáo. Nó trở nên hữu hình trong nghệ thuật và kiến trúc của chúng ta, nhịp nhàng trong lịch phụng vụ về lễ bái, chay tịnh, những lễ nghi địa phương và các bí tích của chúng ta.

 

Tính dục đàn ông và đàn bà tham dự vào mục đích thần linh

 

39. Tạo vật bùn đất có ý nghĩa thần linh, điều này ứng dụng đối với cách thế chúng ta sống như người nam và người nữ. Tính dục của chúng ta có mục đích của nó.Thân xác của chúng ta không chỉ là một cái vỏ của linh hồn, và cũng không phải là những máy móc giác quan cho khối óc. Nó cũng không phải hoàn toàn vật chất mà chúng ta có thể tự do lạm dụng hoặc xử dụng tùy tiện. Đối với những Kitô hữu, thân xác và linh hồn kết hợp với nhau một cách mật thiết.Mỗi người là một sự hợp nhất của thân xác và linh hồn. Thánh Hildegard thành Bingen đã viết: “Thân xác, chính là đền thờ của linh hồn, hợp tác với linh hồn bằng giác quan như chiếc cánh gió được quay bởi luồng nước.” 34 Thân xác có một phẩm giá thiên phú như là một phần trong công việc sáng tạo của Thiên Chúa. Nó là một phần mật thiết của căn tính và vận mệnh đời đời của chúng ta. Hai giới tính theo nghĩa của nó, thể hiện mục đích Thiên Chúa cho con người tùy thuộc lẫn nhau, chung sống với nhau, và công khai đời sống mới. Chúng ta không thể làm giảm giá trị hoặc lợi dụng thân xác mà không giây tổn thương giá trị tinh thần.

 

40. Dĩ nhiên, chúng ta không phải lúc nào cũng yêu như chúng ta phải yêu. Tính dục là một yếu tố cá biệt mạnh mẽ trong hoạt động con người - tốt và xấu. Và vì thế nếu tính dục bị xử dụng sai hoặc không phù hợp sẽ luôn luôn là đầu mối của tội lỗi và hỗn loạn.Ham muốn tính dục và sự hiểu biết về mình có thể trở nên mặc cảm. Căn tính của chúng ta được mặc khải trong Chúa Giêsu và trong chương trình của Thiên Chúa cho đời sống chúng ta, chứ không phải những đòi hỏi sa ngã của mình.

 

41. Hôn nhân hiện hữu bởi vì truyền sinh và sống chung, sinh vật và giao ước của Thiên Chúa, tự nhiên và siêu nhiên, cùng giúp nhau thăng hoa ý nghĩa “con người” là gì. Hôn nhân hiện hữu vì chúng ta khám phá và chấp nhận, hơn là đầu tư và mà cả, ơn gọi cho đi chính mình mà nó là bản thể người nam và người nữ được tạo dựng từ một giáo ước.Hôn nhân là công việc tạo dựng của Thiên Chúa bởi vì chúng ta là những tạo vật của Ngài, và bởi vì Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ cho tình thân hữu với Ngài trong giao ước của Ngài.

 

42. Khởi thủy của chúng ta như hai phái tính khác nhau và bổ túc cho nhau, ơn gọi chúng ta để yêu, để hợp nhất, và để sống. 35 là một và cùng một lúc. Theo ngôn ngữ của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Đấy là câu chuyện tình. Câu truyện tình trong tuyệt tác phẩm của tạo dựng.”36

 

43. Ơn gọi này để yêu, để sống chung, và để sống liên quan đến toàn thể con người nam và nữ, thân xác và linh hồn. Con người, một tạo vật cùng lúc vừa xác thể vừa tinh thần. 37 Thể xác con người, một nghĩa nào đó, cho thấy con người đó.38 Kết quả là, tính dục con người không chỉ thuần khiết là một tác dụng. Dị đồng tính dục, rõ ràng trong thân xác, đóng góp trực tiếp vào đặc tính của cơ thể người phối ngẫu và khả năng để yêu của một người. 39  Tại tâm điểm của ơn gọi để yêu này là lệnh truyền của Thiên Chúa “hãy sinh sản cho nhiều” (Gen 1:28, NRSV). Vì thế, sự hợp nhất trong thân xác của người phối ngẫu, do bản chất tự nhiên, cũng là một lời mời gọi để sống như người cha và người mẹ. 40

 

44. Vì lý do đó, chúng ta nghe niềm hân hoan qua ngôn ngữ của Adam lần đầu gặp Evà: “Cuối cùng, đây là xương của xương tôi, và thịt của thịt tôi.” (Gen 2:23, NRSV) Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ghi rằng, từ nguyên thủy, “người nam nhìn ra người nữ như cái “tôi” khác chia sẻ cùng nhân tính.”41 Người nam và người nữ chia sẻ phẩm tính bình đẳng đến từ Thiên Chúa là Tạo Hóa của họ.Trong chương trình của Thiên Chúa, cả hai giống nhau, và cái khác của người nam và người nữ xẩy ra cùng lúc trong tình trạng bổ khuyết sinh lý của họ như giống đực và giống cái. Được tạo dựng với nhau (Gen 1:26-27), người nam và người nữ sẵn sàng cho nhau. 42 Sự khác biệt tính dục là một lời nhắc nhở căn bản rằng việc chúng ta được dựng nên để trao hiến cho nhau đã được hướng dẫn bằng đức hạnh và tình yêu Thiên Chúa.

 

45. Thánh Gioan Phaolô II thường xuyên nói về “ý nghĩa hôn nhân hoặc vợ chồng của thân xác”. 43Ngài vang vọng lại giáo huấn của Vaticanô II  rằng “Sự phối hợp của người đàn ông và đàn bà cấu tạo nên hình thái đầu tiên của hiệp thông giữa những cá nhân.” 44  Nhưng sự khác biệt về tính dục ghi dấu trên mọi giao tiếp của chúng ta ngay cả đối với những người không lập gia đình, bởi vì chúng ta mỗi người bước vào đời như người con trai hoặc con gái. Chúng ta được mời gọi trở nên anh chị em không phải chỉ với những người trong một nhà, nhưng còn đối với những người đói khổ trong lối xóm, trong cộng đồng, và trong giáo xứ của chúng ta. Căn tính chúng ta như những người nam, người nữ là căn bản của ơn gọi làm cha, làm mẹ của chúng ta, tự nhiên hay tinh thần. Trong cách thế này, sự khác biệt về tính dục mang ý nghĩa bao quát của nó.

 

46. Bởi vì nó là đơn vị căn bản của căn tính chúng ta, tính dục không thể bị biệt lập khỏi ý nghĩa của con người. Sinh lý không bao giờ đơn thuần là một sự rung động cảm tình hoặc thể lý. Nó luôn luôn liên hệ nhiều hơn.Khát vọng sinh lý nói lên rằng chúng ta không bao giờ tự đầy đủ.Chúng ta khao khát sự mật thiết với người khác.Hành động giao hợp, bất kể “tình cờ” như thế nào vẫn không phải là một tác động sinh lý thuần túy. Thực ra, sự thân mật tính dục luôn luôn mang một số ý nghĩa vợ chồng bởi vì nó tạo nên một sự gắn bó của con người, dù không cố ý đi nữa. Hành động vợ chồng thật sự không chỉ đơn thuần là tìm kiếm bên trong và hành động khiêu gợi tự nó. Tính dục của chúng ta tuy cá nhân và mật thiết, nhưng luôn luôn với một chiều kích xã hội và có hậu quả.Bí tích hôn nhân không bao giờ là một quyền sở hữu riêng tư, nhưng là những khám phá tự nó trong sự hiệp thông với giao ước rộng lớn hơn của Thiên Chúa.

 

                                          

Chúng ta có đạo đức sinh lý vì sinh lý mang ý nghĩa tinh thần

 

47. Hai ơn gọi khác nhau làm cho công chính đối với lệnh truyền của con người nam hay nữ trong dự án của Thiên Chúa: hôn nhân và độc thân. Cả hai nguyên tắc này cùng dẫn đến tiền đề được chia sẻ là sự thân mật sinh lý giữa một người nam và một người nữ thuộc về và làm phong phú cho ý nghĩa của một giao ước.Độc thân là con đường những người không kết hôn xác tín về sự thật và vẻ đẹp của hôn nhân.Độc thân và hôn nhân cả hai tiết chế hành động tính dục để xử dụng nhau trong những chiều hướng điều kiện hoặc tạm thời. Sự tiết dục độc thân vĩnh viễn rõ ràng không phải là một sự khinh bỉ tính dục, nhưng đúng hơn là làm vinh dự tính dục bằng cách nhấn mạnh rằng sự gần gũi tính dục phục vụ và được phục vụ bởi giao ước. Vì sống trong ánh sáng của giao ước, những cặp vợ chồng và những người độc thân giống nhau cùng dâng đời sống tính dục của họ cho cộng đoàn, cho công trình tạo dựng xã hội mà nó không được bao gồm trong ham muốn tình dục và lạm dụng.

 

48. Trong ba chương kế tiếp sẽ trình bày nhiều hơn về chi tiết của hôn nhân (Chương 4 và 5), và đời sống độc thân (Chương 6). Nhưng cả hai lối sống đều bắt nguồn từ huấn lệnh của Thiên Chúa để sống nam tính và nữ tính trong những cách thế quảng đại, và hy sinh chính mình.Cả hai cách sống đều nhìn lên giao ước của Thiên Chúa và tiếp nhận sự thật được tạo dựng như người nam và người nữ như những nguyên nhân đem lại vui mừng.Luật lệ chúng ta áp dụng trong tình yêu của chúng ta - luật lệ của giao ước - một đôi khi cảm thấy nặng nề. Nhưng một cách chắc chắn luật này đem vinh dự và biểu lộ ý nghĩa đúng của tình yêu được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa.

 

49. Việc tạo dựng chúng ta như những người nam và người nữ theo hình ảnh Thiên Chúa là lý do tại sao chúng ta được kêu gọi tới đức khiết tịnh. Khiết tịnh được diễn giải bằng nhiều hình thức, tùy theo chúng ta kết hôn hay không. Nhưng đối với mọi người, khiết tịnh đòi hỏi từ chối dùng thân xác của mình hoặc của người khác như những mục đích giảm giá trị thân thể. Chúng ta lập gia đình hay không thì khiết tịnh là một tập quán sống tính dục của chúng ta với phẩm giá và ân sủng trong ánh sáng của những giới luật Chúa. Thèm khát dục vọng chống lại với khiết tịnh.Sự thèm muốn dục vọng liên quan đến việc nhìn ngắm người khác trong những cách thế xem như thân xác của người ấy tồn tại chỉ để thỏa mãn sự thèm khát.Khiết tịnh thật “không miệt thị thân xác” nhưng coi thân xác trong chiều kích của con người.45 Khiết tịnh là tiếng “đúng” cao cả đối với sự thật của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi để sống trong giao ước.

 

50. Hiểu như vậy, khiết tịnh là một điều mọi người được mời gọi để thực hành. “Mọi người đã chịu phép thánh tẩy được kêu gọi để khiết tịnh… Những người đã kết hôn được kêu gọi để sống khiết tịnh trong hôn nhân, những người khác thực hành khiết tịnh trong sự trinh sạch.”46 Tình yêu khiết tịnh hôn nhân đặt thao thức dục vọng vào cách diễn tả của tình yêu, săn sóc, trung thành, và đón nhận con cái.Khiết tịnh của người độc thân, qua sự trinh tiết của nó, hỗ trợ sự mật thiết sinh lý qua ý nghĩa của yêu thương, săn sóc, và trung thành.

 

51. Những nguồn gốc của giáo huấn Kitô giáo này có từ rất xa xưa. Như Thánh Ambrôsiô đã viết ở thế kỷ thứ 4: “Có ba hình thức của nhân đức khiết tịnh: Trước hết là khiết tịnh trong hôn nhân, thứ đến là những người góa bụa, và thứ ba là những người đồng trinh. Chúng ta không ca tụng bất cứ hình thức nào để loại bỏ những hình thức khác… Đây là những gì làm giầu cho luật lệ của Hội Thánh.”47

 

52. Làm cách nào để sống giáo huấn này một cách đúng nghĩa mặc dù kết hôn hay độc thân và một đôi khi trong những tình huống khó khăn ngày nay - thách đố này sẽ hướng dẫn chúng ta trong phần còn lại của tập giáo lý này.

 

53. Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới vật chất này do tình yêu của Ngài cho chúng ta. Mọi cái chúng ta có thể nhìn và đụng chạm, bao gồm thân thể nam và nữ của chúng ta, đều được tạo nên nhân danh giao ước của Thiên Chúa.Chúng ta không luôn luôn yêu như chúng ta phải yêu, nhưng khuôn mẫu tình yêu của Thiên Chúa nâng đỡ và kêu gọi chúng ta trở về với bản tính thật của chúng ta. Hôn nhân và độc thân là hai con đường để thuộc về nhau như người nam hoặc người nữ trong ánh sáng của giao ước Thiên Chúa, và vì lý do đó, cả hôn nhân và độc thân chọn lựa những cách thức tiết chết của cuộc sống.      

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN

 

  1. Tại sao người Công Giáo vui mừng và coi trọng thế giới vật chất và hiện hữu này nhiều đến như vậy? Hãy nghĩ đến bất cứ một vẻ đẹp nào, thí dụ thiên nhiên, thân xác, thực phẩm, hoặc nghệ thuật -- tại sao chúng lại quan trọng theo truyền thống Công Giáo?

 

  1. Mục đích của việc tạo dựng là gì? Phải chăng thế giới vật chất là một vật thể rỗng không mà chúng ta tự do xử dụng và lợi dụng tùy ý?

 

  1. Những chuyện như nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, và vẻ đẹp luôn hấp dẫn. Nhưng một đôi khi chúng ta có những ước muốn thầm kín và thèm khát vượt khỏi những gì là tốt cho chúng ta. Làm cách nào để chúng ta biết khi nào một ước muốn là tốt và chính đáng? Làm cách nào chúng ta có thể yêu thích và vui với công trình tạo dựng và thân xác chúng ta trong cuộc sống thường ngày?

 

  1. Tại sao chúng ta nghĩ đến các thực hành Công Giáo một cách truyền thống bao gồm cả lễ hội và chay tịnh? Độc thân và kết hôn?

 

 

 

       

 

IV. HAI NÊN MỘT

 

 

 

Chúng ta không được tạo dựng để sống đơn độc. Con người cần và bổ túc cho nhau. Tình bạn và cộng đồng thỏa đáng ước muốn với những ràng buộc chungtrong sự quan tâm và tình yêu. Hôn nhân là một mô phỏng cá biệt hình thức tình bạn trong đó nó mời gọi một người nam và một người nữ yêu nhau trong cách thức giao ước của Thiên Chúa.Hôn nhân là một bí tích.Tình yêu hôn nhân là hoa trái và được dâng hiến một cách hoàn toàn.Tình yêu này có trong hình ảnh của sự trung tín của Chúa Giêsu đối với Giáo Hội.

 

Đức độ,yêu thương, và thiện hảo giúp hoàn tất vận mạng chúng ta

54. 1 Corinthô 13:4-7 là đoạn Sách Thánh thường được chọn cho các lễ thành hôn Công Giáo: “Yêu thì nhẫn nại, yêu thì hiền hậu, yêu thì không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không thô lỗ. Không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.Tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.” (NRSV)   

55. Đoạn văn trên thật tuyệt vời. Được viết lên theo hình ảnh của Thiên Chúa, tình yêu này gần gũi với con người thật của chúng ta. Nhưng yêu như vậy không phải dễ dàng.Nó đòi hỏi sự khiêm tốn và nhẫn nại, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô gần đây đã nói, “Đức tin không phải là nơi cho nhát đảm.”48 Tình yêu hôn nhân phải được xây dựng vượt trên lãng mạn.Lãng mạn thì tuyệt vời -- nhưng một mình nó, nó không thể sống sót với những săn sóc và những thử thách   không thể tránh được xảy đến cho các cặp hôn nhân. -- những nhân đức đích thực là cần thiết. Chúng ta phải sống với những nhân đức này, và vun trồng chúng, để hoàn tất vận mệnh của chúng ta.

56. “Thần học thân xác” của Thánh Gioan Phaolô II nói về một thứ “tự do nội tại” và “tự mình kiềm chế” mà những cặp phu thê cần làm để cho mình trở nên một tặng vật cho nhau. 49 Một người quá trói buộc với những kỳ vọng lãng mạn mà không có căn cốt của tự do nội tâm và khả năng cho đi chính mình, sẽ làm mất sự dung hòa. Để sống bí tích hôn nhân, và đi theo con đường giao ước, những người chồng và những người vợ cần khả năng để vượt qua sự phật ý, để bỏ qua một bên những quyền lợi, và bước tới trong sự quảng đại. Không có tự do nội tâm này, sức mạnh và những vấn đề nghiêm trọng cùng với nhau nổi lên, bởi vì cuộc sống đẩy những người chồng và những người vợ vào những tình huống mà thường xuyên không lãng mạn một chút nào.

57. Không có hôn nhân nào được xây bền vững trên sức hấp dẫn thuần túy của dục vọng.  Những bạn bè dâm đãng chỉ chú tâm chiếm đoạt nhau thường thiếu khả năng nội tâm để dừng bước và tự kiểm thảo, hòa giải, và phát triển. Lời hứa hôn phối để yêu một cách thiết tha như Chúa yêu giúp tạo nên và bảo vệ khoảng trống quan trọng này.Khế ước bí tích làm công việc của tình yêu, ngay cả khi khó lòng yêu, là một nguyên tố căn bản trong giao ước của Thiên Chúa.

                               

Tình yêu thật làm nên khế ước

58. Không một ai có thể thỏa mãn mọi điều chúng ta ao ước. Sự kết hợp hôn nhân chân thật được đặt trên giao ước của Thiên Chúa, một giao ước chào đón ham muốn thân xác, nhưng một cách căn bản hơn thế nữa, là những đòi hỏi những người đàn ông và đàn bà đối với nhau khi bệnh hoạn và lúc mạnh khỏe, khi giầu sang cũng như lúc túng nghèo. Hôn nhân Kitô giáo không phải là một dạo khúc lãng mạn hoặc một sự xếp đặt có điều kiện cho đến khi “được thông báo tiếp.”50  Có thể gọi là một hôn nhân thử nghiệm, một cố gắng để sống cách thân tình nhưng giả định, thử xem mối liên hệ và theo đuổi nó bao lâu cái lãng mạn còn tiếp tục, là tương phản trong từ ngữ. 51 Đức Giáo Hoàng Phanxicô gần đây đã đưa ra điểm này trong một huấn từ chung:

Nhưng các con cả hai đều biết rằng hôn nhân là suốt đời. “Trời ơi, chúng tôi yêu nhau đắm đuối, nhưng … chúng tôi sẽ ở với nhau bao lâu tình yêu còn.Khi tình yêu hết, chúng tôi sẽ mỗi người một ngả.” Đó là ích kỷ: Khi tôi thích, tôi sẽ chấm dứt hôn nhân và quên rằng “một thân xác” không thể bị chia lìa. Nó là một hiểm họa để bước vào hôn nhân: nó là một hiểm họa! Đây chính là chủ nghĩa cá nhân đe dọa nó, bởi vì mỗi người chúng ta có sẵn trong mình cái có thể của con người hai mặt này: Người thì nói, “Tôi có tự do, tôi muốn cái này…” và người khác lại nói, “Tôi, vì tôi, với tôi, và cho tôi…” Ích kỷ luôn luôn quy về mình và không biết làm sao để mở ra với người khác.52

Trong thế giới hậu phát triển, ở đó lòng thành tín bị đe dọa, hôn nhân xem như dọa dẫm. Chúng ta băn khoăn cho rằng chúng ta có thể bị trói buộc với một người không đúng. Trong một thế giới toàn cầu, nơi mà sự lo lắng kinh tế thường thấy khắp nơi, chúng ta cũng có thể sợ hãi rằng tất cả những thách thức và những câu hỏi về cuộc sống, về tiền bạc, hoặc sự an toàn kinh tế, phải được trả lời và ổn định trước cả khi chúng ta có thể yêu như Chúa Giêsu đã làm.         

59. Để đáp lại với một loạt những sợ hãi và lo lắng có thể xảy ra, Giáo Hội giới thiệu Chúa Giêsu, các bí tích, và sự giúp đỡ của những phần tử Giáo Hội trong tình liên đới chung, tin tưởng chắc chắn rằng đối với tất cả những thử thách ấy, con đường tình yêu của các Kitô hữu là có thể và sẽ chỉ ra cái tôi đích thật của chúng ta. Giáo Hội đoan hứa với các con trai, con gái mình rằng hôn nhân là một bí tích, rằng sự ràng buộc và thực hành của hôn nhân Công Giáo đem lại ân sủng nâng đỡ, hiện tại, và hiệu nghiệm. Đáp lại những sợ hãi và những lo lắng của chúng ta, Giáo Hội nhấn mạnh rằng để trung thành yêu thương trong cung cách của giao ước không phải là một giả định đối với những thánh nhân thần bí là những con người hoàn hảo, nhưng là một giao ước thực tế và có thể đối với những tội nhân, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Bí Tích Hôn Nhân… chiến chỗ trong cái đơn giản và mỏng dòn của điều kiện con người. Chúng ta biết nhiều thử thách và những khó khăn mà những cặp vợ chồng gặp phải… Điều quan trọng là hãy giữ mối giây mật thiết với Thiên Chúa, và đó là căn bản của sự ràng buộc hôn nhân.” 53

60. Để yêu theo cách thế này không phải là những gì chúng ta trì hoãn, bằng cách nói rằng chúng ta sẽ cố gắng một khi chúng ta dành thời gian cho những câu hỏi thực hành này; hơn nữa, thực hành những câu hỏi của đời sống chỉ đạt được một cách đầy đủ khi chúng ta yêu thương theo cách này. Để yêu theo cách này không phải là một ý tưởng về một chân trời không bao giờ tàn lụi; hơn nữa, để yêu theo cách này là một cái gì chúng ta chọn để làm trong mọi ngày trong cuộc sống, bắt đầu từ ở đây, ngay giữa những căng thẳng hằng ngày, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã dậy trong một trường hợp khác:

Hôn nhân là công việc của mọi ngày; cha có thể nói đó là công việc thủ công, công việc của người thợ kim hoàn, bởi vì người chồng có một công tác làm cho vợ mình trở thành người đàn bà hơn, và người vợ có một công tác làm cho người chồng mình trở thành đàn ông hơn. Cũng để phát triển trong con người, như một người đàn ông và một người đàn bà. Và điều này được hoàn tất giữa hai người.Nó được gọi là cùng nhau thăng hoa. Điều này không rơi từ trên trời xuống! Thiên Chúa chúc lành cho nó, nhưng nó đến từ bàn tay của các anh em, từ thái độ của anh em, từ cung cách sống của anh em. Hãy làm cho chính mình phát triển! Hãy luôn làm như vậy để người khác phát triển.”54

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhận thức rằng nhiều người có thể sợ hãi một thách thức như thế, những người này phải tránh cho hôn nhân khỏi chủ nghĩa hoài nghi hoặc sợ hãi:

Ngày nay nhiều người sợ hãi thực hiện một quyết định dứt khoát mà nó ảnh hưởng trên tất cả đời sống của họ, bởi vì nó xem như không có thể… và tâm trạng này khiến nhiều người sửa soạn bước vào hôn nhân nói, “chúng ta sẽ sống với nhau bao lâu còn tình yêu.”Nhưng chúng tôi nghĩ thế nào về “tình yêu”?Một cảm giác thuần túy, một tình trạng tâm sinh lý?Dĩ nhiên, nếu nó là thế, nó không thể cung ứng một nền tảng cho việc xây dựng một cái gì vững chãi.Nhưng thay vào đó, nếu tình yêu là một mối dây liên hệ mật thiết, lúc đó nó là một thực tại phát triển, và chúng ta cũng có thể nói, qua chứng minh rằng nó được xây lên tương tự cách thế mà chúng ta xây một ngôi nhà. Và chúng ta xây một ngôi nhà với nhau, không riêng lẻ một mình… Các bạn sẽ không mong ước xây nó trên cát lún của tình cảm; nhưng trên đá của tình yêu chân thật, tình yêu đến từ Thiên Chúa… Chúng ta không được cho phép chúng ta để mình bị chinh phục bởi một “văn hóa loại bỏ.” Sự sợ hãi cái “vĩnh viễn” này được chữa bằng cách phó thác chính mình ngày từng ngày cho Chúa Giêsu Kitô trong một cuộc sống mà nó trở thành con đường thần linh mỗi ngày cho sự phát triển chung, từng bước một.” 55

 

Hôn nhân tốt được xây trên nhân đức, đặc biệt lòng thương xót và trinh tiết

 

61. Người muốn xây hôn nhân của mình trên đá sẽ gieo trồng những nhân đức. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo bảo đảm rằng trong Bí Tích Hôn Nhân, Chúa Kitô ở với đôi vợ chồng, giúp họ mang lấy thánh giá của họ, “để chỗi dậy sau khi họ ngã,” để tha thứ và mang lấy gánh nặng của nhau. 56  Đức Giáo Hoàng Phanxicô đưa ra một điểm nối một cách giản dị khi ngài nói sống chung với nhau là một “nghệ thuật … mà nó có thể được tóm gọn trong (một số) chữ: làm ơn, cám ơn, và xin lỗi.” 57 Học để nói những chữ này có thể khó.Nhưng hôn nhân có thể trở nên rất đắng đót, rất mau kết thúc, khi vắng bóng những từ ngữ đơn giản này.

 

62. Tất cả các nhân đức cột trụ (khôn ngoan, công bằng, đại đảm, tiết độ) và các nhân đức đối thần (tin, cậy, và mến) là cần thiết và chính đáng cho hôn nhân để thăng hoa. Trinh khiết, một cách đặc biệt, là hạt giống từ đó những cuộc hôn nhân bền vững vươn lên. Để huấn luyện con tim của chúng ta cho hôn nhân, chúng ta cần thực hành sự tự do nội tâm, thực hành nhìn tính dục chúng ta trong ngôn ngữ của hiệp thông, và sự thánh thiện cá nhân của mỗi người. Khiết tịnh làm nên những tập quán tốt của việc tự từ bỏ và kiểm soát bản thân, là những đòi hỏi trước tiên cho việc đối xử với những người khác bằng lòng thương xót. Những ảo tưởng hôn nhân vắng bóng một trái tim trinh tiết, đem lại một khởi đầu nghèo nàn cho bước đi dài của xót thương.

 

63. Hiệp nhất hôn nhân thật cũng tùy thuộc vào lòng xót thương, một đức tính chúng ta học từ Chúa Giêsu và tìm gặp qua giao ước của Thiên Chúa. Trong Phụng Vụ, chúng ta cầu xin “Xin Chúa thương xót chúng con.”Chúa Giêsu ban cho chúng ta lòng xót thương của Ngài để chúng ta cũng có thể xót thương.

 

64. Lòng thương xót phát triển khi chúng ta yêu như Chúa Kitô đã chỉ cho chúng ta. “Ơn sủng của hôn nhân Công Giáo là hoa trái của thập giá Chúa Kitô, suối nguồn của mọi đời sống Kitô hữu.”58 Những người Công Giáo tin rằng “Chính Chúa Kitô hành động” trong bẩy bí tích, và Chúa Thánh Thần là ngọn lửa trong các bí tích, chuyên chở vào đời sống thần linh những gì nó chạm tới. 59 Trong Bí Tích Hôn Phối, giao ước của Thiên Chúa được trở nên hữu hình, ân sủng của giao ước được trao đổi và chia sẻ. 60 Trong Bí Tích Hôn Phối, giao ước của Thiên Chúa bước vào nhà chúng ta và trở nên những nền tảng của các gia đình.

 

65. Hôn Nhân Kitô Giáo là một tình trạng hỗ tương trong việc tự trao ban bản thân.Và dĩ nhiên có những lựa chọn, những kiểu cách hôn nhân khác mời gọi trong xã hội rộng lớn. Nhưng đối với mức độ mà “hôn nhân” là một cái giá chúng ta cho phép mình và một người bạn đời chỉ sau kết quả một thời gian dài những dạo khúc yêu đương, hoặc đối với một thời gian mà “hôn nhân” là một cuộc trao đổi, một chia chác quyền lợi giữa những cá nhân bảo vệ quyền lợi của mình, thì chúng ta gieo hạt giống bất hòa và thất vọng. Eros (bản năng, thần tình yêu) sẽ giảm thiểu và biến chất, và trọng tâm của những quyền lợi chính đáng không phải là phần đất mầu mở của lòng thương xót.

 

66. Qua các thế kỷ, con người lấy nhau không vì những lý do, một số cao sang quyền quí, một số khác dân dã. Trong bí tích hôn phối, Giáo Hội cho chúng ta một nơi cư trú, ân huệ, và bài học thường ngày trong bản chất tình yêu của Thiên Chúa. Những lời thề thệ hôn của Giáo Hội nhắc nhở một cách kiên trì người chồng và người vợ về những đặc tính tốt đẹp hơn, và tình trạng của một hôn nhân liên quan tới những bí tích khác, đặc biệt, Bí Tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể. Thành quả bí tích này đặt sự hòa giải và chung thủy trên nền tảng của đời sống hôn nhân, và làm như vậy, thúc đẩy và bảo vệ sự hiệp nhất chân thật giữa hai người. Đối với con người trong thời đại hậu tân tiến, không chắc chắn cái gì và ai có thể tin tưởng, một cuộc mạo hiểm như vậy xem như rủi ro. Nhưng Giáo Hội, một người mẹ hiểu trái tim con người hơn bất cứ người nào hiểu về chính mình, cũng biết Chúa Giêsu là Chúa, Đấng đáng tin cậy -- và cách Người yêu là, cho đến chết.

 

67. Chúa Giêsu thiết lập một cơ hội mới cho chúng ta, một hình ảnh về hôn nhân được đặt trên giao ước của Người với Giáo Hội, một hôn nhân đặt trên sự vĩnh viễn bền bỉ, trinh khiết, và thương xót. Chúng ta có thể thấy bí tích hôn nhân này phù hợp như thế nào với toàn bộ đời sống Kitô hữu, để vun trồng những nhân đức của tình yêu, tự do nội tâm, chung thủy, thương xót, và tha thứ là dự án đường dài suốt đời được xây trên những tập quán cầu nguyện, tham dự các Bí Tích, và làm quen với câu truyện của giao ước của Thiên Chúa. Chúa biết rằng, không một cuộc hôn nhân nào thực thi đầy đủ mọi nhân đức trong mọi lúc, nhưng với lòng thương xót của Ngài, Ngài ban cho Bí Tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể để nhờ đó chúng ta có thể tiến tới trong khả năng của mình để yêu như Chúa Giêsu đã yêu. Định hướng đời sống chúng ta theo cách thức này đòi hỏi sự hy sinh, nhưng cuối cùng, cuộc sống này đẹp đẽ. Chúa Giêsu là con đường dẫn đến sự thật và vui mừng.             

 

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN_______________________________

 

  1. Tinh thần Công Giáo của hôn nhân là gì? Những gia đình có thể làm gì để cử hành và bảo vệ hôn nhân Công Giáo?

 

  1. Nếu hôn nhân là một bí tích, thì những tình trạng đối với thời gian quen biết nhau là gì? Những đức tính nào chúng ta nên tìm kiếm nơi một người phối ngẫu tương lai?

 

  1. Bí Tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể liên quan thế nào với Bí Tích Hôn Phối?

 

  1. Trong Lời Cầu của Chúa, chúng ta đọc “xin tha nợ chúng con cũng như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Bạn cảm thấy dễ hoặc khó thực hiện điều này? Làm thế nào tha thứ có thể dẫn đến những tương quan mật thiết?

 

 

 

 

 

V. TẠO DỰNG TƯƠNG LAI

 

 

Hôn nhân có nghĩa là sinh sản và đón tiếp một đời sống mới.Trẻ em hình thành tương lai, cũng như các em được hình thành trong gia đình của mình.Không có trẻ em sẽ không có tương lai.Trẻ em được nuôi dậy bằng tình yêu và hướng dẫn sẽ là nền tảng cho một tương lại yêu thương.Trẻ em bị thương tích báo trước một tương lai thương tích.Các gia đình là nền đá kiên cố cho tất cả những cộng đồng rộng lớn hơn.Các gia đình là những giáo hội tại gia, là nơi ở đó cha mẹ dậy dỗ con cái khám phá ra rằng Thiên Chúa yêu thương chúng và có một chương trình cho đời sống mỗi em.

 

Hôn nhân đem bối cảnh thần linh lại với những cơ hội được tạo nên bởi sinh vật học

68. Hôn nhân bao gồm tình yêu, trung thành, và giao ước. Nhưng thực hành thế sẽ đem lại những mối tương giao giá trị.Hôn nhân là một cái gì minh bạch.Hôn nhân là một giao ước được xây trên quyền hạn sinh sản của người nam và người nữ.Đời sống động vật của chúng ta đặt ra những giới hạn và những cơ hội nhất định, và hôn nhân là câu trả lời để sống tình trạng này trong sự thánh thiện.

69. Chúng ta sẽ bàn về một câu trả lời khác - độc thân - ở chương sau. Chúng ta sẽ thảo luận những thách đố về tư tưởng sinh sản trong hôn nhân, những thách đố từng nêu lên từ những câu hỏi về ngừa thai trong hôn nhân và những liên quan mật thiết đồng phái tính ở chương 7. Trong phần này, chúng ta cần để thảo luận tình yêu hôn nhân liên quan với việc sinh sản của những người nam và những người nữ như thế nào đối với bí tích của giao ước của Thiên Chúa.

70. Hôn nhân là lời đáp trả đối với khả năng sinh sản của giữa những người đàn ông và những người đàn bà. Khi một người đàn ông và người đàn bà kết hôn bằng cách tiến thêm một bước nữa của việc ưng thuận một cách tự do đối với những lời cam kết hỗ tương của chung thủy và vĩnh viễn, 61  hôn nhân đặt việc sinh sản con cái trong bối cảnh của phẩm giá con người và tự do. Những lời hứa hôn phối cũng giống như giao ước của Thiên Chúa với Isreal và Giáo Hội. Hôn nhân, theo như giáo huấn của Giáo Hội, là “giao ước hôn phối, từ đó một người đàn ông và một người đàn bà thiết lập giữa họ mối tương quan mật thiết trọn đời và nó có mục đích do đặc tính của nó trở nên tốt lành giữa những người phối ngẫu và việc sinh sản và giáo dục con cái, được nâng cao bởi Chúa Kitô, Thiên Chúa đối với phẩm giá của một bí tích giữa những người đã được thanh tẩy.” 62Một cách vắn tắt, hôn nhân là sự hiệp nhất của cả đời sống và tình yêu.

71. Bí Tích Hôn Phối làm cho sức mạnh của giáo ước Thiên Chúa thành chung thủy, cũng như sự hiệp nhất của Ba Ngôi như Cha, Con và Thánh Thần, sẵn sàng cho người chồng và người vợ. Nền tảng thần linh này trở thành một lý do mới và sâu sa hơn cho việc sản sinh, cho việc đón tiếp những đứa trẻ là một sự nối dài của lòng quảng đại thiêng liêng. Trong cách này, chúng ta có thể thấy câu nói xưa của Augustine “ba điều tốt lành của hôn nhân” (con cái, chung thủy, và bí tích) được đâm rễ trong dự án thần linh. 64

 

Ơn gọi tinh thần của cha mẹ

 

72. Như bất cứ câu hỏi ơn gọi nào, câu hỏi phải chăng và khi nào có con không phải là điều để quyết định một cách đơn giản theo tự qui chiếu tiêu chuẩn con người. Có những điều kiện con người “thể lý, kinh tế, tâm lý, và xã hội”  thậtsự và chính đáng mà những người chồng vànhững người vợ cần quan tâm trong nhận thức của họ. 65 Nhưng, sau cùng câu hỏi trở thành cha mẹ tùy thuộc cùng một lý do như chính bí tích hôn phối: tình yêu hình thành sự phục vụ, hy sinh, tin tưởng, và mở rộng cho lòng rộng lượng của Thiên Chúa.  Hôn nhân Công Giáo được khởi đầu trên những bí tích và sự hỗ trợ của cộng đồng Kitô hữu, và do đó, khi những người phối ngẫu Công Giáo quan tâm trở thành những cha mẹ Công Giáo, họ tiếp tục trong cùng ý nghĩa tinh thần và cộng đoàn.

 

73. Khi những người phối ngẫu trở thành cha mẹ, sức mạnh nội tại của công trình sáng tạo Thiên Chúa và bí tích hôn phối được tỏ hiện trong cách thế đẹp đẽ và rõ ràng một cách cá biệt. Khi một người chồng và người vợ có những đứa con sau khuôn mẫu của tình yêu Chúa Kitô đối với chúng ta, cùng một tình yêu này cũng định hướng cho những cha mẹ mới trong việc giáo dục và sự hình thành tinh thần cho con cái họ. 66“Những người con là những mắt trong một giây xích”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói khi rửa tội cho 32 em bé mới đây. “Các bạn là những cha mẹ có con trai hay con gái được rửa tội, nhưng trong ít năm, chúng sẽ có con để rửa tội, hoặc một đứa cháu; và như vậy, là một giây xích của đức tin.”67

 

74. Giây xích cha mẹ và con cái nối dài cả thiên kỷ. Hai lần mỗi ngày - và mãi đến hôm nay - những lời cầu Sh’ma xưa của người Do Thái, một lời cầu được tìm thấy trong Đệ Nhị Luật:

 

Nghe đây, hỡi Isreal! Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết linh hồn, và hết sức anh em.Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ.Hãy lặp lại những lời ấy cho con cái anhem, phải nói lại cho chúng lúc chúng trong nhà, cũng như lúc đi đường, khi chúng ngủ và khi chúng thức. 68

 

75. Chúng tôi nhắc lại: Hãy lặp lại những lời ấy cho con cái anhem.Trọng tâm của lệnh truyền này, trách nhiệm nền tảng này, là tái khẳng định mỗi ngày giao ước giữa Thiên Chúa và Israrel. Cha mẹ phải nuôi nấng và hướng dẫn con đi vào tương quan cộng đồng với Thiên Chúa. Điều mà Đệ Nhị Luật nói: nhắc lại và chia sẻ những vinh quang Thiên Chúa với con cái anh chị em. Chúa Giêsu nói giống như vậy với các môn đệ của Người: Hãy để chúng đến với Thầy. (Mt 19:14) Cả Chúa Giêsu và sách Đệ Nhị Luật đều đang nói với chúng ta. Cả hai đều nói: Để bảo đảm con cái dưới sự chăm sóc của anh chị em có được mối liên kết với Thiên Chúa và Dân Ngài. Hãy dậy các em cầu nguyện và suy niệm lời Chúa.Nuôi dưỡng điều này mỗi ngày trong nhà anh chị em, và không làm cản trở nó.

                       

76. Ơn gọi này đem lại mục đích cho cha mẹ Công Giáo.Cùng một tình yêu đó chuyển đổi mau chóng những người đàn ông và đàn bà, dậy họ những con đường của giao ước và đem họ tới Bí Tích Hôn Phối, hướng dẫn một đôi vợ chồng thành một gia đình.69 Người chồng và người vợ trở nên người cha và người mẹ: “Khởi đi từ hôn nhân của người Kitô hữu dẫn đến một gia đình, trong đó những người công dân mới của xã hội được sinh ra, những người do ân sủng của Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận qua thánh tẩy được trở nên con Chúa, nhờ vậy nối tiếp dân Thiên Chúa qua các thế kỷ.” 70 Những người Kitô hữu có con không chỉ tiếp nối giòng dõi và xây dựng xã hội, nhưng toàn thể gia đình ấy phải được hình thành cho một cộng đoàn các thánh. Trong ngôn ngữ của Thánh Augustine, tình yêu sinh lý của người nam và người nữ “là mảnh đất, như nó là, của một thành phố,” 71 và cái ngài có trong đầu không phải là một thành phố của trái đất, một thành phố của xã hội dân sự, nhưng cũng là một thành phố thiên quốc, Giáo Hội đến từ bông hoa rực rỡ.

 

 

Đời sống trong giáo hội tại gia

 

77. Công Đồng Vaticanô II đã gọi gia đình là “giáo hội tại gia”, Ecclesia domestica:

 

Gia đình, vì thế được gọi là giáo hội tại gia. Trong đó cha mẹ bằng lời nói và gương sáng phải là những bậc thầy đầu tiên của đức tin đối với con cái; họ phải khuyến khích chúng trong ơn gọi phù hợp với mỗi người con, thúc đẩy chúng, một cách đặc biệt săn sóc cho ơn gọi tiến tới bàn thánh. 72

 

Ơn gọi tự nhiên của đời sống gia đình đòi hỏi sống với những quan tâm.“Tất cả cuộc sống con người được Thiên Chúa mời gọi thi hành một số bổn phận,” 73 nhưng, giống như xây dựng một hôn nhân, sự thấu triệt về một ơn gọi không “rơi xuống từ trời.”74  Những thói quen nhận thức có thể được dậy dỗ và vun trồng. Nó là trách nhiệm của người mẹ và người cha với các con tại nhà và trong thánh đường, và thường xuyên cầu nguyện chung với nhau. Chúng sẽ không học làm sao để thực hiện nó, nếu các em không được dậy dỗ. Cha mẹ có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ những cha mẹ đỡ đầu, ông bà, thầy cô, linh mục, tu sỹ để giúp họ hoàn tất trách nhiệm và từ đó chính họ cũng có thể phát triển và học về cầu nguyện. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một tu sỹ dòng Tên với nhiều năm đào luyện trong nghệ thuật vọng thức, diễn tả cầu nguyện và phân biệt ơn gọi đi chung với nhau như sau: “Điều quan trọng để có sự liên lạc hằng ngày với [Thiên Chúa], để lắng nghe Ngài trước Nhà Tạm và đi sâu vào chính mình, để nói với Ngài, để đến gần với các Bí Tích. Có được mối tương giao thân tình này với Chúa, giống như giữ cho cánh cửa sổ của đời sống chúng ta mở ra nhờ đó Ngài có thể làm cho chúng ta nghe được tiếng Ngài và nghe những gì Ngài muốn chúng ta làm.”75

 

78. Thực hành và giáo dục nhận thức như một gia đình bao gồm nhẫn nại và cầu nguyện, một ước muốn mạnh mẽ để tinh luyện những nguyên nhân, để hòa giải và thống hối, để nhẫn nại trong công việc tiệm tiến lớn lên trong nhân đức, để mở tầm nhìn của chúng ta đối với Thánh Kinh và chứng từ của Giáo Hội, và để hiểu đời sống nội tâm của con người. Học nhận thức đối với chúng ta và chuyển nó cho các con của chúng ta là những công tác bao hàm sự khiêm nhường, cởi mở đối với sự phân tích lợi ích và hữu dụng, và trao đổi làm cách nào Chúa có thể hành động trong đời sống của chúng ta. Đem ơn gọi vào đời sống bao gồm thiện ý muốn trở nên thành thật với những ước muốn của chính mình, nhưng, trên tất cả, là dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa, mở lòng cho những bất ngờ và những dự án mới mà chúng có thể xẩy ra khi chúng ta nói “ý Chúa, không phải ý con”. Thánh Têrêsa de Lisieux đã cầu nguyện cách này như một trẻ nhỏ, “Lạy Chúa con, con chọn tất cả. Con không muốn nên thánh nửa vời, con không ngại đau khổ vì Chúa. Con chỉ sợ duy nhất một điều - là con theo ý riêng mình. Vì thế xin hãy nhận lấy, vì con đã chọn tất cả những gì mà Chúa muốn.”77

 

79. Một cách đặc biệt khi gia đình có nhiều con nhỏ, cha mẹ đối diện với nhiều căng thẳng. Đây là sự đòi hỏi của bậc làm cha mẹ.Đúng vậy, nếu mục đích của đời sống gia đình Kitô hữu là mở cửa sổ gia đình cho ân sủng Thiên Chúa đi vào trong đời sống thường ngày, thì ngay khi ở giữa những mệt mỏi, và những hỗn loạn bên trong, cha mẹ có thể tiếp tục mở cửa cho Chúa Thánh Thần. Không ai muốn làm gánh nặng của cha mẹ nặng nề hơn. Nhưng “tình yêu linh thánh… không phải là cái gì được dành riêng cho những chuyện quan trọng, nhưng phải được tìm kiếm trước nhất trong những tình huống thông thường của cuộc sống.”78 Trong cái mong manh của những giây phút như vậy, cha mẹ có thể khám phá những gì khi Thánh Phaolô có ý nói “chính khi tôi yếu đuối, là lúc tôi mạnh khỏe.” (2 Cor 12:10, NRSV)

 

80.Nuôi dưỡng con cái là cách thế làm giảm bớt những tự phụ, để làm chúng ta nhỉn ra rằng chúng ta không tự mình đầy đủ nhưng cần sự giúp đỡ và sức mạnh từ Thiên Chúa, gia đình, giáo xứ và bạn hữu. Cách thức một gia đình ứng phó với những bất hạnh và bệnh tật, hoặc tụ họp bên bàn ăn và cầu nguyện, hoặc những quyết định tài chính, và hoặch định những ưu tiên, hoặc hình thức gia đình thực hiện những chọn lựa giải trí, việc làm hoặc nghề nghiệp của cha mẹ, học vấn của con cái, ngay cả thói quen ngủ nghỉ - những điều này và những lãnh vực khác thường ngày của “kinh tế gia đình” hình thành những hình ảnh và những chân trời của con cái. Những thói quen trong gia đình có thể là “những nơi chốn bé nhỏ” ở đó Thánh Thần chiếu dãi vào, ở đó một cử chỉ nhẹ nhàng và lòng hiếu khách Kitô giáo lưu lại suốt cuộc sống.

 

 

Hiện tình văn hóa chúng ta đòi hỏi các gia đình phải biết phân biệt

 

81. Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn ta những ý tưởng này bằng một đường lối thực dụng:

 

Tôi nghĩ chúng ta tất cả tiến bộ một chút trong sự kính trọng này: bằng việc trở thành những người biết lắng nghe tốt hơn Lời của Chúa, để ít lời trong những ngôn từ của chúng ta, và giầu có hơn bằng Lời Ngài… Tôi nghĩ rằng những người cha và những người mẹ, những nhà giáo dục đặc biệt [của con cái]: Làm cách nào họ có thể giáo dục chúng nếu lương tâm chúng không được chiếu sáng bởi Lời của Thiên Chúa? Nếu cách chúng suy nghĩ và hành động không được hướng dẫn bởi Lời Chúa, lấy gương sáng nào họ có thể cho con cái của họ? Điều này quan trọng, bởi vì có những cha mẹ kêu ca: “Ôi! Đứa trẻ này…” Nhưng các bạn, chứng từ nào các bạn cho đứa trẻ?Làm cách nào các bạn nói với nó?Có bao giờ các bạn nói với nó về Lời Chúa chưa, hoặc về những tin trức trên truyền hình? Những người cha và những người mẹ cần phải nói về Lời Chúa! Và tôi nghĩ tới những giáo lý viên và tất cả những ai dấn thân trong việc giáo dục; nếu trái tim của họ không được sưởi ấm bằng Lời Chúa, làm sao họ có thể sưởi ấm trái tim người khác, của các em, của giới trẻ, của người lớn?  Nhưng đọc Thánh Kinh mà thôi chưa đủ, chúng ta cần phải lắng nghe Chúa Giêsu trong đó… Chúng ta hãy tự hỏi mình… Lời Chúa chiếm vị trí nào trong đời tôi, trong sinh hoạt hàng ngày của tôi? Tôi nghe tiếng Chúa hay những tiếng vo ve hoặc chính tôi? Đây là câu hỏi mà mỗi người trong chúng ta cần tự hỏi chính mình.”79

 

82. Đức Thánh Cha Phanxicô đã ám chỉ đến những tin tức trên TV, mà chúng ta thông thường dựa vào khi nêu lên vấn đề truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội internet, và những hình thức khác của văn hóa đại chúng. Chú tâm đến những hình thức này của văn hóa không phải là cái gì mà có thể xẩy ra trên hệ thống định vị; để kết hợp những hình thức văn hóa một cách có hiệu quả, cũng đòi hỏi sự phán đoán.SáchGiáo Lý Giáo Hội Công Giáo, trong phần thảo luận về giáo hội tại gia, ghi chú rằng thế giới hôm nay “thường xa lạ và ngay cả thù nghịch với đức tin.” 80 Trong một nền văn hóa phân hóa, nơi mà môi trường truyền thông và xã hội có thể xói mòn quyền bính cha mẹ một cách tổng quát, và đặc biệt bổn phận làm cha mẹ Công Giáo, cả cha mẹ và con cái cần phản ảnh trong cách sống của họ là ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. 81

 

83. Khi bất cứ ai trong chúng ta - đặc biệt là trẻ em - va chạm với văn hóa, nó sẽ khuôn mẫu tư tưởng và tham vọng của chúng ta. Phần đông, tất cả chúng ta - nhưng đặc biệt là trẻ em - học biết những kỳ vọng của chúng ta về một đời sống tốt đẹp từ những hình ảnh, phim ảnh, âm nhạc, và những câu truyện trong đời sống chúng ta. Chính vì thế, tùy thuộc vào cha mẹ, đại gia đình, cha mẹ đỡ đầu, những người lớn tuổi khôn ngoan, và những nhà giáo dục để hướng dẫn cách thức trình bày này, và để chắc rằng những tưởng tượng của con cái được khuyến khích và nuôi dưỡng do của ăn luân lý lành mạnh, với chất liệu bảo vệ sự đơn sơ của chúng, cho chúng niềm khao khát về sự thích thú của đời sống Kitô hữu, và tiến tới đón nhận ơn gọi để sống. Vẻ đẹp và nhìn ngắm là một phần môi trường thông thường của một đứa trẻ vì thế các trẻ em có thể học để nhận ra chiều kích bí tích đối với thực tế. Các bậc cha mẹ, những người cao niên, những cha mẹ đỡ đầu, những thân nhân, những giáo dân của một giáo xứ, các giáo lý viên, và các thầy cô cần làm gương những điều này này cho các em. Nhận thức của tuổi trẻ cần thiết gồm “cuốn sách hiểu biết”.Khả năng đọc và viết tinh thần bao gồm biết những dữ kiện đề về đức tin. Nhưng còn quan trọng hơn nữa để dậy con cái biết cầu nguyện như thế nào, và cho chúng những gươngsáng, những kiểu mẫu của các người lớn đối với chúng để làm chứng và khuyến khích chúng tiến tới.

 

84. Những trẻ em lớn hơn và những em vị thành niên có thể trở nên tự ý thức và phản tỉnhmột cách thích hợp về nền văn hóa quanh mình, cũng như bắt đầu hình thành một viễn cảnh trưởng thành về cầu nguyện và nhận thức ơn gọi. Những chủ đề quan trọng này phải là một phần của việc chuẩn bị để đón nhận Bí Tích Thêm Sức, mà tự nó sẽ ban ơn để nâng đỡ người môn đệ trung thành trong những vấn nạn này.82

 

 

Gia đình và giáo xứ tùy thuộc lẫn nhau

 

85.Dĩ nhiên Giáo hội tại gia (Ecclesia domestica) không thể tồn tạimà không có Giáo Hội(Ecclesia). Giáo hội tại gia bao hàm mối giây liên lạc đối với Giáo Hội hoàn vũ: “Gia đình là một ‘Giáo Hội nhỏ bé’, phải liên kết mật thiết với ‘Giáo Hội lớn’, đó là, vào trong gia đình của Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã đến để thiết lập.” 83 Thường xuyên tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật với Giáo Hội hoàn vũ là một sine qua non cho giáo hội tại gia để hoàn tất cái tên của nó.Giáo Hội hoàn vũ là người cưu mang và là thầy của giao ước Thiên Chúa với Dân Ngài, cùng một giao ước mà nó cung ứng sức mạnh và bênh đỡ đời sống hôn nhân và gia đình.

 

86. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nói về giáo xứ như một “gia đình của các gia đình” nghĩa là “có thể chia sẻ với mỗi phần tử, không phải những vui mừng nhưng còn những khó khăn không thể tránh được khi bắt đầu đời sống gia đình.” 84  Dĩ nhiên, những bí tích và rất thông thường những hành động tay chân của lòng thương xót có thể trở thành thuận tiện một cách hữu dụng nhờ giáo xứ. Các trẻ em cần nhìn vào đời sống của cha mẹ và những người lớn qua chứng minh mối liên hệ với người nghèo khó và làm những việc phục vụ người nghèo.Các giáo xứ và các giáo phận có thể giúp cung cấp những cơ hội này.85  Giáo hội tại gia phục vụ giáo xứ và được phục vụ bởi giáo xứ.

 

87. Giáo xứ, giáo phận và những tổ chức Công Giáo khác như các trường sở, các phong trào, và các hiệp hội, là chìa khóa đặc biệt đối với các trẻ em không có đủ cha lẫn mẹ. Trẻ em có thể không có một người hoặc cả cha lẫn mẹ vì nhiều lý do, bao gồm chết, bệnh tật, ly dị, di dân, chiến tranh, nghiện ngập và hút sách, bạo hành gia đình, ngược đãi, bắt bớ chính trị, thất nghiệp, hoặc nghèo túng do công ăn việc làm bấp bênh. 86Buồn thay, một đôi khi những người chồng, những người vợ và những người cha, những người mẹ chia lìa nhau, với những lý do thường khiến chúng ta xót xa. “Thay đổi tình cảm đã khiến đau khổ cho con cái những vợ chồng ly tán, những đứa trẻ bỗng nhiên thấy mình ở với cha mẹ đơn chiếc hoặc trong một gia đình “mới” đặt ra một thách đố cho các giám mục, những giáo lý viên, những thầy cô, và tất cả những ai có trách nhiệm với tuổi trẻ… Nó không phải là câu hỏi đặt ra cho cha mẹ chúng, nhưng còn chung với chúng nữa.”87

 

88. Để một giáo xứ chính thức trở thành một “gia đình của những gia đình” đòi hỏi những việc làm sáng tạo về hiếu khách và quảng đại. Thánh Gioan Phaolô II đã nói rằng “mở cửa của ngôi nhà một người, nhưng hơn nữa là mở trái tim người đó,” là một cách bắt chước Chúa Kitô. 88 Để cho đi sự giúp đỡ và đón nhận sự giúp đỡ là những việc làm thân thiện. Không ai, đặc biệt là một em nhỏ, những cha mẹ phấn đấu với những khủng hoảng không chờ đón, những người già cả yếu đuối, hoặc bất cứ một ai đang đau khổ, có thể bị lẻ loi trong gia đình giáo xứ. Không có sự thay thế nào cho những giáo hữu thường ngày đơn thuần trở thành bạn hữu và phục vụ nhau trong tuần, tiếp tục nhà thờ ngoài những sáng Chúa Nhật. Những giáo dân đối xử với nhau thế nào sẽ định giá giáo xứ đó có hoàn tất sứ vụ của nó bằng cách đó hay không. Viễn tượng này về đời sống của một giáo xứ phải được hướng dẫn và làm gương bởi giáo sỹ, dĩ nhiên một cách đặc biệt nơi những giáo xứ đông người, ở đó có thể là một cám dỗ đối với những người nặc danh.Nhưng, cuối cùng để làm một giáo xứ sống động trong cách này không thể là việc làm của giáo sỹ.Đây là tầm nhìn của đời sống giáo hội mà nó đòi hỏi người tín hữu.Thánh Phaolô đã nói với dân thành Galata rằng nếu anh em “mang lấy gánh nặng của nhau” thì anh em “sẽ hoàn tất lề luật của Chúa Kitô.” (Gal 6:2, NRSV)Do mối liên hệ, nếu chúng ta không mang lấy những gánh nặng của nhau, nếu chúng ta bỏ rơi những gia đình có vấn đề và những người độc thân đang giam mình trong cô đơn, thì chúng ta đang mau chóng tự bán mình. Nếu lối sống chúng ta không đặt trên sự hiệp thông và phục vụ, thì chúng ta không thể phát triển.Chúng ta được tạo dựng cho người khác, và sống như buồn phiền không có thật, một cách thua thiệt để hoàn tất luật hiến trao mạng sống của Chúa Kitô.

 

89. Hiếu khách đối với những trẻ em bơ vơ sẽ làm dấy lên một cách tự nhiên câu hỏi về việc nhận con nuôi. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói với một hội nghị các gia đình nhận con nuôi như sau:

 

Nhận nuôi một em nhỏ là một hành động cao cả của tình yêu.Khi việc này đã hoàn tất, thì cho đi nhiều, nhưng cũng nhận lại nhiều.Nó đúng là một việc trao đổi những tặng vật.

 

Trong lãnh vực này, bất hạnh thay, ở thời đại chúng ta thấy có nhiều mâu thuẫn. Mặc dù con số những trẻ em do cái chết của cha mẹ hoặc do sự bất lực của cha mẹ, bị bỏ rơi  không gia đình, còn lại quá nhiều cặp vợ chồng quyết định không có con thường là vì những lý do ích kỷ. Một số khác để mình bị nhát đảm vì kinh tế, xã hội, hoặc những khó khăn hành chính. Số khác còn lại trong ước muốn có con “tự mình” bằng mọi giá, đi vượt khỏi sự giúp đỡ chính đáng của y khoa có thể cung ứng trong việc sinh sản, ngay cả những phương pháp đối với những ứng dụng sai trái một cách luân lý. Liên quan đến những khuynh hướng này, phải nói rằng những cách thức của luật luân lý là những nguyên tắc hơi trìu tượng, nhưng lại bảo đảm cho con người tốt thực sự, và trong trường hợp này, cái tốt của một đứa trẻ với sự tôn trọng đối với những quan tâm của cha mẹ. 89

 

Thánh Gioan Phaolô II hy vọng rằng “Các gia đình Kitô giáo sẽ có thể cho thấy những sẵn sàng 

lớn hơn để nhận nuôi những đứa trẻ không cha mẹ hoặc bị cha mẹ bở rơi.” 90  Người ta có thể mạo hiểm với hy vọng này bởi vì tình yêu mà nó làm sống động hôn nhân Kitô giáo là giao ước của Thiên Chúa, một tình yêu trong đó sẵn sàng đón tiếp một cách vĩnh viễn và đổ đầy với sự sống.

 

90. Sự thân mật tính dục giữa những người đàn ông và những người đàn bà nêu lên thực trạng về con cái. Không có sự liên kết nào mang theo tình trạng căn bản, cơ thể và sinh vật học này. Hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà đem cơ hội sinh sản này vào trong một ý nghĩa thiêng liêng. Cha mẹ là một ơn gọi tinh thần, vì nó mang ý nghĩa căn bản chuẩn bị con cái chúng ta thành những vị thánh. Tham vọng gắn kết này đem đến lòng khiêm nhường nhưng là những thực hành quan trọng trong gia đình giống như cầu nguyện và vun trồng tình trạng tinh thần.Nó đòi hỏi cha mẹ phải quan tâm đến cách thức gia đình liên hệ trong một nền văn hóa rộng lớn hơn. Giới thiệu Thiên Chúa cho con cái có nghĩa là một giáo hội tại gia sẽ muốn liên kết với giáo xứ cũng như Giáo Hội hoàn vũ rộng lớn hơn. Những thách đố của đời sống gia đình hòi hỏi sự giúp đỡ - không một gia đình nào có thể tự chính mình phát triển.Để phát triển, những gia đình cần những giáo xứ, và những giáo xứ cần chúng.Người giáo dân cần để thiết lập và phục vụ những sứ vụ này.

 

 

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN ________________________________

 

  1. Người nam và người nữ kết hôn khác với những người bạn thân khác như thế nào?

 

  1. Có bao giờ bạn cầu nguyện, đọc Thánh Kinh với các con, hoặc thảo luận một vài lãnh vực về đức tin với con cái mình chưa? Nếu các bạn không phải là những người làm cha mẹ, vậy ai là người bạn và người hướng dẫn của những đứa trẻ trong đời bạn?

 

  1. Những tập quán của nhận thức? Sự tiếp thu ơn gọi vào cuộc đời nhìn giống cái gì?

 

  1. Giáo Hội tại gia là gì? Giáo xứ phục vụ gia đình và gia đình phục vụ giáo xứ như thế nào?  Làm thế nào để gia đình và giáo xứ có thể “hoàn tất luật của Chúa Kitô” như đã được diễn tả ở đoạn 6 câu 2 thư gửi giáo đoàn Galata?

 

 

 

 

VI. TẤT CẢ TÌNH YÊU MANG LẠI HOA TRÁI

 

 

 

Không phải mọi người được kêu gọi để kết hôn.Nhưng mọi cuộc sống đều mang ý nghĩa sinh sản. Mỗi cuộc sống có một sức mạnh và nhu cầu để phát sinh một sự sống mới -- nếu không qua việc sinh sản con cái, thì cũng qua những hình thức sống động khác của việc cho đi chính mình, xây dựng, và phục vụ. Giáo hội là một đại gia đình bao gồm nhiều ơn gọi, mỗi ơn gọi đều khác nhau, nhưng cần thiết và hỗ trợ nhau.Ơn gọi linh mục, đời thánh hiến, và ơn gọi giáo dân độc thân làm phong phú, và được phong phú bởi chứng từ của đời sống hôn nhân.Những cách thức thanh tịnh khác nhau và cử hành ngoài hôn nhân là những hình thức dâng hiến cuộc đời cho việc phục vụ Thiên Chúa và cộng đồng nhân loại.

 

Sự sản sinh tinh thần của người độc thân

 

91. Hai bí tích cá biệt của Giáo Hội trong đó cả hai đều dâng hiến “cho sự cứu độ người khác”. Cả hai Bí Tích Truyền Chức và Hôn Phối “ban ân huệ đặc biệt cho một sứ mệnh riêng trong Giáo Hội để phục vụ và xây dựng dân Thiên Chúa.” 91

 

92. Nói một cách khác, không phải mọi người đàn ông và đàn bà cần trở nên cha mẹ để chiếu tỏa tình yêu Thiên Chúa hoặc để thông phần trong “gia đình của các gia đình” mà chúng ta hiểu như Giáo Hội. Ơn gọi linh mục hoặc khấn dòng, có cái vinh quang và hoàn hảo của nó.Giáo Hội luôn luôn cần các linh mục và tu sỹ, và cha mẹ phải giúp con cái họ lắng nghe cho cơ hội mà Thiên Chúa có thể gọi chúng để dâng hiến cuộc đời chúng trong ơn gọi này.

 

93. Hơn nữa, có nhiều người tín hữu độc thân với những vị trí không thể thay thế của họ trong Giáo Hội. Giáo Hội nuôi dưỡng nhiều hình thức thực hành khác nhau đời sống hôn nhân, nhưng tất cả bằng cách này hay cách khác, là một ơn gọi để phục vụ Giáo Hội và nuôi dưỡng sự hiệp thông trong những cách thế mà chúng tương tự với việc cha mẹ nuôi dưỡng con cái.

 

94. Độc thân thực sự - giáo dân, truyền chức, hoặc khấn dòng - đều nhắm tới đời sống xã hội và cộng đoàn. Trở thành một “người cha tinh thần” hoặc “người mẹ tinh thần” - có lẽ như một thành phần của giáo sỹ hoặc tu sỹ, nhưng cũng như một người cha mẹ đỡ đầu, hoặc một người thân được nhận nuôi, hoặc một giáo lý viên, hoặc một thầy cô, hoặc đơn thuần là một người cố vấn và bạn hữu - là ơn gọi căn bản, một điều gì đó cần thiết cho một cộng đoàn Kitô hữu lành mạnh và thăng tiến.

 

95. Thánh Gioan Phaolô II đã có lần phản ảnh về những phẩm tính người mẹ của Mẹ Têrêsa, và bằng sự kéo dài hoa trái và sự sản sinh tinh thần của đòi sống độc thân một cách tổng quát hơn:

 

Không có gì khác thường để gọi một nữ tu là “mẹ”.Nhưng tên gọi này đã có một cường độ đặc biệt đối với Mẹ Têrêsa. Một người mẹ được thừa nhận do khả năng cho đi chính mình. Nhìn thái độ, dáng điệu, cung cách của con người, giúp chúng ta hiểu nó như thế nào đối với mẹ, bên kia tầm kích thuần túy thể lý, là một người mẹ, nó giúp mẹ đi vào căn nguyên tinh thần của vai trò làm mẹ.

 

Chúng ta biết chắc chắn cái bí mật của mẹ là gì: Mẹ được tràn đầy với Chúa Kitô, và vì thế nhìn mọi người với cặp mắt và trái tim của Chúa Kitô. Mẹ đã đón nhận một cách nghiêm chỉnh lời của Ngài: “Ta đói và ngươi đã cho ta ăn…” Vì thế mẹ đã không có vấn đề trong việc “đón tiếp” người nghèo của mẹ như những người con.

 

Tình yêu của mẹ là cụ thể và mạo hiểm: nó khuyến khích mẹ đi tới nơi chỉ có ít người đã có can đảm đi, bất cứ nơi nào nghèo túng lớn lao để sợ hãi.

 

Điều không ngạc nhiên là con người ở thời đại chúng ta đã được mẹ làm cho say mê. Mẹ đã hóa thân tình yêu mà Chúa Giêsu đã nhấn mạnh như điểm đặc biệt của những môn đệ của Ngài: “Thiên hạ sẽ cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.” 92

 

Những đời sống sáng ngời như Chân Phước Têrêsa của Calcutta và Thánh Gioan Phaolô II chứng tỏ rằng độc thân trong nhiều cách thế khác nhau của nó có thể là một con đường rất hứng thú, và đẹp đẽ của đời sống.

 

 

Tình trạng và những cơ hội của độc thân

 

96. Trước đây trong tập giáo lý này, trích dẫn lời Thánh Augustine, chúng ta đã thấy rằng mục đích của việc có con không chỉ thuần túy là tiếp tục nòi giống hoặc xây dựng xã hội dân sự, nhưng để đông đảo trên thành đô thiên quốc với niềm vui của đời sống mới. Sự khác biệt này - giữa mục đích tự nhiên của sinh sản và ơn gọi thần học để chuẩn bị đông đảo dân số cho Vương Quốc của Thiên Chúa - để Giáo Hội tiến tới điểm xa hơn: Đầy tràn phẩm giá của họ như những người đàn ông, đàn bà, tất cả mọi người có thể là hoa trái, nhưng không phải hết mọi người cần kết hôn.

 

97. Giáo Hội trình bày hôn nhân như một ơn gọi, một cơ hội; vì thế nó không thể là một đòi hỏi hoặc luật lệ cho việc thăng hoa đời sống Công Giáo.93 Theo đó, thì độc thân cần thiết để tồn tại trong đời sống xã hội của Giáo Hội để cho hôn nhân trở nên một vấn đề tự do hơn là bắt buộc. Độc thân là sự chọn lựa nếu thực tế có hơn một con đường đối với thứ tự đời sống sinh lý của con người, nam tính hay nữ tính của con người trên thiên đàng. “Đời sống gia đình là một ơn gọi mà Thiên Chúa phú bẩm vào bản tính người đàn ông và đàn bà, và có một ơn gọi nữa mà nó bổ túc cho hôn nhân: ơn gọi sống độc thân và đồng trinh nhân danh Nước Trời. Nó là ơn gọi mà chính Chúa Giêsu đã sống.”94

 

98. Độc thân và hôn nhân không xung khắc với nhau. Một lần nữa, như Thánh Ambrôsiô đã dậy: “Chúng ta không ca tụng bất cứ đời sống nào trong đó để loại bỏ những cái khác... Đấy là những gì làm cho phong phú nguyên tắc của Giáo Hội.”95  Độc thân và hôn nhân là những ơn gọi bổ túc lẫn nhau bởi vì cả hai nói lên rằng sự mật thiết sinh lý không thể là một phân biệt hơn kém. 96  Cả những người độc thân và những người đã kết hôn đều tôn trọng cấu trúc của giao ước tình yêu và tránh “lên án” hoặc thân thiết có điều kiện. 97 Cả độc thân và hôn nhân loại bỏ sinh lý trong ý nghĩa của những gì Đức Thánh Cha Phanxicô đã gọi là “nên văn hóa loại bỏ.”98 Cả độc thân và hôn nhân loại bỏ những liên hệ tính dục được cho là duy chỉ thỏa mãn ước muốn dục vọng.

 

99. Tuân thủ những luật lệ của độc thân và hôn nhân là hai con đường cho những người đàn ông, đàn bà trở nên liên kết với nhau mà không có sự lợi dụng sinh lý. Độc thân và hôn nhân chỉ là hai cách thế của cuộc sống cùng dẫn đến kết luận rằng hôn nhân là hoàn tất hình thức nhân loại cho những hành động sinh sản dưới ánh sáng của kiểu mẫu Thiên Chúa mà nó lưu truyền trong chúng ta và hình thành đời sống chúng ta. Đời độc thân - bao gồm không chỉ các linh mục, những tu sỹ khấn hứa, nhưng cả đối với những người tiết dục ngoài hôn nhân - là lối sống của nhiều người không kết hôn nhưng là những người tôn trọng những giao ước.

 

100. Tất cả những gì Giáo Hội đã dậy về con người được tạo dựng để vui mừng, về con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, về nhu cầu yêu và được yêu, được áp dụng đồng đều cho những người độc thân và có gia đình. Độc thân có thể được xác nhận và vĩnh viễn, giống như đời sống khấn hứa của các tu sỹ, hoặc một số người không thể kết hôn do bị bất lực hoặc do tình huống, hoặc chỉ vì vĩnh viễn một cách tiềm ẩn, khi một người trẻ tìm hiểu một ơn gọi. Trong tất cả những trường hợp này, người độc thân bước theo dấu chân của Chúa Giêsu, làm thăng hoa bằng cách dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và tín thác vào dự án của Ngài, và xây dựng một đời sống được cho là yêu thương người khác với lòng xót thương, nhẫn nại, quảng đại và phục vụ.

 

101. Trong bất cứ một xã hội nào, số đông sẽ bị coi thường nếu hôn nhân được coi như bắt buộc,  cũng như nếu người ta cần một người bạn lãng mạn để có đôi. Độc thân trong Giáo Hội chống lại ý tưởng sai lệch này. Chẳng hạn như, những người góa bụa thường xuyên bị bỏ qua một bên trong những xã hội truyền thống, và những người độc thân trong các thành phố tân tiến thường xã hội hóa trong các câu lạc bộ, các tửu quán, và các tiệm rượu ở đó quan hệ tình dục là bình thường. Để thiết lập một khoảng cách lựa chọn, ở đó những người không kết hôn có thể cảm thấy vui mừng và có một sứ vụ, là tinh thần hiếu khách thẳm sâu, một cái gì mà những người Kitô hữu cần làm cho nhau như một hình thức của tự do và đón tiếp.

 

102. Một số người, do những trường hợp vượt ngoài sự kiểm soát của họ, sẽ muốn kết hôn, nhưng không thể tìm được người phối ngẫu. Một đời của hy vọng và chờ mong không có nghĩa tuyệt vọng đối với sự hiện hữu vô sinh. Khi sống trong sự sẵn sàng đón nhận đối với ý Chúa như nó được phơi bày trong lịch sử mỗi cá nhân, làm cho tiếng xin vâng (fiat) của Đức Maria trở nên của mỗi người, 99 những lời chúc phúc có thể từ đó mà ra. Vì mọi người được mời gọi để cho đi và nhận lãnh tình yêu, bởi vì tình yêu Kitô giáo là một cái nhìn từ ngoài, độc thân là một thực hành chung. Khi chúng ta yêu nhau một cách tiết độ ngoài hôn nhân, hoa trái là tình bạn: “Nhân đức của thanh tịnh nở hoa trong tình bạn hữu… Tiết độ là một kinh nghiệm cao cả trong tình bạn với người lối xóm của mình.Dù nó phát triển giữa những cá nhân của người cùng hoặc khác giới tính, tình bạn giới thiệu một điều tốt cao cả đối với tất cả.Nó hướng dẫn tới sự hiệp thông tinh thần.”100

 

103. Những người độc thân - và một số giới hạn nhưng một cách nào đó giá trị giống nhau, những cặp vợ chồng vô sinh -   cũng có được sự tự do cá biệt, một quyền tự do hấp dẫn đối với những hình thức phục vụ, bạn hữu, và cộng đoàn. Những người độc thân và những người không có con liên quan thuận lợi hơn đối với những kinh nghiệm tiết chế trong cuộc sống cộng đoàn, đối với nghề nghiệp đòi hỏi sự uyển chuyển, đối với việc cầu nguyện và suy niệm. Những người độc thân và những cặp phu thê không con cái, và ngay cả những người cao niên mạnh khỏe (có thể với những con cháu trưởng thành), có những hồng ân của thời gian trong những cách thế mà những cha mẹ tiêu biểu không có. Những người như vậy có thể thích hợp với công việc giảng dậy giáo lý và những mục vụ khác của giáo xứ hoặc ngay những công tác tông đồ và chứng nhân trong những tình huống khó khăn mà nó không thích hợp với những gia đình có con cái. Những người không kết hôn hoặc là không con hài lòng với sự sẵn sàng mà nó mang đến cho họ tự do hành động hơn và sáng tạo về những cơ hội để hiếu khách và cho tình bạn. Khi Thánh Phaolô khuyến cáo về độc thân, ngài nghĩ ngài đang trao tặng một cơ hội mà nó có những thách đố của nó, nhưng nó cũng có những tự do và lợi ích của nó: “Nhưng nếu anh em kết hôn, anh em không có tội, và nếu một trinh nữ kết hôn, nàng không có tội. Những người này kết hôn sẽ kinh nghiệm sự sầu não trong đời sống này, và tôi muốn dành riêng anh em… tôi muốn anh em được tự do khỏi những lo lắng.” (1 Cor 7:28-32a, NRSV)

 

 

Liên kết tinh thần và xã hội giữa độc thân và hôn nhân

 

104. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dậy: Tất cả những tín hữu Chúa Kitô được kêu gọi để hướng tới đời sống tiết độ trong việc tuân giữ những tình trạng đặc thù của cuộc sống. Ngay từ giây phút Thánh Tẩy, người Kitô hữu được bảo đảm để hướng đời sống tình cảm của mình trong tiết hạnh.”101 Độc thân vì vậy liên kết với hôn nhân, tạo một nội tâm giống nhau, dâng hiến hoàn toàn chính mình cho Thiên Chúa. Cả người độc thân và người kết hôn, gắn bó cuộc sống của họ với giao ước của Thiên Chúa theo những ơn gọi riêng của họ. Có những điểm khác biệt thực hành trong bất cứ ơn gọi cá nhân nào, nhưng sự chuyển động nội tâm của linh hồn, sự dâng hiến trái tim của chính nó, đều giống nhau ở tâm điểm của nó.  Những người độc thân và những người kết hôn khôn ngoan và trưởng thành như nhau, với nhiều khả năng tinh thần giống nhau.

 

105. Trong trường hợp hôn nhân, khi những người chồng và những người vợ trao thân cho nhau, với tình yêu bắt chước Chúa Giêsu, tặng ân bản thân của mỗi người trao nhau là một phần công trình của Chúa Kitô, tham gia trong cùng chung một tinh thần của hồng ân của chính Chúa Giêsu đối với Giáo Hội. Khi cặp phu thê trao cho nhau lời thề ở thánh đường trong nghi lễ hôn phối, Chúa Kitô nhận lấy tình yêu hôn nhân của họ và làm cho nó thành một phần của hồng ân Thánh Thể của Ngài đối với Giáo Hội và Chúa Cha, Đấng hài lòng vì của lễ của Chúa Con, trao ban Chúa Thánh Thần cho cặp phu thê để đóng dấu sự kết hợp của họ. 102 Vậy hoa quả của hôn nhân, trước hết là hồng ân và trách nhiệm của sự ràng buộc bí tích. Đây chính là tại sao mà Thánh Gioan Phaolô II đã nói một cách đẹp đẽ rằng mối ràng buộc hôn nhân mà những cặp phu thê đã được ban cho để vui mừng và sống làm cho họ “thành lời nhắc nhở vĩnh viễn cho Giáo Hội về những gì đã xẩy ra trên Thánh Giá: Họ là cho nhau và cho những con cái những chứng nhân cho ơn cứu độ trong đó bí tích làm họ trở nên những người chia sẻ.” 103

 

106. Trong trường hợp độc thân, lý do tương tự cũng xảy ra. Tình yêu Chúa Kitô sung mãn bởi vì Ngài làm một tặng vật hoàn toàn của chính Ngài, một xác tín vô điều kiện của người khác: “Người ta sẽ lấy gì để đổi mạng sống mình?” Mt 16:20) Tình yêu Chúa Kitô được diễn tả trong ước muốn của Ngài là chia sẻ tất cả chính mình với các môn đệ của Ngài (Lk 22:15), cho chính mình cho các ông một cách hoàn toàn để mang mọi người về với Chúa Cha hầu thông phần vinh quang Thiên Chúa.104  Tình yêu hôn là lý do chính của giao ước giải thích chúng ta sinh sản con cái như thế nào; tình yêu độc thân là lý do giao ước đem lại đời sống trong toàn thể cộng đồng.

 

107. Vì hôn nhân và độc thân là những ơn gọi bổ khuyết cho nhau đối với những người Công Giáo trưởng thành, chúng ta cần phải nuôi dưỡng những người trẻ của chúng ta để họ thấy rằng một người bạn lãng mạn không phải là căn bản cho hạnh phúc con người. Nếu hôn nhân tự nó hình thành từ giao ước của Chúa Giêsu với chúng ta, và nếu cũng một giao ước ấy đã làm cho những người độc thân cũng là một thay thế có thể thực hành được, thì đời sống của những người trẻ mà không kết hôn tốt hơn phải được hiểu, không phải trong những từ ngữ sống chung hoặc “bồ bịch”, nhưng là thời gian của tìm hiểu và nuôi dưỡng tình bạn hữu. Những tập quán và khả năng của một tình bạn thật là căn bản ngay cả đời sống trong hôn nhân hoặc cộng đoàn người độc thân. Vấn nạn về ơn gọi mà trẻ em vị thành niên và những người trẻ khác ngày nay phải đối diện cần dấn thân nhiều hơn sự ưa thích lãng mạn.Người trẻ cần làm quen những khả năng nội tâm tinh thần này không nên để ý tới những gì cuộc sống tương lai mang lại.

 

108. Vì lý do này, giáo xứ cần cẩn thận quan tâm đến chiều kích xã hội của sự tiết hạnh và độc thân. Độc thân giới thiệu những thách đố cá biệt, và, như Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nhận định, học biết tự kiềm chế sinh lý có dáng vóc văn hóa : chúng ta là những con người tùy thuận lẫn nhau, và thực hành tiết độ thì hoặc được giúp đỡ hoặc cản trở do tình trạng xã hội của chúng ta.105 Những cơ hội của dời sống mà những người trẻ tìm gặp có thể hình dung tùy thuộc trên những mẫu gương mà chúng thấy và những câu chuyện chúng nghe.

 

109. Bởi vì độc thân rất khác biệt dòng chính, một nguy cơ xẩy ra ngay trong giáo xứ mà nó có thể không được hiểu biết đầy đủ. Những người độc thân “xứng đáng với cảm tình đặc biệt và sự quan tâm sống động của Giáo Hội, một cách đặc biệt của các linh mục chính xứ.”106 Không chỉ các chính xứ, nhưng cả các gia đình và những người độc thân, cần có những bước vững chãi để chắc chắn rằng “độc thân” trong một ý nghĩa của Công Giáo rõ ràng không đồng nghĩa với bị cô lập và lẻ loi. Người độc thân cần bạn hữu cho việc chia sẻ những gánh nặng và những buồn phiền của họ, cũng như những cơ hội và hoàn cảnh để phục vụ.” Những cánh cửa của các căn nhà “giáo hội tại gia” và của gia đình rộng lớn là Giáo Hội phải được mở ra cho “những người không kết hôn.” 107

 

110. Viễn ảnh này đòi hỏi một nhu cầu cho hết mọi người để kiểm soát xem họ đóng góp như thế nào vào hoàn cảnh và sự quan trọng của đời sống giáo xứ. Nếu cha mẹ ngăn cản con cái khỏi đời sống linh mục, tu sỹ khấn dòng, hoặc ơn gọi độc thân khác, thì toàn thể cộng đoàn cần xem lại lương tâm. Độc thân thật sự luôn là sự phong phú của xã hội, và nếu độc thân được coi là xa lạ và cô lập, thì một cái gì đó trong thực hành hoặc cơ cấu của đời sống cộng đồng đã bị xiêu vẹo. Những người độc thân nên lấy những sáng kiến để phục vụ và dấn thân, và các gia đình nên có những bước để sẵn sàng đón tiếp, trở nên “người dì”, người “cậu” nuôi, và được kể vào công tác xây dựng mở rộng những căn nhà hoặc mục đích những cộng đồng.        

 

111. Một đời sống xã hội phong phú làm cho mọi hình thức độc thân được thừa nhận hơn đối với thế giới, vì nó làm nhẹ sự phê phán về độc thân, cho rằng một đời sống như thế cô đơn một cách bắt buộc. Để sống tầm nhìn này, để vượt qua quán tính của những thói quen xã hội mà nó tách biệt những người độc thân và bỏ lỡ những cơ hội của cảnh độc thân, đòi hỏi giao ước sáng tạo giống nhau từ giáo dân và giáo sỹ. Chúa Giêsu Chúa chúng ta, và là Chúa nói: “Mọi người sẽ cứ dấu này mà nhận ra anh chị em là các môn đệ thầy, nếu anh chị em thương yêu nhau.” (Jn 13:35, NRSV) Tình yêu nên làm đời sống giáo xứ sống động một cách rõ ràng đối với mọi người.  

 

112. Độc thân không phải là vô sinh, cũng không phải là “độc thân” theo nghĩa bị cô lập hoặc tự động. Trong Giáo Hội, chúng ta tất cả tùy thuộc lẫn nhau, được tạo dựng cho hiệp nhất, được tạo dựng để cho và để nhận tình yêu. Nhãn quan này của đời sống con người nẩy sinh ra một sự khác biệt vô tận của các ơn gọi có tính sáng tạo. Độc thân đặt những đòi hỏi đặc thù trên những ai chấp nhận nó, những người độc thân cũng có những quyền lợi cá biệt và nhiều cơ hội.Những người độc thân tôn trọng tính dục hoặc tiềm lực sinh vật học của hôn nhân, và hành động từ lý lẽ giống nhau và tinh thần tự hiến.Những người độc thân và những cặp phu thê cần có nhau để giúp nhau chịu đựng và vươn lên, “gia đình của những gia đình” đó là tại sao gọi là Giáo Hội.

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN ________________________________

  1. Điểm chung giữa độc thân và hôn nhân là gì?

 

  1. Những thử thách và gánh nặng nào mà những người không kết hôn gặp phải trong cộng đoàn của chúng ta? Các bạn hữu, các gia đình, và các giáo xứ có thể giúp như thế nào? Một số những lợi ích của độc thân là gì? Những người không kết hôn có thể phục vụ cộng đoàn như thế nào?

 

  1. Những trẻ em trong giáo xứ bạn có gặp gỡ một cách dễ dàng các linh mục, tu sỹ, và các nữ tu không? Bạn có thể nghĩ về những cách thức để giới thiệu những mẫu gương của đời sống độc thân trong cộng đoàn của bạn không? Bạn đã bao giờ khuyến khích con cái biết để trở thành một linh mục, hoặc tu sỹ? Tại sao có và tại sao không?

 

  1. Một số lý do chính đáng để chọn sống hôn nhân hoặc độc thân là gì? Những lý do không chính đáng là gì? Một người nên suy nghĩ đến ơn gọi của mình như thế nào?      

 

 

VII. ÁNH SÁNG TRONG MỘT THẾ GIỚI TỐI TĂM

                                                                                      

 

Ở một nghĩa đúng và tốt nhất, gia đình là một học đường của tình yêu, công bằng, thương xót, tha thứ, tương kính, nhẫn nại, và khiêm tốn giữa một thế giới tối tăm bởi ích kỷ và bất hòa. Trong những trường hợp ấy, gia đình dậy cho biết ý nghĩa nhân bản là gì.Tuy nhiên, nhiều cám dỗ nổi lên trong đó cố tình dụ dỗ chúng ta quên đi rằng người nam và người nữ được tạo dựng cho một giao ước và hiệp nhất. Thí dụ, nghèo đói, giầu có, hình ảnh khiêu dâm, ngừa thai, những triết lý và hiểu biết sai lầm có thể dẫn tới việc tạo nên một nhận thức thách đố hoặc đe dọa đời sống gia đình lành mạnh. Giáo Hội chống lại những sai lầm này nhân danh việc bảo vệ các gia đình.

 

Những ảnh hưởng của sa ngã

113. Chúng ta là những tạo vật sa ngã. Chúng ta không luôn luôn yêu như chúng ta phải yêu.Nhưng nếu chúng ta mang lấy và kể tên những tội lỗi chúng ta, chúng ta có thể thống hối những lỗi lầm ấy.

114. Chúng ta có thể nhìn thấy dấu tích sa ngã trong những hành động thường ngày của chúng ta: trong trái tim bị phân chia của chúng ta và giữa những chướng ngại vật rất thông thường của nhân đức trong thế giới.  “Chế độ tội lỗi” làm cho nó “hòa tan trong những mối liên hệ giữa đàn ông và đàn bà. Sự hiệp nhất của họ luôn luôn bị đe dọa bởi bất hòa, một tinh thần của quyền lực, bất tín, ghen tương, và những mâu thuẫn mà chúng có thể gia tăng thành thù hận và chia rẽ. Trạng thái bất an này tự nó có thể được biểu hiện rõ ràng nhiều hay ít một cách dữ dội, và có thể nhiều hay ít vượt quá theo những tình huống của các nền văn hóa, thời đại, và những cá nhân, nhưng nó dường như có một đặc tính chung.” 108

 

115. Tài Liệu Chuẩn Bị cho Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 2014 về “Những thách đố mục vụ đối với Gia Đình trong ý nghĩa Phúc Âm Hóa” nhấn mạnh nhiều đến những vấn đề toàn cầu:

 

Nhiều cục diện mới đòi hỏi sự quan tâm và săn sóc mục vụ của Giáo Hội bao gồm: hôn nhân ngoài và khác tôn giáo; gia đình cha mẹ độc thân; đa thê; những cuộc hôn nhân với hậu quả khó khăn về của hồi môn; một đôi khi được hiểu như giá cả mua bán một người đàn bà; hệ thống giai cấp xã hội; một văn hóa không khế ước và sự tin tưởng rằng ràng buộc hôn nhân có thể là tạm thời; những hình thái thù nghịch của chủ thuyết nữ quyền đối với Giáo Hội; di dân và sự đổi mới quan niệm căn bản của gia đình; nguyên tắc đa số trong quan niệm của hôn nhân; ảnh hưởng của truyền thông về văn hóa chung trong sự hiểu biết của nó về đời sống hôn nhân và đời sống gia đình; khuynh hướng nền tảng của tư tưởng trong những dự án pháp luật mà nó làm giảm giá trị ý niệm của sự vĩnh viễn và trung thành trong hôn ước hôn nhân; sự bột phát trong thực hành của việc mang thai mướn (thuê dạ con); và những cắt nghĩa mới mẻ của điều gì được coi như một quyền của con người. 109

 

Những bối cảnh và những vấn đề kinh tế

 

116. Thử thách gay go của nghèo túng và kinh tế xoi mòn đời sống hôn nhân và gia đình quanh thế giới. Chỉ vào một tấm bảng hiệu giữa đám đông vào một ngày trong buổi đọc kinh Truyền Tin tại quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói:

 

Cha đã đọc ở kia, trong dòng chữ lớn: “Người nghèo không thể chờ đợi.” Thật là tuyệt vời! Và điều này nhắc cha nghĩ đến Chúa Giêsu đã sinh ra trong một chuồng bò, nhưng không phải sinh ở nhà.Sau đó Ngài đã trốn thoát qua Ai Cập để cứu mạng mình.Rồi Ngài đã trở về ngôi nhà của mình ở Nazareth. Và cha nghĩ đến ngày nay, cũng trong khi đọc những gì đã được viết ở kia, nhiều gia đình không có một ngôi nhà, bởi vì họ chưa bao giờ có một ngôi nhà, hoặc bởi vì họ đã phải để mất nó vì nhiều lý do. Gia đình và ngôi nhà đi chung với nhau. Thật là rất khó khăn để xây dựng một gia đình mà không có một ngôi nhà để sống… Cha mời gọi mọi người - những cá nhân, những cơ quan, những người có trách nhiệm - làm tất cả những gì có thể để cho mỗi gia đình có một mái nhà.110

 

117. Cùng một lúc, dữ kiện của khoa học xã hội cho thấy rằng những cuộc hôn nhân và những gia đình vững chắc giúp vượt qua tình trạng thiếu thốn, giống như nghèo khó làm ngược lại những cuộc hôn nhân và những gia đình vững chắc. Những cuộc hôn nhân và những gia đình vững vàng kiến tạo hy vọng, và hy vọng dẫn tới những mục đích và thành đạt.Điều này gợi ý một phương thức cho việc thực hành vững mạnh đức tin Kitô Giáo cũng như những thành quả tinh thần. Giúp các gia đình phá vỡ những vòng tội lỗi xấu xa và chuyển đổi chúng thành những chu kỳ đạo đức là lý do Giáo Hội chú ý tới những tình huống của đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của chúng ta.

 

118. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong thông điệp cuối, Caritas in Veritate, nhấn mạnh đến “những liên kết chặt chẽ giữa những đạo đức sống và những đạo đức xã hội.” 111 Ngài nhận định rằng “gia đình cần một mái nhà, công ăn việc làm, và sự nhận thức hành động bên trong gia đình của cha mẹ, cơ hội tới trường cho những con cái, sự săn sóc căn bản về sức khỏe cho mọi người.” 112  Chúa Giêsu chăm sóc cho mọi người, bản thân Ngài không lạ lùng gì với nghèo khó và đến từ một gia đình mà những người trong đó là những người di cư; 113 giờ đây Ngài mời gọi Giáo Hội của Ngài đứng vững với các gia đình trong những tình trạng tương tự. 114

 

119. Nói một cách khác, nếu chúng ta nói chúng ta chăm sóc cho gia đình, chúng ta cũng cần săn sóc cho những người nghèo nữa. Nếu chúng ta chăm lo cho những người nghèo, chúng ta sẽ phục vụ các gia đình.

 

120. Nền kinh tế siêu tư bản toàn cầu ngày nay cũng gây thiệt hại cho cả giới trung lưu và giầu có. Chẳng hạn như văn hóa băng hoại cung ứng tình dục. Việc thành lập các trung tâm thương mại là một ham muốn không ngừng đối với những kinh nghiệm mới mẻ, một không khí luôn luôn bấp bênh và một ước muốn không thỏa mãn. Đời sống trong những nền văn hóa thị trường tiến bộ trở nên một thách thức ngược lại với sự chói chang của tình trạng mê hoặc, tiếng ồn ào, và những người đói khát không ngừng nghỉ, tất cả những thứ đó phá vỡ sự bền vững của gia đình, và đốt lên một cảm giác của quyền lợi. Đời sống trong một thị trường vững mạnh có thể cám dỗ chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta ham ước một cái gì, nếu nó được số đông tán thành và chúng ta có khả năng tài chính, thì chúng ta có quyền có nó. Ý tưởng về quyền lợi này là một hình ảnh bị phá vỡ, một hình thức nô lệ cho những ham muốn, làm giảm giá tự do của chúng ta để sống một cách đạo đức. Thất bại của chúng ta để mang lấy những giới hạn, tính bướng bỉnh của chúng ta thúc đẩy những thèm muốn của chúng ta, khiến bùng lên những vấn đề tinh thần và vật chất trong thế giới hôm nay của chúng ta.

 

 

Tại sao hình ảnh khiêu dâm và thủ dâm không đúng

 

121. Dịch vụ phổ biến tình dục luôn luôn giới thiệu với những người mua bán dịch vụ này. Tranh ảnh khiêu dâm - thường xuyên nối liền và được nuôi dưỡng do sự tàn ác của đường dây buôn người - giờ đây phổ biến không chỉ đối với những người đàn ông, nhưng còn gia tăng ngay cả đối với những người đàn bà nữa. Kỹ nghệ lợi nhuận toàn cầu này có thể đột nhập vào bất cứ nhà nào với computer hoặc đường dây truyền hình. Hình ảnh khiêu dâm dậy cho những người tiêu thụ nó trong sự ích kỷ, dậy những người dùng nó để nhìn những người khác như một mục tiêu thỏa mãn những ham muốn của chúng ta.

 

122. Đối với mỗi người chúng ta, việc học biết nhẫn nại, quảng đại, tự chủ, rộng lượng, và những lãnh vực khác của tình yêu thập tự đã đủ khó khăn rồi. Hình ảnh khiêu dâm khiến việc cho đi chính mình chúng ta đối với người khác, và đối với giao ước của Thiên Chúa càng trở nên khó khăn hơn, ngay cả đối với những người tình cờ sử dụng chúng. Cùng với những lý do tương tự, thủ dâm là hành động sai trái. Khi một người “vui thích” hoặc ý thức sử dụng hình ảnh khiêu dâm hay hành động thủ dâm, người đó giới hạn khả năng tự kiềm chế, hành động sinh lý trưởng thành, tình thân mật thiết với người phối ngẫu. Tuy chỉ là sự tò mò nhỏ mọn nhưng hình ảnh khiêu dâm lại đóng vai trò lớn trong nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ ngày nay. Hình ảnh khiêu dâm và thủ dâm cũng có thể chống lại một cách quyết liệt ơn gọi độc thân, bởi vì chúng có thể được xem là rất riêng tư.

 

 

Tại sao ngừa thai không đúng

 

123. Bằng một cách thức tương tự, ngừa thai cũng dẫn chúng ta đến việc coi ước muốn dục vọng như một điều được phép. Nó cho người xử dụng dùng ham muốn đối với sự thân mật tính dục như một cách tự biện hộ. Do tách biệt sinh sản khỏi sự phối hợp, ngừa thai làm lu mờ và hạ giá một cách cùng độ sự suy nghĩ hợp lý về hôn nhân.        

 

124. Những cặp vợ chồng cần ngừa thai, họ phải thực hiện việc này với những chủ ý tốt.  Nhiều cặp phu thê kinh nghiệm và tin tưởng rằng hành động hạn chế sinh lý của họ là thiết yếu để giữ hôn nhân họ lại với nhau, hoặc hành động hạn chế sinh lý không gây thiệt hại và không phải là nạn nhân. Nhiều cặp phu thê quen thuộc với ngừa thai đến nỗi lấy làm ngạc nhiên đối với giáo huấn của Giáo Hội.

 

125. Nhưng nếu một cặp vợ chồng thực sự muốn tìm kiếm sự tự do nội tâm, sự cho nhau chính mình, và tình yêu tự hiến cho cái mà giao ước tình yêu của Thiên Chúa dậy chúng ta, thì thật là khó để miêu tả bằng ý nghĩa nào mà ngừa thai là cần và thiết yếu. Giáo Hội tin tưởng rằng sự xác quyết về ngừa thai dựa trên những huyền thoại sai lầm về hôn nhân. Như Đức Giáo Hoàng Piô XII đã giải thích:

 

Có một số người sẽ giả thiết rằng hạnh phúc trong hôn nhân là một phần trực tiếp đối với sự vui vẻ lẫn nhau trong những quan hệ xác thịt.Điều đó không như thế, hạnh phúc trong hôn nhân là một phần trực tiếp đối với việc tương kính lẫn nhau của hai người, ngay trong những liên hệ mật thiết của họ.115

 

126. Nói một cách khác, để nhìn nhận ngừa thai như cần thiết hoặc ngay cả những hành động giúp đỡ từ một tiền đề không rõ ràng. Tự căn rễ của nó, hạnh phúc hôn nhân - một thứ mà tồn tại suốt đời - có nhiều hơn trong thông thường với sự quảng đại, nhẫn nại, sức mạnh tự cho đi chính mình của độc thân hơn những gì Đức Giáo Hoàng Piô XII đã gọi “một chủ nghĩa khoái lạc tuyệt đối” 116  Gần đây Đức Giáo Hoàng Phanxicô hướng về Thánh Gia khi nhấn mạnh những phẩm chất của lòng quảng đại, và tự do nội tâm mà chúng có thể tạo lập một hôn nhân tốt lành:

 

Giuse là người luôn luôn lắng nghe tiếng Thiên Chúa, ngài cảm nhận một cách sâu thẳm đối với ý mầu nhiệm của Ngài, ngài là người quan tâm đến những thông điệp gửi cho ngài trong những tầng sâu kín của tâm hồn ngài và từ trên cao. Ngài không khăng khăng theo dự án riêng cho đời mình, ngài không cho phép những đắng đót làm hại linh hồn ngài, chẳng những thế, ngài còn sẵn sàng làm cho mình trở nên tự do với những tin tức mà trong một hình thức gây bối rối, được giới thiệu cho ngài. Và vì thế, ngài là người nhân đức. Ngài không miễn cưỡng, và ngài không cho phép sự cay đắng đầu độc linh hồn ngài… Và vì thế, Giuse đã trở nên tự do hơn và cao cả hơn.  Bằng cách chấp nhận chính mình theo kế hoặch của Thiên Chúa, Giuse đã hoàn toàn tìm được mình, vượt ra chính mình. Sự tự do của ngài từ chối ngay những gì là ngài… và sự sẵn sàng hoàn toàn nội tâm của ngài đối với ý của Thiên Chúa, thách đố chúng ta và chỉ cho chúng ta con đường. 117

 

127.  Ngừa thai làm cản trở sức mạnh và tự do nội tâm. Đối với việc phổ biến những ước muốn tình dục được coi như những quyền lợi chính đáng, hoặc những ước muốn mà có thể không bao giờ bị trì hoãn, nhu cần phát triển tự do nội tâm phải được được tỏ lộ. Như một “giải quyết kỹ thuật” đối với vấn nạn luân lý, ngừa thai “che đậy câu hỏi căn bản liên quan đến ý nghĩa của tính dục con người và nhu cầu cho việc đáp trả chủ quyền của nó nhờ đó thực hành của nó có thể trở nên một diễn đạt của tình yêu con người.” 118

 

 

Những lợi ích của chương trình gia đình tự nhiên

 

128. Một cách rõ ràng để “hoàn thành vai trò làm cha mẹ” bao gồm sự phân biệt khi nào cần sinh con. Những lý do quan trọng, nêu lên “từ những tình trạng sức khỏe, tài chính, tâm lý và xã hội,” có thể hướng dẫn người chồng và người vợ để “quyết định không sinh thêm con một cách dứt khoát hoặc một thời điểm rõ ràng.” 119

 

129. Những người chồng, những người vợ Công Giáo thấy mình trong hoàn cảnh này cần những giáo sư, những cố vấn, và bạn hữu để huấn luyện và giúp đỡ trong kế hoặc hóa gia đình tự nhiên (NFP). Các giáo xứ và các giáo phận nên làm cho sự giúp đỡ này trở thành ưu tiên mục vụ và dễ dàng để tìm kiếm. Điều chắc chắn hơn thế, đó là một cặp vợ chồng sẽ sống một cách thực sự giáo huấn Công Giáo nếu họ có được sự hướng dẫn tinh thần, dậy dỗ cách thực hành, và những bạn hữu nâng đỡ. Giáo dân, các chính xứ, và các giám mục tất cả có trách nhiệm đối với việc thiết lập những điều kiện khả dĩ này.

 

130. Nếu một cặp hôn nhân với một trái tim rộng mở và sau khi cầu nguyện thiết tha và suy nguyện, nhận ra rằng đây không phải là một thời điểm trong cuộc sống khi Thiên Chúa mời gọi họ để có thêm những đứa con, thì tùy theo mỗi trường hợp, kế hóa gia đình theo phương pháp tự nhiên sẽ đòi hỏi họ tiết chế những liên lạc tính dục. Thực hành như vậy những người phối ngẫu tiết chế hoặc đem những ước muốn tình dục đến một ý nghĩa rộng lớn hơn của lời mời gọi của Thiên Chúa theo cuộc sống của họ. Sự tiết độ ý muốn và ham ước này là một trong nhiều cách thế trong đó ngừa thai tự nhiên và ngừa thai rất khác nhau một cách chủ quan lẫn kinh nghiệm. Ngừa thai tự nhiên là một sự thân mật và hòi hỏi, và vì thế là một nét đẹp tiềm ẩn và sâu sắc, con đường đi theo Thiên Chúa trong hôn nhân. 

 

131. Điều hòa sinh sản tự nhiên dựa trên vẻ đẹp và cần thiết của sự mật thiết tính dục hôn nhân. Bởi nó cũng tùy thuộc trên sự kiêng cữ trong thời gian sinh nở, điều hòa sinh sản tự nhiên đòi hỏi các cặp vợ chồng để trao đổi và tự chế.Cũng giống như chính sự nối kết hôn nhân, điều hòa sinh sản tự nhiên hình thành và uốn nắn ước muốn tính dục.  Ý chính của những đòi hỏi một vợ một chồng là để những người đàn ông và đàn bà sa ngã trong dục vọng có thể hướng dẫn cách nhẫn nại những ước muốn đang gào thét, và học để đối xử với người phối ngầu với lòng quảng đại và chung thủy. Bằng cách này, sự kiêng cữ giai đoạn được đòi hỏi do ngừa thai tự nhiên đào sâu và mở ra một khế ước mà những người hôn nhân đã thực hiện. Ngừa thai tự nhiên (NFP) không bảo đảm một hôn nhân hạnh phúc, nó cũng không chuẩn chước cho một cuộc hôn nhân khỏi những đau khổ thường nhật của hôn nhân, nhưng NFP là một cố gắng để xây dựng một ngôi nhà trên đá chứ không phải trên cát.

 

 

Ngừa thaitruyền tải những nghi ngờ về hôn nhân một cách rộng rãi hơn trong xã hội

 

132. Như Giáo Hội đã tiên đoán gần 50 năm trước, ngừa thai không chỉ giảm giá trị hôn nhân, nhưng còn có những phản ứng phụ tai hại trong xã hội nữa. 120 Ngừa thai phổ quát có nghĩa là chỉ có số ít có thói quen kiêng cữ và tự kiểm soát sinh lý. Theo đường lối này, ngừa thai đã làm cho độc thân trở nên ít được đón nhận đối với những con người tân tiến, và bằng cách ấy khiến cho hôn nhân hoặc những hình thức khác của hành động lãng mạn đôi lứa xem như một cách thực sự không tránh được. Khi điều này xẩy ra, tất cả đời sống xã hội của cộng đồng bị đảo lộn. Và như khi ngừa thai làm trống rỗng giá trị của độc thân, nó cũng đóng góp vào việc làm giảm số các linh mục trẻ và những tu sỹ có lời khấn. Ngừa thai cũng làm cho sự xuất hiện sinh lý ngoài hôn nhân (tiền hôn nhân hoặc ngoài hôn nhân) xem như được cổ võ hơn, coi như sự thân mật sinh lý có thể tồn tại mà không mang lại kết quả. Và, dĩ nhiên, nhiều những tranh biện như vậy đối với vấn đề tính dục không con cái nó cũng tìm kiếm để biện minh cho việc áp dụng ngừa thai, dù ngay với những kết quả xấu xa hơn và dã man hơn, đối với hành động phá thai.

 

133. Tách rời sinh lý và sinh sản, ngừa thai khuyến khích một văn hóa cho phép hôn nhân dựa trên cảm xúc và kết hợp dục vọng. Sự phức tạp giữa thể lý và tâm lý, cái nhìn thiên lệch nuôi dưỡng mối nghi ngờ ngày nay về thực chất của hôn nhân là gì, làm cho việc ly dị trở nên thông thường hơn, dường như hôn nhân là trái ngược, có thể bị phá vỡ và tái thẩm định. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô gần đây đã viết:

 

Gia đình đang trải qua một cuộc khủng hoảng văn hóa mãnh liệt, như là tất cả mọi cộng đoàn và những trói buộc xã hội… Hôn nhân bây giờ được đánh giá như một hình thức cho việc thỏa mãn tình cảm, mà nó có thể được xây dựng bất cứ cách nào hoặc được thay đổi theo ý muốn. Nhưng trong những đóng góp căn bản của hôn nhân cho xã hội vượt qua những cảm tình và những nhu cầu tạm thời của đôi vợ chồng. Như những Giám Mục Pháp đã dậy, không phải được sinh ra “do tình cảm yêu thương, chóng qua theo định nghĩa, nhưng từ sự sâu sa của ràng buộc đã được chấp nhận bởi hai người phối ngẫu, họ chấp nhận bước vào một cuộc kết hợp trọn vẹn của đời sống.” 121

 

 

Tại sao Giáo Hội không khuyến khích hôn nhân đồng tính

 

134. Giả thiết hôn nhân chỉ như sự thỏa mãn dục vọng hoặc cảm tình, điều này là bước làm cho dễ dãi hơn việc tách rời sinh lý và sinh sản, cũng có thể cho phép những cuộc tranh cãi về  những phối hợp đồng phái tính. Trong một số quốc gia ngày nay có những phong trào tái định nghĩa hôn nhân như nó có thể bao gồm bất cứ ảnh hưởng nào hoặc bất cứ liên hệ tình dục nào giữa sự ưng thuận của những người lớn. Ở đâu ly dị và ngừa thai là những thói quen được thiết lập, và  viễn tượng thay đổi của hôn nhân đã bén rễ, thì việc tái định nghĩa hôn nhân bao gồm hôn nhân đồng phái tính có thể xem như một chấp nhận ở bước kế tiếp.

 

135. Với sự quan tâm đến tư tưởng của hôn nhân đồng phái tính, như nó được biết đến nhiều, Giáo Hội từ chối chúc lành hoặc thánh hiến nó. Điều này không ám chỉ bất cứ chỉ trích hoặc thiếu sót nào đối với việc chấp nhận sức mạnh của tình yêu và mối liên hệ bạn hữu đồng phái tính. Như cần làm sáng tỏ ở điểm giáo lý này, Giáo Hội Công Giáo nhận định rằng mọi người được kêu gọi để cho và nhận lại tình yêu. Thề ước, hy sinh, khiết tịnh, tình bằng hữu đồng phái tính phải được kính trọng. Bởi vì những người Công Giáo được đoan hứa để yêu, hiếu khách, tùy thuộc lẫn nhau, và “mang lấy gánh nặng lẫn nhau,” 122 Giáo Hội và mọi tầng lớp sẽ mong muốn để nuôi dưỡng và nâng đỡ những cơ hội cho tình bạn tiết chế, luôn luôn tìm kiếm sự bền bỉ với những người mà họ vì bất cứ lý do gì, không thể kết hôn.

 

136. Tình bạn thật sự là một ơn gọi có từ xa xưa và đáng tôn trọng. Thánh Aelred thành Rievaulx nhận định rằng ước muốn có một người bạn rấy lên từ thẳm sâu bên trong tâm hồn.123 Tình bạn thật trổ sinh “trái” và sự “ngọt ngào” khi họ giúp đỡ lẫn nhau đáp lại Thiên Chúa, khuyến khích nhau sống Phúc Âm. 124 “Cho dù nó phát triển giữa những người cùng hoặc khác phái tính, tình bạn đại diện một vẻ đẹp cao cả đối với tất cả.Nó dẫn tới sự hiệp nhất tinh thần.”125

 

137. Nhưng, cũng cần phải làm sáng tỏ ở đây, khi những người Công Giáo nói về hôn nhân, chúng tôi liên tưởng đến một điều gì minh bạch từ những mối thân tình khác của tình yêu một cách đặc biệt mạnh mẽ, ngay cả tình yêu đó sâu sa và bền vững một cách hy sinh và lâu dài. Ảnh hưởng thời gian dài mãnh liệt cũng không xứng hợp cho hôn nhân. Trên thực tế, tại Tây Phương cho đến nay hôn nhân được công nhận hầu như mọi nơi, được dựa trên những bổn phận nẩy sinh từ những hoàn cảnh và những thử thách dựa trên cơ hội sinh sản của một người nam và một người nữ.

 

138. Giáo Hội kêu mời tất cả những người đàn ông và đàn bà để nhìn hành động tính dục của họ như tình trạng của ơn gọi. Để đạt tới mức trưởng thành như người đàn ông hoặc đàn bà mang nghĩa mật thiết với những câu hỏi chính xác đối với bản thân mỗi người: Thiên Chúa đang kêu gọi tôi để đem tính dục của tôi đi vào dự án của Ngài đối với cuộc đời tôi như thế nào? Được tạo thành theo hình ảnh của Thiên Chúa, căn tính của chúng ta chính là hợp nhất, hy sinh, phục vụ, và yêu thương. Câu hỏi cho mỗi người chúng ta và cho tất cả chúng ta là chúng ta sẽ dâng tặng những đặc tính tính dục của đời sống chúng ta trong hôn nhân hoặc trong cộng đoàn độc thân như thế nào.Dù trong trường hợp ước muốn tình dục của chúng ta, hoặc thích thú lãng mạn khống chế hoặc tự kìm chế, trong cả hai trường hợp, chúng ta sẽ không trốn khỏi được mời gọi để hy sinh điều mà chúng ta không lựa chọn, nếu chúng ta tự viết ra dự định cho chính chúng ta.

 

 

Bối cảnh triết, luật, và chính trị đối với hôn nhân ngày này

 

139. Những cuộc tranh luận về tái định nghĩa hôn nhân, bao gồm những câu hỏi về hôn nhân đồng phái tính, nêu lên những câu hỏi về luật pháp và chính trị. Trong lý thuyết chính trị và thần học, những người Công Giáo nói về gia đình như một định chế tiền chính trị.126 Để diễn tả một cách khác, gia đình là “tiền thân” một cách luật pháp đối với xã hội dân sự, cộng đồng, và chính trị xã hội, vì gia đình “được tìm thấy sớm hơn ngay lập tức trong tự nhiên.”127 Xã hội không đầu tư hoặc đã tìm thấy gia đình, hơn thế, gia đình là nền tảng của xã hội: “Gia đình, trong đó nhiều thế hệ khác nhau đến với nhau và giúp nhau phát triển một cách khôn ngoan hơn và dung hòa những quyền lợi con người với những đòi hỏi khác của đời sống xã hội, là nền tảng căn bản của xã hội.” 128  Quyền bính công cộng vì thế có nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ gia đình.

 

140. Cho đến ngay bây giờ, quan điểm này về gia đình cũng được đón nhận một cách rộng rãi bởi những người không Công Giáo nữa. Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 nhấn mạnh rằng “gia đình là một đơn vị căn bản và tự nhiên của xã hội, có quyền được bảo vệ bởi quốc gia và xã hội.” 129 Nhưng như nhiều thẩm quyền tái hình dung hôn nhân như một chuyện liên quan đến cá nhân, loại bỏ những nối liên hệ chính đáng đối với sự khác biệt sinh lý và sinh sản, và cổ võ một cái nhìn của hôn nhân, đã làm tan biến quan niệm chung về gia đình. Ngày nay, quốc gia nâng đỡ ngày một nhiều hơn để đầu tư hôn nhân và có ý định tái định nghĩa nó.130 Một cách hoài nghi, gia đình không còn xây dựng xã hội, và quốc gia, nhưng thay vào đó quốc gia giờ đây coi như điều khiển và cấp giấy phép cho gia đình.

 

141. Một số nhà lập pháp ngày nay đang cố gắng hệ thống hóa nhằm đảo ngược triết lý này trong những luật lệ mới về gia đình. Thay vì đón nhận hôn nhân như một cơ chế được tìm thấy trong tự nhiên, quan điểm mới liên quan đến hôn nhân như rất dễ uốn nắn, như phụ thuộc và ảnh hưởng đối với ý hướng chính trị.Giáo Hội không có lựa chọn nhưng từ chối nguyên tắc thay đổi này nhân danh bảo vệ các gia đình, hôn nhân, và con cái.

 

142. Một xã hội mà những ý nghĩ sai lạc coi hôn nhân luôn luôn tái thảo luận được, chỉ có thể giải thích theo sự qui chiếu được con người cho phép, sẽ nhìn hôn nhân một cách hoàn toàn như trái ngược, như một chấp thuận tự nguyện giữa những người mang quyền tự quyết về nhân quyền. Nhưng những điều rất trái ngược này không giống như hôn nhân được tìm thấy trong một giao ước của lòng thương xót. Lý luận của những đối chọi này không phải là lý luận của Phaolô trong đoạn 5 thư Êphêsô, trong đó những người chồng và những người vợ thương yêu nhau trong cung cách của Thánh Giá. Lý do phía sau những đối kháng sai lầm này là sự do dự với ân huệ của hôn nhân như một bí tích của lời thề ước.

 

143. Giáo Hội bắt buộc từ chối phổ biến những lý thuyết sai lầm đối với hôn nhân. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận định:

 

Giáo Hội đã lập đi và lập lại hành động như một người trung gian trong việc tìm ra giải pháp cho những vấn nạn đang ảnh hưởng nền hòa bình, sự hòa thuận xã hội, trái đất, tự do của cuộc sống, những quyền lợi cá nhân và con người, và những điều như thế. Và có biết bao điều tốt đẹp đã được thực hiện nhờ các trường và các đại học Công Giáo quanh thế giới! Đây là một điều tốt. Tuy nhiên, chúng ta thấy khó để làm cho con người nhìn ra rằng khi chúng ta nêu lên những câu hỏi khác ít được cổ võ đối với quan niệm quần chúng, chúng ta đang làm như vậy để sự trung thành của chúng ta đối với những xác tín chắc chắn giống nhau về giá trị con người và thiện ích chung. 131

                                               

144. Như chúng ta đã nói từ khi bắt đầu của tài liệu giáo lý này, tất cả mọi lời giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân, gia đình, và tính dục bắt nguồn từ Chúa Giêsu. Thần học luân lý Công Giáo là một bản diễn nghĩa rõ ràng mà nó trả lời thỏa mãn những câu hỏi sâu thẳm nhất của con người -- một cách đơn giản, bản diễn thống nhất khơi nguồn từ những xác tín Kitô giáo về việc tạo dựng và lời giao ước của Thiên Chúa, sự sa ngã của con người, và sự nhập thể, đời sống, chịu đóng đinh và phục sinh của Chúa Kitô. Những lời giảng dậy này đem lại những giá trị và hy sinh cho mọi người sẽ là môn đệ Chúa Giêsu, nhưng chúng cũng mở ra những cơ hội mới cho vẻ đẹp và những thăng hoa con người.

 

145. Khi bản chất thực sự của hôn nhân bị đánh giá thấp, hoặc hiểu lầm làm cho gia đình suy yếu. Khi gia đình suy yếu, chúng ta tất cả bị gán cho là một loại thuộc chủ thuyết hung bạo. Chúng ta dễ dàng để mất thói quen hiền hậu của Chúa Kitô và những người môn đệ của lời giao ước của Ngài. Khi gia đình vững vàng -- khi gia đình tạo ra khoảng trống cho những người chồng, những người vợ và con cái thực thi hành động tự cho đi theo sau hành động của giao ước của Thiên Chúa -- lúc đó, ánh sáng bước vào thế giới tối tăm. Trong ánh sáng này, bản chất thật sự của con người có thể được nhìn nhận. Đó là điều tại sao Giáo Hội chống lại những bóng tối đang đe dọa gia đình.

 

 

146. Tất cả chúng ta đều sa ngã. Sự yếu đuối trong tâm hồn con người và từng người mang một ý ngữ cảnh xã hội và những kết quả xã hội. Sự hiệp thông từ đó mà chúng ta được tạo dựng bị đe dọa bởi những ước muốn đảo lộn của chúng ta, những tình trạng kinh tế, do hình ảnh khiêu dâm, ngừa thai, ly dị, và luật pháp hoặc rối loạn trí tuệ. Nhưng tình yêu là sứ mệnh của chúng ta, và Giáo Hội tìm kiếm một đời sống xã hội hoán đổi, một cộng đoàn phản ảnh căn cứ trên lòng thương xót của Chúa Giêsu, lòng quảng đại, tự do, và thành tín. Nhiều mục vụ của Giáo Hội giúp ích cho văn hóa của đời sống, như giúp đỡ người nghèo, nâng đỡ dự án gia đình, hoặc diễn giải một sự liên kết triết lý hơn cho luật pháp. Khi những người Công Giáo từ chối ly dị, hoặc hôn nhân “đồng phái tính”, hoặc những lộn xộn mù mờ về luật gia đình, chúng ta cũng có trách nhiệm cho việc nuôi dưỡng những cộng đoàn của nâng đỡ và yêu thương.           

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN______________________________

 

a) Giải thích những tương quan giữa việc chăm sóc của Giáo Hội đối với người nghèo, và giáo huấn Giáo Hội về tình dục và khiết tịnh.

 

b) Sự khác nhau như thế nào giữa ngừa thai và chương trình ngừa thai tự nhiên?      

 

c) Cái gì là mẫu số chung giữa ly dị, ngừa thai, và hôn nhân đồng tính?

 

d) Những thách đố cho sự tồn tại của trinh khiết là gì trong cộng đồng của bạn, và ở đâu người ta có thể tới để học hỏi về viễn ảnh của Giáo Hội? Giáo xứ của bạn nâng đỡ những người muốn sống theo những lời giảng dậy của Giáo Hội như thế nào?

 

 

 

VIII. MỘT MÁI ẤM CHO TRÁI TIM BỊ THƯƠNG TÍCH

 

Nhiều người, đặc biệt hôm nay, đối diện với những tình trạng đau khổ do nghèo túng, bất lực, bệnh tật và nghiện hút, thất nghiệp, và cô đơn trong tuổi già. Nhưng ly dị và sự thu hút đồng tính ảnh hưởng đời sống gia đình một cách đặc biệt. Gia đình Công Giáo và hệ thống gia đình sẽ là nguồn xót thương, an toàn, thân thiện, và nâng đỡ đối với những ai đang phải chiến đấu với những vấn nạn này.

 

Nghe những lời chói taicủa Chúa Giêsu

147. Đón Thánh Gia tại Đền Thờ, Simêon tuyên bố rằng trẻ Giêsu được chỉ định “là dấu chỉ sẽ bị chống đối.” (Lk 2:34, NAB) Các Tin Mừng minh chứng sự thật về những lời này qua phản ứng đối với sứ vụ của Chúa Giêsu do những kẻ đồng hương với Ngài. Chúa Giêsu làm mất lòng ngay cả với nhiều những người theo Ngài. 132 Lý do là “những lời khó nghe” được tìm thấy trong lời nói của Ngài.

148. Một số những lời chói tai nhất của Chúa Giêsu liên quan đến hôn nhân, ước muốn tình dục, và gia đình. Lời giảng dậy của Chúa Giêsu về quả quyết về sự bất phân ly của hôn nhân làm kinh ngạc không chỉ những người Pharisiêu, mà còn cả những kẻ theo Ngài: “Nếu là vậy… tốt hơn đừng kết hôn,” các tông đồ lẩm bẩm. (Mt 19:10) Trong bài Giảng trên Núi, Chúa Giêsu không chỉ đào sâu lời giảng của Mười Giới Răn, nhưng, như một Mai Sen mới, Ngài mời gọi những ai theo Ngài tiến vào một sự biến đổi căn bản của tâm hồn họ: “Các ngươi đã nghe rằng, ‘ngươi không được ngoại tình.’ Nhưng Ta bảo các ngươi bất cứ ai nhìn xem một người phụ nữ trong sự ham muốn thì đã ngoại tình với nó trong lòng rồi.” (Mt 5:27-28, NAB)

 

149. Những môn đệ của Chúa xây dựng một gia đình liên hệ tới Đức Kitô mới mà nó vượt quá và chiếm ưu thế trên những mối liên hệ gia đình truyền thống. 133  Đối với những người theo Chúa Kitô, nước của Bí Tích Thánh Tẩy hơn dòng huyết thống. Giao Ước của Thiên Chúa ban cho một ngữ cảnh mới nhằm hiểu biết sự ràng buộc và mối liên hệ của chúng ta.

 

150. Giáo Hội tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu trên thế giới.“Ai nghe các con là nghe Thầy,” Chúa Giêsu nói với các môn đệ những người mà Ngài sai đi nhân danh Ngài. (Lk 10:16) Các giám mục, trong sự hiệp thông với Đức Thánh Cha, thay quyền các tông đồ trong sứ vụ của các ngài.134 Vì thế không có gì ngạc nhiên là một số những lời giảng dậy của Giáo Hội cũng được coi như “những lời khó nghe,” ra ngoài với nền văn hóa hiện tại, đặc biệt, về hôn nhân, cách diễn tả tình dục, và gia đình.

 

 

Giáo Hội là một nhà thương dã chiến

 

151. Để nắm bắt sứ vụ rao giảng của Giáo Hội một cách đúng nghĩa, chúng ta cũng cần quan tâm đến bản chất tông đồ của Giáo Hội nữa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã có một so sánh tuyệt vời Giáo Hội với “một bệnh viện dã chiến sau trận chiến.” Ngài nói: “Thật vô ích để hỏi một người bị thương nặng là anh có bị cao mỡ, và về lượng đường trong máu! Bạn phải băng bó vết thương của anh ta. Rồi sau đó mới nói những chuyện khác. Băng bó vết thương. Băng bó vết thương… Và bạn phải bắt đầu từ nguyên tắc này.”135

 

152. Sinh lý có thể bị thương tổn một cách cá biệt như những vết thương này. Những người đàn ông và những người đàn bà và các trẻ em có thể bị thương do cách hành vi dục vọng không phân biệt trai gái (của chính họ hoặc người khác), hình ảnh khiêu dâm, và những hình thức khác của tấn công, hiếp dâm, mãi dâm, buôn bán người, ly dị, và sợ hãi hứa hẹn được tạo nên do nền văn hóa chống lại hôn nhân một cách không ngừng nghỉ. 136 Bởi vì gia đình hình thành một cách nối dài các phần tử của nó - bao gồm “hệ phả của một người” một cách sinh vật học, xã hội học, và những mối quan hệ - những quan hệ bị vỡ đổ bên trong gia đình để lại những vết thương đau đớn, và đắng đót. 137

 

153. Đức Thánh Cha Phanxicô giúp chúng ta xem những lời “chói tai” của Giáo Hội như những lời cho việc chữa lành chúng ta. Nhưng chúng ta cần tham gia trong tư thế của người bị thương, chữa trị những vết thương tùy theo sự trầm trọng của chúng.

 

154. Thánh Kinh bao gồm nhiều những trường hợp chữa lành của Chúa Giêsu.Chúa Kitô y sỹ là hình ảnh quen thuộc trong hành động của Thánh Augustine. Trong một bài giảng Phục Sinh, ngài viết: “Thiên Chúa [giống như] một bác sỹ kinh nghiệm hiểu biết rõ ràng những gì đang xẩy ra cho người bệnh, hơn chính bệnh nhân. Những vị bác sỹ làm cho những tình trạng bệnh tật của cơ thể những gì Thiên Chúa cũng có thể làm cho những tình trạng bệnh tật của tâm hồn.”138 Rút ra từ dụ ngôn Người Samaritan Hiền Hậu, Augustine nhìn Giáo Hội như một khách trọ ở đó người lữ hành bị thương tích được đưa vào để phục hồi: “Chúng ta, những người bị thương hãy xin với vị thầy thuốc đem vào quán trọ để được chữa lành… vì thế Anh Em, trong lúc này Giáo Hội cũng thế trong đó người mang thương tích được chữa lành, chính là quán trọ của người lữ hành.” 139

 

155. Trong Giáo Hội, quan tâm đầu tiên là đem con người đến việc gặp gỡ với Thầy Thuốc Thần Linh. Bất cứ cuộc tiếp xúc nào với Chúa Kitô đều đem lại sự chữa lành cho con người sa ngã, và Chúa Thánh Thần luôn luôn được mời vào tâm hồn chúng ta để chúng ta có thể thống hối và quay trở về.  Trong những lời nói của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Cha mời gọi tất cả các Kitô hữu, ở khắp mọi nơi, và ngay giây phút này, làm một cuộc gặp gỡ cá nhân mới mẻ với Chúa Giêsu, hoặc ít nhất một hành động mở lòng mình để Ngài gặp gỡ mọi người; Cha mời gọi tất cả anh chị em làm việc này một cách không sai sót mỗi ngày. Không ai nên nghĩ rằng lời mời gọi này là không giá trị đối với mình, bởi vì ‘không ai bị loại khỏi niềm vui đến từ Thiên Chúa.’”140

 

156.  Khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu, ngài tái xác định lời vị tiền nhiệm của ngài. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nói: “Là một Kitô hữu không phải là kết quả của sự lựa chọn đạo đức hoặc một tư tưởng lớn lao, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, là đấng mang lại sự sống cho một chân trời mới và một hướng đi quyết định.” 141 Và Thánh Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh rằng: “Để thực hiện ‘cuộc gặp gỡ’ này với Chúa Kitô có thể xẩy ra,Thiên Chúa đã truyền cho Giáo Hội của Ngài. Thật ra, những khao khát của Giáo Hội là phục vụ cho kết quả đơn thuần này: đó là mỗi người đều có thể tìm thấy Chúa Kitô, để Chúa Kitô có thể đồng hành với mỗi người trên hành trình cuộc sống.” 142

157. Tái Phúc Âm Hóa có thể được hiểu như mang những người bị thương từ chiến trường thế giới đến gặp Thầy Thuốc Thần Linh và sự chữa lành mà Ngài ban là ở bên trong cộng đồng của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Phanxicô coi nhiệm vụ này như một thách đố của “mục vụ Giáo Hội”, hoặc “một Giáo Hội tiến về phía trước.” 143

 

 

Với nhẫn nại và tha thứ Giáo Hội giúp chúng ta chữa lành và phát triển

 

158. Bên trong Giáo Hội, quyền năng chữa lành của ân sủng Thiên Chúa được hợp nhất bởi Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu hiện diện trong phụng vụ thờ phượng của Giáo Hội, trong việc cầu nguyện bằng cách đọc Lời Chúa dưới ánh sáng của truyền thống thánh thiện, và qua giáo huấn chính thức của Giáo Hội trong việc phục vụ Lời Chúa. 144  Chúa Kitô Vị Thầy Thuốc có mặt một cách đặc biệt trong Bí Tích Hòa Giải và Xức Dầu, là hai Bí Tích Chữa Lành. 145

 

159. Tham dự trong đời sống bí tích, triển nở một đời cầu nguyện, thực hành bác ái, những kỷ luật tinh thần, trách nhiệm và nâng đỡ từ những người bạn của giáo xứ - những điều này đưa đến cho người mang thương tích, nhưng sự phục hồi người Kitô hữu là con đường hoán cải. Tuy nhiên việc hoán cải không hoàn tất một cách tức thời. Nó tiếp tục như một lời kêu gọi đều đặn đối với mọi phần tử của Giáo Hội: “Lời mời gọi của Chúa Kitô để hoán cải tiếp tục vang vọng trong đời sống của các tín hữu. Giây phút trở về này là một việc làm không bị gián đoạn đối với toàn thể Giáo Hội, mà ‘những phần tử tội lỗi cũng gần gũi như người thánh thiện luôn luôn cần thanh tẩy, và bước đi một cách mạnh dạn trên con đường ăn năn và đổi mới’”. 146

 

160. Sự tiến hành tự nhiên của hoán cải uốn nắn khả năng chúng ta để hiểu và sống giáo huấn của Giáo Hội. Nói về sự phát triển luân lý của những Kitô hữu kết hôn, Thánh Gioan Phaolô II đã phân biệt giữa “luật của tiệm tiến” và “sự tiệm tiến của lề luật.” 147 “Luật của tiệm tiến” liên quan đến sự phát triển tự nhiên của việc hoán cải.Khi được khỏi những vết thương của tội, những Kitô hữu lớn lên trong sự thánh thiện trong mọi khía cạnh của đời sống họ, bao gồm hành động sinh lý của họ. Khi họ sa ngã tạm thời, họ cần quay trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa đã có sẵn trong các bí tích của Giáo Hội.

 

161. “Sự tiệm tiến của lề luật,” mặt khác là một tư tưởng hướng dẫn sai lầm rằng “những góc độ khác nhau hoặc những cách thức nhận thức khác nhau trong luật của Thiên Chúa [tồn tại] đối với những cá nhân khác nhau và những hoàn cảnh khác nhau.” 148  Chẳng hạn như một số người lý luận sai rằng những cặp vợ chồng thành hôn tìm thấy lời giảng dậy của Giáo Hội về trách nhiệm làm cha mẹ là một gánh nặng cần được khuyến khích theo lương tâm riêng của họ trong việc chọn lựa ngừa thai. Đây là một hình thức sai lầm của chủ thuyết tiệm tiến. Một cách rõ ràng, nó dẫn đến một thứ nguyên tắc từ chối khả năng của một số phần tử trong Giáo Hội để đáp lại tình yêu tràn đầy của Thiên Chúa, và nhắm tới “hạ giá” lời giảng dậy luân lý Kitô giáo đối với họ.

 

162. Trong tinh thần tiệm tiến đúng nghĩa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô gần đây đã ca tụng sự can đảm của vị tiền nhiệm, Đức Phaolô VI qua thông điệp Humanae Vitae của ngài. Trong sự chống lại sức phát triển của áp lực xã hội đối với việc kiểm soát dân số, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói rằng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI  “ngài đã tiên tri qua sự hiểu biết siêu phàm, ngài đã can đảm để đi ngược lại đám đông, bảo vệ nguyên tắc luân lý, đặt một cái thắng trên văn hóa, chống lại chủ thuyết kiểm soát dân số, hiện tại và tương lai.” 149

 

163. Nhưng cùng lúc, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã ghi chú rằng Đức Phaolô đã nói với các cha giải tội diễn giải thông điệp của ngài với “lòng xót thương rộng lớn, [và] chú tâm đến những hoàn cảnh cụ thể… Câu hỏi không phải là có hay không thay đổi giáo lý, nhưng là tiến xa hơn để bảo đảm rằng sự săn sóc mục vụ dựa trên những tình huống và mỗi con người để có thể áp dụng.” 150 Từ đó Giáo Hội kêu gọi các phần tử của mình đến với sự sung mãn của chân lý, và khích lệ họ làm lợi chính mình bằng lòng thương xót của Thiên Chúa khi họ phát triển khả năng để sống với lòng thương xót ấy.

 

 

Giáo huấn Công Giáo tùy thuộc trên cộng đồng Công Giáo

 

164. Nhiều điều giảng về luân lý của Chúa Kitô, và nền đạo đức Công Giáo căn cứ trên đó. Nhưng những lời này đem lại cho những Kitô hữu một tinh thần môn đệ, một đời sống cầu nguyện, và một đòi hỏi chứng nhân Kitô giáo về xã hội và kinh tế. Trên tất cả, họ là người phò sự sống trong cộng đồng Kitô giáo - thí dụ, một gia đình của những người đàn ông và những người đàn bà gặp gỡ Chúa Giêsu cùng nhau tuyên xưng rằng Ngài là Chúa, mong ước hồng ân của Ngài uốn nắn đời họ, và giúp mỗi người đáp lại với Ngài.

 

165. Giáo huấn của Công Giáo về đồng tính luyến ái phải được hiểu trong ánh sáng này. Cùng một giáo huấn đã kêu gọi những người hướng chiều về đồng phái tính để sống khiết tịnh trong cách thức tự chế, mời gọi tất cả những người Công Giáo loại bỏ mọi sợ hãi cá nhân hầu tránh xa sự kỳ thị bất công, và để đón nhận những anh chị em đồng tính của mình vào sự hiệp thông của tình yêu và chân lý trong Giáo Hội. 151Tất cả mọi Kitô hữu đã được kêu gọi để đối diện với những xu hướng tính dục rối loạn của mình và để lớn lên trong sự tiết chế - không một cá nhân nào thay đổi những luật lệ này - và từ đó trong khả năng cho đi và nhận lãnh tình yêu bằng một thái độ hợp với với tình trạng cuộc sống của họ. 152 Đúng thế, sự đáp lại những đòi hỏi này để hoán cải rất cần thiết, một việc làm trong tiến trình hoán cải chúng ta là những tội nhân, những người làm nên thành phần của Giáo Hội. Chính yếu là tạo lập bên trong gia đình, giáo xứ, và cộng đồng Tín hữu rộng lớn hơn một môi trường của sự nâng đỡ hỗ tương, ở đó sự phát triển luân lý và thay đổi có thể xẩy ra.

 

166. Một số trong những thôi thúc của ngày hôm nay là chấp thuận hoặc hoặc chống lại đời sống đồng tính đến từ sự sợ hãi có thể hiểu được do tình trạng đơn lẻ. Càng ngày càng nhiều trong dòng chính của nền văn hóa hưởng thụ, có một người bạn đường luyến ái được cho là cần thiết, và người ta nghĩ giáo huấn của Giáo Hội là tàn nhẫn, kết án những người đàn ông và đàn bà trong nếp sống cô độc.

 

167. Nhưng nếu những giáo dân thường ngày của những giáo xứ hiểu lý lẽ bên kia đời độc thân  như một thực hành cộng đoàn, và nếu nhiều giáo xứ địa phương xem việc tông đồ của hành động hiếu khách một cách nghiêm chỉnh, lúc đó giáo huấn xưa của Công Giáo về thanh tịnh đã có trong sự tự tiết chế bên ngoài hôn nhân có thể được đón nhận đối với những con mắt tân tiến. Nói một cách khác, nếu những giáo xứ chúng ta chính là những nơi ở đó “độc thân” không có nghĩa “đơn độc”, ở đó những nối kết rộng rãi của các bạn hữu và những gia đình thực sự chia sẻ những niềm vui cũng như nỗi buồn chung, thì có lẽ ít nhất một số những chống đối của thế giới về lời giảng dậy Công Giáo có thể được loại trừ. Những Kitô hữu có thể ôm choàng những tông đồ của hiếu khách không màng tới sự chống đối hoặc lạnh nhạt như thế nào chung quanh nền văn minh là gì. Không ai giới hạn những người tín hữu hoặc có chức thánh Công Giáo trong tình thân mà chúng ta có thể đem đến cho những người đang phấn đấu.

 

168. Trong sự săn sóc mục vụ cho những người ly dị và tái kết hôn, Giáo Hội đã tìm kiếm để nối kết sự chung thủy của lời giảng dậy của Chúa Giêsu về điều bất khả phân ly của hôn nhân - mà nó đã làm nản lòng các môn đệ của Ngài - với lòng thương xót ở trung tâm sứ vụ của Ngài. Thí dụ, để ý đến lời giảng dậy của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI về tình trạng mục vụ của những người đàn ông và đàn bà đã ly dị:

 

Cha thấy ở đây một trách vụ lớn đối với một giáo xứ, một cộng đồng Công Giáo, là làm bất cứ những gì có thể để giúp họ cảm thấy được yêu thương và đón nhận, để cảm thấy họ không bị “bỏ rơi”… Đây là điều rất quan trọng, nhờ đó họ nhìn ra rằng họ được đồng hành và được hướng dẫn… Họ cần nhận ra rằng cái đau khổ này không chỉ là nỗi đau thể lý và tâm lý, nhưng một cái gì đó được kinh nghiệm bên trong cộng đồng Giáo Hội cho nhân danh những giá trị lớn lao của niềm tin của chúng ta. Cha xác tín rằng đau khổ của họ, nếu thật sự được đón nhận từ bên trong, là một hồng ân đối với Giáo Hội. Họ cần để hiểu điều này, để nhận thức rằng đây là con đường của họ phục vụ Giáo Hội, rằng họ đang ở trong trái tim của Giáo Hội. 153

 

169. Nói khác đi, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã biết trước sự thật của những gì Chúa Kitô đã dậy, nhưng ngài không đơn thuần xua đuổi những người ly dị và tái hôn, nói họ nghiến răng hoặc đau khổ trong niềm cô đơn. Đó không phải là cách thế của Giáo Hội, và của bất cứ người Kitô hữu nào, những người hành động như nó được nhớ về một trong những tội của người Pharisiêu đặt gánh nặng lề luật lên người khác, nhưng không “nhúng ngón tay” vào để giúp đỡ những người đang mang vác những gánh nặng ấy. (Mt 23:4) Hơn thế nữa, Đức Bênêđíctô XVI đã vang vọng Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, nói rằng “các linh mục và toàn thể cộng đoàn phải làm rõ ràng sự chuyên tâm săn sóc” đối với những người Công Giáo ly dị, nhờ đó họ không cảm thấy bị bỏ rơi. 154

 

170. Những ràng buộc của tình thân hữu đem lại những đòi hỏi của người môn đệ có thể mang vác được. “Mang lấy gánh nặng của nhau,” 155 trong cộng đoàn Kitô hữu, có thể giúp các phần tử của nó bước đi trên con đường chữa lành và hoán cải.Tình bác ái anh em làm cho sự trung tín trở nên có thể.Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo có những điểm như thế trong nhận định khi nói những về những người phối ngẫu họ tiếp tục trong các cuộc hôn nhân khó khăn “xứng đáng với sự biết ơn và nâng đỡ của cộng đồng hội thánh.” 156 Một cách tương tự cũng nên nói với tất cả những người thấy mình đang phấn đấu với những hoàn cảnh gia đình.

 

171. Trong một nền văn hóa mà nó chuyển hướng một mặt giữa nặc danh, mặt khác một cách tò mò ngắm nhìn thích thú “về những chi tiết của những đời sống người khác”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi chúng ta cùng đồng hành với nhau trong việc làm phát triển tinh thần. 157 Ngài nói: “Một số người tốt ở chỗ sự hòa hiệp không đem lại những khó chịu hoặc sợ hãi. Người ấy mời những người khác để họ được chữa lành, để mang chiếu của họ, ôm mang thánh giá, bỏ lại đàng sau tất cả và bước tới một cách tiếp tục công bố Tin Mừng.”158 Những người được chữa lành này vì thế có thể quảng bá lời mời gọi chữa lành cho những người khác.

 

172. Đức tin Kitô giáo và ơn cứu độ hòa giải không phải mang tính cá nhân; một cách thâm sâu nó là của chung: “Đức tin cần thiết cho Hội Thánh; nó được tuyên xưng từ bên trong nhiệm thể Chúa Kitô cũng như sự hiệp thông thân mật của những kẻ tin theo. Ngược lại với những điều kiện này của giáo hội rằng đức tin mở ra cho cá nhân người Kitô hữu để đến với tất cả những người khác. Lời Chúa Cứu Thế, một khi đã nghe, do nhân đức của sức mạnh nội tâm qua việc làm trong tâm hồn của người Kitô hữu, trở nên lời đáp trả, lời nói, lời tuyên xưng đức tin.” 159

 

173. Chúa Giêsu đã dậy nhiều điều về tính dục và hôn nhân mà những điều này rất khó để sống trong cả thời gian xưa và nay. Nhưng chúng ta không cô đơn khi chúng ta đối diện với những khó khăn này. Đời sống trong Nhiệm Thể Chúa Kitô có nghĩa là để sống như những phần tử tùy thuộc vào nhau, để xây dựng nhau trong tình yêu.160  Giáo huấn của Giáo Hội, những bí tích, và cộng đoàn tất cả hiện hữu để giúp chúng ta trên cuộc hành trình. Với sự nhẫn nại, tha thứ, và tin tưởng, trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, chúng ta cùng nhau có thể chữa lành và sống trong những cách thức mà được xem như không có thể .

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN_______________________________

 

  1. Giáo Hội là một nhà thương dã chiến. Bằng cách nào Giáo Hội giúp đỡ những người bị thương? Chúng ta có thể làm gì khá hơn?

 

  1. Tại sao không là những người Công Giáo cá nhân đạo đức? Tại sao chúng ta nhấn mạnh đến sự nâng đỡ của cộng đoàn? Bạn đã nhận ra ân sủng của Thiên Chúa hoạt động qua cộng đoàn như thế nào?

 

  1. Cái gì là những ngãng trở cho việc tạo dựng những tình bạn tinh thần thân thiết trong văn hóa của bạn? Những gì giáo xứ hoặc giáo phận của bạn làm để khuyến khích những tình thân Công Giáo?

 

  1. Sự giúp đỡ nào đang có trong giáo xứ hoặc giáo phận của bạn trong việc thúc đẩy sự trinh khiết? Có những nhóm trợ giúp hoặc những cơ hội giáo dục không? Tòa Cáo Giải mở cửa thường xuyên như thế nào, và có những cơ hội đối với việc hướng dẫn tâm linh không?

 

 

 

IX. NGƯỜI MẸ, NGƯỜI THẦY, GIA ĐÌNH:

ĐẶC TÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI

 

           

Giáo Hội có những cơ cấu tổ chức bởi vì Giáo Hội phải hoạt động trong thế giới. Nhưng điều này không ảnh hưởng đến căn tính của Giáo Hội. Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Kitô, một nhân vị. Trong những từ ngữ của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, Giáo Hội là mẹ và là thầy của chúng ta, là người ủi an, hướng dẫn gia đình đức tin của chúng ta. Ngay cả khi những phần tử và những người hướng dẫn của Giáo Hội phạm lỗi, chúng ta vẫn cần đến sự khôn ngoan của Giáo Hội, những bí tích, sự nâng đỡ, và công bố chân lý, bởi vì Giáo Hội là hiện thân của Chúa Giêsu trên thế giới -- tài liệu phong phú của gia đình dân Chúa.

 

 

Giáo Hội là Mẹ chúng ta; chúng ta là con cái của Giáo Hội

 

174. Giáo Hội là Giêrusalem Thiên Quốc, “Giêrusalem ấy từ trên cao… là Mẹ chúng ta.”161 (Gal 4:26) Giáo Hội là “mẹ của đời sống mới chúng ta.”162 Giáo Hội, như Tân Nương Trinh Khiết của Chúa Kitô, sinh sản con cái của mình, những người con “được sinh lại từ trên cao… sinh bởi nước và Thánh Thần.” (Jn 3:3,5, NAB)

 

175. “Được sinh ra từ trên cao” nghĩa là gì? Phải chăng có nghĩa là chúng ta không còn mang bản tính trái đất này sau khi chịu phép Thánh Tẩy? Không, nhưng nó có nghĩa rằng từ giếng nước rửa tội sinh ra một Dân Thiên Chúa của Giao Ước Mới, mà nó vượt qua mọi giới hạn tự nhiên của các quốc gia, các nền văn hóa, các sắc dân, và phái tính: “Vì do một Thánh Thần chúng ta tất cả đã rửa tội thành một thân mình.” 163 Nó có nghĩa rằng, là con cái của Giáo Hội chúng ta mang một căn tính mới mà nó không bị hủy diệt, nhưng vượt trên tất cả mọi cách thế trong đó con người một cách tự nhiên kiến tạo căn tính của mình.

 

176. Như những phần tử của Giáo Hội, chúng ta là thành phần của “một thân thể”, mà nó không được định nghĩa bởi những phẩm chất con người như tuổi tác, quốc gia, hoặc thông minh, hoặc bởi sự thành công của con người như hiệu quả, tổ chức, hoặc nhân đức luân lý. Nếu Giáo Hội được định nghĩa bởi bất cứ phẩm chất con người này, chúng ta sẽ không tái sinh “từ trên cao,” nhưng từ phía dưới này, từ chính chúng ta và những khả năng giới hạn của riêng chúng ta. Vì thế, đừng kể chúng ta thông minh và đức độ như thế nào, không có gì được so sánh với sự toàn thiện của Chúa Kitô, Hiền Thê của Ngài, Giêrusalem từ trên cao, Mẹ chúng ta là Giáo Hội. Để trở thành con cái Giáo Hội, chúng ta đón nhận một hồng ân, một căn tính mới trong Chúa Kitô, mà chúng ta không thể cho chính mình.

 

 

Tại sao và như thế nào Giáo Hội là thánh

 

177. Khi chúng ta nói rằng Giáo Hội “tinh tuyền”, chúng ta không phủ nhận điều này là tất cả phần tử của Giáo Hội đều có tội, vì Giáo Hội “một mặt thánh thiện và luôn luôn cần thanh tẩy.” 164 Sự thánh thiện của Giáo Hội là sự thánh thiện của Chúa Kitô, Phu Quân của Giáo Hội.Chính tình yêu của Chúa Kitô, Tân Lang, mà tạo nên Giáo Hội trong vị trí đầu tiên. “Giáo Hội được sinh ra một cách đầu tiên do sự trao ban hoàn toàn chính mình của Chúa Kitô cho phần rỗi chúng ta, được tham dự vào nguồn mạch của Thánh Thể và hoàn tất trên thập giá… Như Evà được tạo nên từ cạnh sườn của Adam trong giấc ngủ, cũng vậy Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn của Chúa Kitô chết treo trên thập giá.”165

 

178. Chúng ta có thể nói rằng không một nhân đức, sự thánh thiện, hoặc thành quả nào chúng ta có thể đạt tới chỉ qua “tổ chức” Giáo Hội, nhưng là do tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Khi chúng ta được sinh ra bởi Giáo Hội như là Mẹ của chúng ta, chúng ta được sinh ra do tình yêu của Chúa Kitô. Tình yêu này cho Giáo Hội căn tính của mình, không phải như một quốc gia, hoặc một nhóm, một hội quán được thành lập do con người giữa những thứ khác, nhưng như “Tân Nương”, “Người Phối Ngẫu”, người là “một thân xác” với Chúa Kitô, và vì thế là một Thân Mình.

 

179. Tình yêu trong đó chúng ta được sinh ra trong Chúa Kitô là một tình yêu chúng ta không thể tự cho chính mình. Một khi đã lãnh nhận, nó tinh luyện, nhờ đó Giáo Hội, qua mỗi con người chúng ta phải luôn luôn biến đổi trong tình yêu Chúa Kitô cho đến khi Chúa Kitô hoàn toàn được hình thành trong tất cả chúng ta. Đây là ý nghĩa của hình ảnh Giáo Hội lữ hành, một Giáo Hội “trên cuộc lữ hành” đạt tới đích trọn hảo của mình, sự trọn hảo trong và do tất cả tình yêu mà nó định nghĩa Giáo Hội ngay trong bước đầu.

 

180. Cho đến lúc đó, Giáo Hội sẽ nhận ra rằng cuộc lữ hành của mình là một trong những cuộc lữ hành luôn luôn “theo con đường thống hối và canh tân,” 166 Và Giáo Hội không thể, và không tuyên bố sự hoàn thiện ngoại trừ trong của hồi môn của mình, máu của Chúa Kitô, đó là, tình yêu của Ngài.

 

 

Khi những người Công Giáo phạm tội, nó không tẩy xóa những gì là thánh thiện về Giáo Hội

 

181. Giáo Hội đặt nền tảng trên Chúa Kitô có nghĩa rằng tội lỗi trong Giáo Hội, ngay cả tội những mục tử của Giáo Hội cũng không vô hiệu hóa căn tính của Giáo Hội hoặc sự thánh thiện của Giáo Hội, bởi vì căn tính của Giáo Hội không đến từ bất cứ ai trong chúng ta. Căn tính ấy đến từ Chúa Kitô. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, dân của Thiên Chúa, Israel, được định nghĩa do giao ước của họ với Thiên Chúa, và không tội lỗi nào của phía họ có thể làm giảm giá mà “sự chọn lựa” hoặc căn tính đã ban cho họ như dân của Thiên Chúa. Bất cứ nơi nào họ tới, Thiên Chúa đã không từ bỏ họ.Bất cứ ai gặp họ luôn luôn gặp dân của Thiên Chúa, không kể bất cứ thành phần nào của dân ấy tội lỗi ra sao.

 

182. Sự thành tín của giao ước Thiên Chúa cũng áp dụng cho Giáo Hội. Phép lạ của Giáo Hội là tình yêu của Chúa Kitô, nó xác định Giáo Hội không thể bị tẩy xóa bởi bất cứ tội lỗi nào do những phần tử của mình. Giáo Hội là một xã hội hữu hình trong thế giới, nhưng là một xã hội mà nó không định nghĩa bởi bất cứ cái gì mà nó là “của” thế giới.Đó là điều rất đẹp đẽ về Giáo Hội. Chúng ta không phải chờ đợi cho một xã hội của 12 người được thiết lập trước khi chúng ta có thể tuyên bố chúng ta có một Giáo Hội xứng đáng để tin tưởng. Chúng ta không đặt đức tin của chúng ta trên nhân đức con người hoặc sự hoàn thiện nhưng chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết cho chúng ta, và bằng máu của Ngài đã làm cho chúng ta “một dòng dõi tuyển chọn, tư tế vương giả, dân tộc thánh thiện,” dân riêng của Chúa, mà chúng ta có thể tuyên xưng những việc làm kỳ diệu của Ngài, Đấng đã gọi chúng ta ra khỏi tối tăm vào ánh sáng huyền diệu của Ngài. (1 Pet 2:9)

 

 

Trách nhiệm và quyền giáo huấn của Giáo Hội

 

183. Giáo Hội là Mẹ chúng ta, chuyển cho chúng ta một phẩm tính mới trong tình yêu và sự thánh thiện mà từ đó Giáo Hội được hình thành, đồng thời có trách nhiệm dậy dỗ chúng ta, uốn nắn chúng ta trở nên hoàn thiện hơn trong căn tính mới chúng ta đã lãnh nhận, không phải từ mặt đất, nhưng từ “trên cao”. Không có quyền lực trần tục nào có thể phá hủy nhiệm vụ này bởi vì căn tính Giáo Hội nhận lãnh và chuyển giao không đến từ những thành quả của thế giới, như chúng ta thấy, nhưng chuyển đến chúng ta, làm hoàn thiện tất cả. Hơn nữa, “bổn phận mục vụ của Mẹ Hội Thánh,” hoặc quyền giáo huấn của Hội Thánh, “là nhắm tới việc Dân Thiên Chúa sống trong chân lý mà nó được giải thoát.”167

 

184. Quyền giáo huấn của Giáo Hội phục vụ toàn dân Thiên Chúa bằng cách bảo vệ chân lý của toàn thể Tin Mừng, cùng với tất cả những lời dậy dỗ luân lý được trình bày, một cách đầy đủ và rõ ràng trong Tin Mừng, để nuôi dưỡng sự tự do của con người. Những điều này bao gồm những sự thật như phẩm giá của con người, sự tốt lành của tạo dựng, sự cao cả của tình trạng hôn nhân, và tình trạng nguyên thủy của việc hiệp thông hy sinh sự sống vì tình yêu. Những sự thật không thể mất đi giá trị do tội lỗi trái ngược lại với phẩm tính chúng nói lên. Hơn thế nữa, những tội lỗi như thúc đẩy gọi Giáo Hội công bố những sự thật này một cách trung thành hơn nữa, ngay cả khi Giáo Hội tìm kiếm cuộc canh tân trong những điều rất thật này, và trong tình yêu từ đó mà ra.

 

 

Những cặp vợ chồng và các gia đình trở nên nhân chứng của Giáo Hội như thế nào

 

185. Những cặp vợ chồng Kitô hữu có một vai trò chính trong việc rao truyền những chân lý này, bằng cách mà thế gian thấy thuyết phục nhất - đó là, trong các cuộc sống một cách tiếp tục được chuyển đổi bởi tình yêu đã được chuyển cho các cặp phu thê qua Bí Tích Hôn Phối và xác nhận mối hiệp thông của họ như vợ chồng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trình bày một cách cảm động, làm chứng về sự thật mà những người phối ngẫu Kitô hữu có thể mang lại, đã được nâng đỡ bằng những ân huệ của Bí Tích Hôn Phối:

 

Những cặp vợ chồng Kitô hữu không ngây ngô; họ biết những vấn nạn và những cám dỗ của đời sống.Nhưng họ không sợ hãi đáp lại trước Thiên Chúa và xã hội.Họ không tháo chạy, họ không lẩn trốn, họ không làm giảm giá sứ mạng tạo lập một gia đình và đem những con cái vào thế giới. Nhưng ngày nay, thưa Cha, nó khó khăn… Dĩ nhiên, là khó khăn! Đó là lý do tại sao chúng ta cần ơn sủng, ân sủng đến từ bí tích! Những bí tích không phải là những trang điểm cho cuộc đời - hôn nhân đẹp đẽ biết bao, một cuộc cử hành đẹp đẽ dường nào, một yến tiệc sang trọng biết bao… Nhưng đó không phải là Bí Tích Hôn Phối. Đó là một sự trang điểm! Ân sủng không được ban cho để trang điểm đời sống nhưng hơn thế để giúp chúng ta mạnh mẽ trong đời sống, ban cho chúng ta sự can đảm để đi tới! Và nếu không tự cô lập, nhưng luôn luôn liên kết với nhau, những người Kitô hữu cử hành Bí Tích Hôn Nhân bởi vì họ biết họ cần nó! 168

 

186. Các Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđíctô XVI cả hai đã có cơ hội để trích dẫn từ tông thư Evangeli Nuntiandi của Đức Phaolô V: “Con người văn minh lắng nghe các chứng nhân một cách tự nguyện hơn đối với các bậc thầy, và nếu họ lắng nghe các bậc thầy, bởi vì họ là những chứng nhân.” 169 Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang kêu mời những cặp vợ chồng Kitô hữu trở nên một loại thầy dậy mà con người thời nay lắng nghe, những bậc thầy họ dậy bằng những chứng nhân của họ, và bằng cách đó chứng minh chân lý và trình bày sức thuyết phục của nó trong việc cởi mở của họ với đời sống mới, bằng sự ấm áp của họ trong tình yêu hỗ tương, và trong sự sẵn sàng của lòng hiếu khách của họ, như những ốc đảo của tình yêu và lòng thương xót trong một nền văn hóa thường xuyên bị ghi dấu bởi nghi ngờ, sự chai cứng của trái tim, và sự nhát đảm.

 

187. Chứng cứ của những người phối ngẫu Kitô giáo có thể mang lại ánh sáng vào trong thế giới đem lại ảnh hưởng đạo đức trên những con người, và “cái có” trên “cái là” - và vì thế đã quên sót giá trị “những con người” và “loài người” cùng với nhau. Nhiều người kết hôn trong Chúa Kitô là những chứng nhân trung thành cho người mình yêu, và vì thế trở nên những bậc thầy của chân lý, mà nó luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng chinh phục một cách tự nhiên.                                                  

 

188. Giáo Hội là một tổ chức, nhưng lúc nào cũng hơn một tổ chức.Giáo Hội là mẹ, là hiền thê, là thân mình, là gia đình, và là một giao ước. Tất cả những ai đã chịu phép Thánh Tẩy đều là con cái Giáo Hội, phẩm tính chính thức và căn bản nhất được ban cho chúng ta là những Kitô hữu. Giống như tình trạng tội lỗi của chính chúng ta không bao giờ xóa khỏi tình trạng tạo dựng chúng ta trong hình ảnh Thiên Chúa và tình trạng thành viên của chúng ta trong gia đình của Thiên Chúa.Khi những người Công Giáo phạm tội, điều này không xóa đi sự thánh thiện của Giáo Hội. Căn tính của Giáo Hội dựa trên Chúa Giêsu, một nền tảng mà trên đó chúng ta được kể tới, nhưng cũng sâu thẳm hơn và bảo đảm hơn bất cứ sự thành công hay thất bại nào của con người. Mặc dù Giáo Hội có nhiều khuyết điểm, Giáo Hội không thể thiếu sót bổn phận rao giảng Tin Mừng, và do đó, chúng ta tiếp tục sứ mạng tình yêu của Giáo Hội.

 

 

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN __________________________

 

  1. Tại sao giao ước của Thiên Chúa che chở chúng ta, ngay cả khi chúng ta có tội?

 

  1. Tất cả mọi người đều phạm tội, bao gồm những nhà lãnh đạo Công Giáo. Tại sao chúng ta nói rằng Giáo Hội vẫn luôn thánh thiện?

 

  1. Chúa Giêsu muốn chúng ta làm gì khi Giáo Hội không sống với những tiêu chuẩn của mình?

 

  1. Tại sao Chúa Giêsu yêu mến Giáo Hội? Điều gì Giáo Hội làm vui lòng Người? Điều gì khiến Ngài thất vọng?

 

 

 

 

X. CHỌN LỰA ĐỜI SỐNG

 

 

 Thiên Chúa tạo nên chúng ta với một lý do. Tình yêu của Ngài là sứ vụ đời sống chúng ta. Sứ vụ này có thể giúp chúng ta tìm ra căn tính đích thực của mình. Nếu chúng ta chọn mang lấy sứ vụ này, chúng ta sẽ có một viễn ảnh mới về nhiều lãnh vực, không chỉ riêng gia đình. Để sống sứ vụ giáo hội tại gia cũng có nghĩa là những gia đình Công Giáo sẽ phải đôi khi sống như những thành phần thiểu số, với những giá trị khác nhau khác với nền văn hóa bao quanh chúng ta. Sứ vụ tình yêu của chúng ta sẽ đòi hỏi sự can đảm và chấp nhận hy sinh. Chúa Giêsu đang mời gọi, và chúng ta có thể đáp trả, chọn lựa sống đức tin, đức cậy, đức ái, vui mừng, phục vụ, và sứ vụ.

 

 

Sứ vụ của chúng ta đối với toàn bộ đời sống

 

189.  Chúng tôi bắt đầu cuốn giáo lý này bằng cách giải thích rằng Thiên Chúa tạo dựng chúng ta cho một lý do. Thiên Chúa mà chúng ta gặp gỡ trong Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, và mời gọi chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương. Nếu chúng ta hiểu rằng tình yêu là sứ vụ của chúng ta trong đời sống hôn nhân chúng ta, gia đình chúng ta, con cái chúng ta, và giáo xứ chúng ta, lúc ấy chúng ta đã hiểu một sự thật căn bản mà nó sẽ hình thành nhiều khía cạnh khác trong đời sống của chúng ta.

 

190. Chẳng hạn như, nếu sự chung thủy đối với giao ước đòi hỏi tự chế, nếu thân xác chúng ta và thế giới vật chất có thể là những nguồn mạch của ân sủng thần linh, thì chúng ta có thể dẫn tới những câu hỏi về môi trường, kỹ thuật, và dược phẩm với một mức độ đổi mới. Một cách tương tự, nếu chúng ta theo đòi hỏi của Thiên Chúa đối với một giao ước tình yêu mạnh hơn đau khổ, lúc đó chúng ta có những lý do mới cho việc đứng vững với những người đau khổ hoặc sầu muộn. Nếu chúng ta hiểu hình ảnh của Thiên Chúa này, và đồng thời phẩm giá con người, được bén rễ sâu hơn bất cứ tài năng con người ngẫu nhiên nào hoặc thành qủa nào, lúc đó, chúng ta hiểu tại sao Giáo Hội có dạt dào tình yêu đối những trẻ em, người cao niên, người tàng tật, và tất cả những ai luôn cần thiết và lệ thuộc vào sự săn sóc của người khác.

 

191. Giờ đây chúng ta nhận thức tại sao một giáo lý về gia đình đã là một giáo lý sống động cho tất cả cuộc sống. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói, “Rao giảng Phúc Âm, thực ra, được thực hiện đầu tiên trong gia đình, và rồi trong những lãnh vực khác nhau của cuộc sống mỗi ngày.”170

Nếu chúng ta học biết để nghĩ về gia đình chúng ta như những giáo hội tại gia, nếu chúng ta học biết tại sao luân lý cá nhân không phải là ngữ cảnh đúng cho việc đón nhận lời giảng huấn Công Giáo, lúc đó chúng ta đã đón nhận một cái nhìn mới mà nó sẽ thay đổi toàn thể căn tính của chúng ta.

 

 

Sống như một thiểu số sáng tạo

 

192. Người Công Giáo nhận thức về ý nghĩa của cuộc sống và sống tốt như thế nào sẽ không chinh phục mọi người trong thời đại này. Kỷ nguyên của “thế giới Kytô giáo,” khi những người Tây phương đã có thể tưởng chừng ít nhất một số những liên kết bền bỉ giữa các giá trị chung và các giá trị Kitô giáo đang lu mờ. Những người Công Giáo hậu Kitô Giáo Tây Phương đang học để sống như những người Kitô hữu trong nhiều phần đất trên thế giới, những nơi ở Phi Châu hoặc Á Châu, ở đó người Kitô hữu không bao giờ chiếm đa số.

 

193. Vai trò thiểu số trong một nền văn hóa không có nghĩa là một vai trò thừa thãi hoặc không đáng tôn trọng. Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo dậy về ơn gọi của chúng ta trong việc đóng góp vào xã hội, trích dẫn một lá thư của một Kitô hữu, được viết vào thời điểm khi Giáo Hội xa với sự xác nhận hoặc kính trọng của xã hội. Cám dỗ để rút lui là điều rõ ràng, nhưng lá thư nói: “Đừng sống hoàn toàn cô lập, rút lui vào chính mình như bạn đã hoàn toàn công chính, nhưng thay vào đó tìm kiếm sự hiệp thông với những người khác.” 171 Cái nhìn về phía trước này, tinh thần phục vụ một cách sống động đã có ngay từ nguồn gốc xa xưa. Tiên tri Jêrêmia đã nói với dân Do Thái lưu đày ở Babilon, mặc dù người Babilon đã triệt hạ Giêrusalem và bắt người Do Thái làm tù nhân: “Hãy tìm kiếm sự an sinh của thành phố ở đó Ta đã lưu đày các ngươi; cầu xin Thiên Chúa cho nó, vì sự an sinh của các ngươi tùy thuộc trên nó.” (Jer 29:7, NAB)

 

194. Sống trong thế giới như một thụ tạo,người Công Giáo thiểu số hãy sống tinh thần người môn đệ. Trong sách Daniel, Daniel và các bạn hữu Do Thái có thể phục vụ trong triều đình của vua Babilon là Nebuchadnezzar.Những người Do Thái này có thể đã đi xa hơn khi phục vụ một ông vua ngoại đạo đang chống đối chính nó.Nhưng họ đã trở nên hữu dụng một cách kính nể đối nhà vua mặc dù họ là những người Do Thái trung thành.

 

195. Lý do mà họ có sự khôn ngoan khơn những phù thủy của nhà vua là họ đã nắm giữ trong đời sống họ đức tin vào một Thiên Chúa chân thật. Họ cầu nguyện 172 và tuân giữ những lề luật Do Thái (như kiêng cữ một cách nghiêm nhặt 173). Họ đã làm dậy men trong một xứ sở ngoại bang bởi vì họ biết họ là ai. Họ biết họ ở trong một thế giới đặc biệt nhưng lại không thuộc về nó. Và họ biết khi nào không được thỏa hiệp - Họ biết bản chất tôn giáo của họ một đôi khi đòi hỏi phải trả giá - và họ chấp nhận hang sử tử và kìm kẹp tra tấn hơn là phản bội Thiên Chúa và thờ phượng các thần tượng.

 

196. Những Kitô hữu, vì thế, có những cách thức và tiên liệu cho đời sống đức tin trong một thế giới ở đó không hiểu niềm tin của họ hoặc đồng ý với họ. Nếu lối sống của chúng ta khác với lối sống của thế gian, tuy nhiên chúng ta có hy vọng vững chắc và hiểu biết rõ ràng, “một dự án lớn lao hơn những tư tưởng và những dự tính của chính chúng, một dự án mà nó bảo đảm và để chúng ta có thể phó thác hoàn toàn tương lai của chúng ta cho Đấng chúng ta yêu.” 174 Chúng ta có một nền tảng vững chãi để đứng vững khỏi những sức công phá trong xã hội và văn hóa, và cũng cùng nền tảng ấy hướng dẫn chúng ta yêu mến và tham gia với xã hội và nền văn hóa. “Tình yêu xoay vần mặt trời và các vị tinh tú,” 175 tình yêu đã tạo tác và mang lấy tất cả đó cũng giống như tình yêu mà nó tăng nghị lực cho hôn nhân của chúng ta, gia đình chúng ta, gia cư chúng ta, và Giáo Hội chúng ta. Chúng ta có thể tự tin rằng nếu chúng ta đi theo tình yêu này, ngay cả đến dưới chân thánh giá, những đau khổ của chúng ta cũng sẽ làm cho chúng ta trở nên thực tế hơn, một cách nhân bản hơn, và rằng sự sống lại và công lý đang đến, bởi vì chúng ta đang đi theo Thiên Chúa đáng tin cậy. Tình yêu này sẽ cho chúng ta cơ hội để sống một cách đặc biệt, như muối của trần gian.176

 

 

Chúng ta tất cả là những nhà truyền giáo

 

197. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khuyến khích: “Gia đình hãy trở nên những gì mình là,” 177 và những lời ngài đã không vô ích qua những rung động của nó; thôi thúc của nó đã chỉ tăng thêm qua bộ mặt của những thách đố mà các gia đình đã cảm nghiệm ngày nay. Viễn ảnh của Thánh Gioan Phaolô II là sứ vụ của gia đình đi theo căn tính của nó trong dự án của Thiên Chúa: “Và từ trong dự án của Thiên Chúa, nó đã được xây dựng như một ‘một cộng đoàn rõ nét của sự sống và tình yêu’, gia đình có sứ vụ trở nên mỗi ngày một hơn, những gì nó là, hoặc nói, một cộng đoàn tình yêu trong nỗ lực mà nó sẽ tìm thấy đầy đủ … trong vương quốc của Thiên Chúa.” 178 Trong ngôn ngữ của Đức Gioan Phaolô II, nền tảng sứ vụ của gia đình vì thế, là “để bảo vệ, mặc khải, và liên đới yêu thương,” một sứ vụ mà “phản ảnh sống động và một sự chia sẻ thực tế trong tình yêu của Thiên Chúa đối với con người và tình yêu của Chúa Kitô đối với Giáo Hội, Hiền Thê của Ngài. 179 Khi gia đình mang lấy căn bản sứ vụ của nó, gia đình trở nên điều mà nó luôn luôn có ý nghĩa để trở thành.

 

198. Sứ vụ này không dành riêng cho một số ít hoặc cho những người đặc biệt. Nó cũng không có nghĩa rằng những gia đình một cách nào đó không còn phải là chính nó hoặc tìm kiếm sau một số những gì không hoàn hảo để làm chứng cho Tin Mừng. Gia đình Kitô giáo được kêu gọi để đi vào sâu, phản ảnh trên, và làm chứng cho tình yêu và sự sống mà nó đã là căn bản cho sự có mặt của gia đình.

 

199. Gia đình là một cộng đồng tình yêu, được xây dựng trên hồng ân chính tự nó qua sự hiệp thông cả hai nên một thân xác của người chồng và người vợ. Trong sự hiệp nhất bất khả phân ly của người chồng và người vợ mà nó đặt nền tảng cho toàn bộ gia đình như một cộng đồng thật sự của những con người. 180 Chính trong gia đình mà tình yêu được học hỏi như một tặng vật của bản ngã, một tặng ân trước hết được nhận lãnh bởi người con từ người cha và người mẹ và rồi trao tặng trở lại và chia sẻ với những người khác. Gia đình là nơi ở đó giá trị của hiệp nhất được học hỏi, hình thành căn bản cho sự hiệp nhất của xã hội. Trong cách này, những cuộc hôn nhân và những gia đình mà nó làm sống lại tình yêu trong sự hiệp nhất và chung thủy đem lại một dấu chứng sống động dưới những mái nhà, những xóm làng, những giáo xứ, những cộng đồng địa phương, và bất cứ họ tới đâu, bằng phục vụ, hành động, hay giải trí.

 

 

Giáo hội tại gia sẽ tìm thấy sự viên mãn của nó trong sứ vụ cho Giáo hội hoàn vũ

 

200. Giáo hội luôn luôn giống như một mái nhà. Chính Chúa Kitô đã sinh ra, được nuôi dưỡng, và hình thành “trong lòng thánh gia của Giuse và Maria.”181 Maria như một trinh nữ và như một người mẹ, một cách cá biệt và đẹp đẽ trong cả hai ơn gọi độc thân và làm mẹ.182 Trong đời sống gia đình với nhau, Thánh Gia Nazareth là một mẫu gương và là lời chuyển cầu cho mọi gia đình.Trong mục vụ công khai của mình, Chúa Giêsu đã thường xuyên thăm viếng và lưu lại nhà của các gia đình, đặc biệt gia đình Thánh Phêrô ở Capernaum.183 Thánh Phaolô trong những lời chào thăm của mình cũng đã tri ân những môn đệ cách riêng của ngài, một cách đặc biệt cặp vợ chồng Prisca và Aquila, và “giáo hội tại nhà họ.” 184 như Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo dậy:

 

Từ ban đầu, cốt lõi của Giáo Hội đã thường xuyên được thành lập bởi những người đã trở thành những kẻ tin nhận, “họp nhau với tất cả nhà.” Khi đã được trở lại, họ đã ao ước  rằng “toàn thể gia đình họ” cũng sẽ được cứu rỗi. Những gia đình này những người trở thành những kẻ tin nhận là những hải đảo của cuộc sống người Kitô hữu trong một thế giới không tin.185

 

 

201. Để nói về gia đình như một giáo hội tại gia, có nghĩa là những gì nói về chính Giáo Hội thường xuyên cũng có thể nói một cách so sánh về gia đình Kitô giáo, và rằng gia đình Kitô giáo đóng vai trò chính bên trong Giáo Hội và thế giới. Đức Gioan Phaolô II đã nói về “vai trò giáo hội đặc thù và căn bản” của gia đình Kitô giáo: “Gia đình Kitô giáo được kêu gọi trở nên một phần tử sống động và có trách nhiệm trong sứ vụ của Giáo Hội qua cách thức tự nhiên và căn bản do vị trí của chính nó trong cái nó là và trong cái nó làm như một ‘cộng đoàn gắn bó của đời sống, và tình yêu’ do những phục vụ của Giáo Hội và của xã hội.” 186

 

202. Trong Bản Tóm Lược của Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo diễn tả Bí Tích Hôn Nhân cùng với Bí Tích Truyền Chức như “ở phục vụ của hiệp thông và sứ vụ.” 187 Hôn nhân và gia đình phục vụ và xây dựng sự hiệp thông của Giáo Hội và đóng góp vào và làm triển nở sứ mạng Giáo Hội để công bố Tin Mừng và tình yêu như Chúa Kitô đã yêu. Đôi khi ở đó có thể là một ràng buộc giúp suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh để cho Giáo Hội làm thế nào (và làm thế nào một giáo phận và một giáo xứ) phục vụ những cuộc hôn nhân và những gia đình. Thật ra, đây là một phần sống động trong công tác tông đồ vươn xa của Giáo Hội.

 

203. Nhưng như nó quan trọng và có lẽ còn cấp bách hơn, là suy nghĩ làm cách nào gia đình Kitô giáo yêu thương và phục vụ giáo xứ, giáo phận, Giáo Hội hoàn vũ. Mục vụ nhắm tới việc giúp đỡ các gia đình để chính họ trở nên những nhà truyền giáo. Đó là một ý nghĩa, một mô phạm chuẩn mực mà nó mong chờ tuôn tràn trong Giáo Hội: mở rộng giới hạn gia đình Kitô giáo đối với công việc phổ biến Tin Mừng. Gốc rễ của nó là không gì hơn việc tái khám phá ơn gọi hôn nhân như một ơn gọi trở thành giáo hội tại gia.

 

204. Giáo hội tại gia không phải là ý tưởng trừu tượng. Nó là một thực tại, một ơn gọi, và một sứ vụ, được tìm thấy trong Bí Tích Hôn Phối, và được nhiều người sống. Chúa Kitô vẫn đang tiếp tục mời gọi: những gia đình Kitô giáo, Giáo Hội cần các con, thế giới cần các con.

 

205. Gia đình, hãy trở nên những gì là mình. 188 Chọn lựa cuộc sống, do đó, để bạn và con cái bạn có thể sống, bởi tình yêu của Chúa, Thiên Chúa của bạn, vâng theo tiếng Ngài, và nắm chặt lấy Ngài.189 Sứ vụ này đôi khi làm cho bạn như khác biệt với những người khác trong xã hội của bạn.Để sống chứng nhân tình yêu của mình đòi hỏi kỷ luật và lời hứa tinh thần, nhưng đừng sợ.Giáo Hội ở với bạn.Chúa ở với bạn.Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với bạn.Thiên Chúa đang mời gọi.Ngài sẽ trung thành, và giao ước của bạn sẽ mang lại hoa trái.Tình yêu là sứ vụ của bạn, căn bản của tất cả sự hiệp thông, sự tiến bộ vững chắc trong phục vụ, vẻ đẹp, và sự thật.

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN ____________________________    

 

  1. Bằng cách nào giáo lý về gia đình trở thành một giáo lý cho toàn bộ đời sống? Những giáo huấn Công Giáo về con người tự nhiên, tính dục, hôn nhân, và gia đình liên kết với những khía cạnh khác của đời sống như thế nào?

 

  1. Những giá trị và thói quen trong cộng đồng của bạn làm cho dễ dãi hoặc khó khăn hơn để trở là người Công Giáo? Trong văn hóa của bạn, bạn là người Công Giáo hoàn toàn tự do, hoặc có bất cứ sức ép nào để dung hòa với đức tin? Bạn làm thế nào để có thể tham dự vào văn hóa của mình trong khi vẫn giữ được đức tin?

 

  1. Gia đình của bạn có nghĩ rằng nó là một giáo hội tại gia không? Những giá trị nào được nhìn thấy trong cung cách sống của gia đình bạn? Những bước kế tiếp nào bạn có thể xử dụng để trở nên những nhà truyền giáo tốt hơn?

 

  1. Những sự nâng đỡ nào gia đình bạn cần từ Giáo Hội? Giáo Hội có thể giúp gì cho bạn? Bạn có thể giúp gì cho Giáo Hội và những gia đình khác?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KINH CẦU CHO ĐẠI HỘI GIA ĐÌNH THẾ GIỚI

TẠI PHILADELPHIA NĂM 2015

 

 

Lạy Thiên Chúa và Cha của chúng con,

Trong Chúa Giêsu, Con Cha và làĐấng Cứu Chuộc chúng con,

Cha đã tạo dựng nênchúng con

những người con

trong giađình củaGiáoHội.

Xin cho ân sủng và tình yêu của Cha

Giúpgia đình chúng con

Trong mọi khía cạnh của thế giới

để hiệp nhất với nhau

trong sự trung thành với Tin Mừng.

Xin cho mẫu gương Thánh Gia,

với sự trợ giúp của Thánh Thần Chúa,

hướng dẫn tất cả mọi gia đình, đặc biệt những gia đình đang gặp thử thách nhất,

để trở nên ngôi nhà của hiệp thông và cầu nguyện

và để luôn luôn tìm kiếm chân lý của Cha và sống trong tình yêu của Cha.

Nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

 

Giêsu, Maria, Giuse, xin cầu cho chúng con!

 

 

 

 

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC DÙNG

TRONG TÀI LIỆU

 

 

CCC, Cathechism of the Catholic Church (Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

CCCC, Compendium of the Cathechism of the Catholic Church (Toát yếu Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

CIC, Code of Canon Law (Khoản Giáo Luật)

CSDC, Compendium of the Social Doctrine of the Church (Toát yếu Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh)

CV, Caritas in Veritate (Đức ái trong Chânlý)

DCE, Deus Caritas Est (Thiên Chúa Là TìnhYêu)

DD, Dies Domini (Ngày của Chúa)

DV, Dei Verbum (Lời Chúa)

EG, EvangeliiGaudium (Vui Mừng của PhúcÂm)

EN, EvangeliiNuntiandi (Phúc Âm Hóa trong Thế Giới Tân Tiến)

FC, Familiaris Consortio (Vai trò của Gia Đình Công Giáo trong Thế Giới Tân Tiến)

GS, GaudiumetSpes (Vui Mừng và Hy Vọng)

GrS, Gratissimam Sane (Mẹ Của Tình Yêu Rất Dịu Dàng)

HV, Humanae Vitae (Sự Sống Con Người)

LF, Lumen Fidei (Ánh Sáng Đức Tin)

LG, Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân)

MD, Mulieris Dignitatem (Phẩm Giá và Ơn Gọi Của Phụ Nữ)

NAB, New American Bible (Phúc Âm Mới)

NMI, Novo MillennioIneunte (Mở Đầu Đệ Tam Tân Niên Kỷ)

NRSV, New Revised Standard Version (Bible)

PP, PopulorumProgressio (Phát Triển Các Dân Tộc)

RH, RedemptorHominis (Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần)

RN, RerumNovarum (Những Tạo Vật Mới)

SC, SacramentumCaritatis (Bí Tích của Bác Ái)

ToB, Theology of Body (Thần Học Thân Xác)

VS, Veritatis Splendor (Vinh Quang Chân Lý)

Books of the Bible ara abbreviated as per the CCC

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

(End Notes)

 

 

  1. Cf. Catechism of the Catholic Church (CCC) (1992), 425-427.
  2. Pope Francis, Encyclical Lumen Fidei (LF) (2013), 52.
  3. Cf. LF, 57.
  4. Pope John Paul II, Encyclical RedemptorHominis, (RH) (1979), 9.
  5. CCC, 426.
  6. LF, 57. Cf. Heb 12:2.
  7. Vatican Council II, Pastoral Constitution GaudiumetSpes (GS) (1965), 22.
  8. GS, 19.
  9. Benedict XVI, “Eucharistic Celebration: Homoly,” 7 thWorld Meeting of Families, Milan, June 2, 2012.
  10. CCC, 2331.
  11. Pope John Paul II, Apostolic Letter Mulieris Dignitatem (MD) (1988), 7.
  12. MD, 7.
  13. GS, 19.
  14. RH, 10.
  15. Cf. Gen 1:26-27, 2:24.
  16. Pope John Paul II, Apostolic Exhortation FamiliarisConsortio (FC) (1981), 11. Cf. Gen 1:26-27, 1 Jn 4:8, and GS, 12.
  17. Pope Benedict XVI, Encyclical Deus Caritas Est (DCE) (2005), 11.
  18. Cf, also Mt 15:32-39, Mk 6:31-44 and 8:1-9, Lk 9:10-17, and Jn 6:5-15.
  19. Pope Benedict XVI, Address…to participants in the forum of family association,” Rome (May 16, 2008).
  20. DCE, 11.
  21. Joseph Ratzinger, In The Beginning: a Catholic understanding of the story of creation andfall (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1995), 30.
  22. DCE, 9.
  23. Cf. Ezek 23.
  24. Cf. Isa 50:1, 54:5, 61:10, 62:5.
  25. Cf. Jer 2:2, 3:1, 3:6-12, 31:32.
  26. Ps 45.
  27. DCE, 9.
  28. Cf. Ex. 34:16, Judg 2:17, Num 15:39, and Deut 31:16.
  29. Pope Francis, Homily, “The Pope’s Mass at Santa Marta - When a love fails,|” L’Osseratore Romano (February 28, 2014).
  30.  DCE, 5.
  31. Eph 5:21-33.
  32. DCE, 12. Cf. Jn 19:37 and 1 Jn 4:8.
  33. Cf. CCC, 1602, Cf. Rev 19:7,9 and Gen 1:26-27.
  34. Saint Hildegard of Bingen, ExplanatioSymboli Sancti Althanasii in PatrologiaLatima, 197, 1073, Cf. 1 Cor 6:19.
  35. CCC, 2331, and FC, 11.
  36. Pope Francis, Homily, “The Pope’s Mass at Santa Marta - When a love fails,” L’Osservatore Romano (February 28, 2014).
  37. CCC, 362.
  38. Pope John Paul II, Wendesday Audiences Theology of the Body (ToB) (January 9, 1980).
  39. Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter On the Collaboration of Men and Women (2004), 8.
  40. Pope Paul VI, Encyclical Humanae Vitae (HV) (1969), 12.
  41. CCC, 371.
  42. CCC, 371.
  43. Cf., ToB (January 2, 1980).
  44. GS, 12.
  45. Karol Wojtyla, Love and Responsibility (Ignatius Press, 1993), 171.
  46. CCC, 2348-2349. Cf. St. Ambrose, De viduis 4.23.
  47. CCC, 2349.
  48. LF, 53.
  49. Cf. ToB (January 16, 1980).
  50. CCC, 1646.
  51. CCC, 2391.
  52. Pope Francis, Address “Meeting with the Young People of Umbria,” Assisi (October 4, 2013).
  53. Pope Francis, General Audience “Marriage, the heart of God’s loving plan for humanity” (April 2, 2014).
  54. Pope Francis, Address “Dialogue with Engaged Couples,” Vatican City (February 14, 2014).
  55. Pope Francis, Address “Dialogue with Engaged Couples,” Vatican City (February 14, 2014).
  56. CCC, 1642.
  57. Pope Francis, Address “Dialogue with Engaged Couples,” Vatican City (February 14, 2014).
  58. CCC, 1615.
  59. CCC, 1127.
  60. CCC, 1617.
  61. CIC, 1056-1057.
  62. CIC, 1055.
  63. GS, 47.
  64. Saint Augustine, De Bono Conjugali 32; De GenesiadLitteran 9.7.12; De nuptiisetconcupiscentia, 1.10.11, 17.19, 21.23.
  65. HV, 10.
  66. CCC, 1652-1653. Cf, GS 48, 50.
  67. Pope Francis, Homily “Feast of the Baptism of the Lord,” Sistine Chapel (January 12, 2014).
  68. Deut 6:4-7. Emphasis added.
  69. FC, 14.
  70. Vatican Coucil II, Dogmatic ConsituationLumen Gentium (LG) (1964), 11.
  71. Saint Augustine, The City of God Against the Pagans (Cambridge, Cambridge University Press, 1998), p.

667,§ 15.16.

  1. LG, 11. Cf. CCC, 1655-1658.
  2. PoplePaul VI, Encyclical PopulorumProgressio (PP) (1967), 15.
  3. See Above, ₵ 60.
  4. Pope Francis,  Address “Meeting with the Young People of Umbria,” Assisi (October 4, 2013).
  5. Cf. Mt 6:10, 7:21, 12:50, 21:31, 26:39.
  6. Saint Thérèsa of Lisieux, The Autobiolography of Saint Thére2sa of Lisieux: The Story of a Soul, trans. John Beevers (Doubleday, 2001), 9.
  7. GS, 38.
  8. Pope Francis, Address “Meeting with the Clergy, Consecrated People and Members of Diocesan Pastoral Councils,” Assisi (October 4, 2013).
  9. CCC, 1656.
  10. Cf. Jn 15:19 and Rom 12:2.
  11. CCC, 1303, 1308.
  12. Pope Benedict XVI, Address “Families Teach Meaning of Life” (October 4, 2010).
  13. Pope Benedict XVI, Address “Make Parish a Family of Families” (March 21, 2011).
  14. Cf. FC, 44.
  15. Cf. FC, 71, 77.
  16. Pontifical Council for the Family, Enchiridion of the Family (2004), 1303-1304.
  17. FC, 44.
  18. Pope John Paul II, Address “Meeting of the adoptive families organized by the Missionaries of Charity” (September 5, 2000).
  19. FC, 41.
  20. Compendium of the Catechism of the Catholic Church (CCCC) (2005), 321.
  21. Pope John Paul II, Address “Meeting of the adoptive families organized by the Missionaries of Charity” (September 5, 2000).
  22. Cf. 1 Corinthians 7:25-40.
  23. Pope Francis, Address “Meeting with the Young People of Umbria,” Assisi (October 4, 2013).
  24. CCC, 2349. Cf. St. Ambrose, De Vidui 4.23. Also See Above, ₵ 51.
  25. CCC, 1646. See Above, ₵ 58.
  26. CCC, 2391. See Above, ₵ 58.
  27. See Above, ₵ 60.
  28. Cf. Lk 1:38.
  29. CCC, 2347.
  30. CCC, 2348.
  31. CCC, 1624.
  32. FC, 13.
  33. Cf. John 1:14, 17:24.
  34. CCC, 2344.
  35. CCC, 1658.
  36. CCC, 1658.
  37. CCC, 1606.
  38. Synod of Bishops, Extraordinary General Assesmbly, Preparatory Document “Pastoral Challenges to the Family in the Context of Evangelization,” Vatican City (2013).
  39. Pope Francis, Angelus, Vatican City (December 22, 2013).
  40. Pope Benedict XVI, Encyclical Caritas in Veritate (CV) (2009), 15.
  41. Pople Benedict XVI, Message “For the celebration on the world day of peace” (January 1, 2008).
  42. Cf. Mt 2:13-23.
  43. Pope Francis, Angelus, Vatican City (December 29, 2013).
  44. Pope Pius XII, “Allocution to Midwives” (October 29, 1951).
  45. Pope Pius XII, “Allocution to Midwives” (October 29, 1951).
  46. Pope Francis, Angelus, Vatican City (December 29, 2013).
  47. Pope Benedict XVI, Message “On the occasion on the 40 th anniversary of Paul VI’s encyclical Humanae Vitae” (October 2, 2008).
  48. HV, 10. Cf. CCC, 2368. See Above, ₵ 72.
  49. Cf. HV, 17.
  50. EG, 66.
  51. See Above, ₵ 88.
  52. Saint Aelred of Rievaulx, De SpiritualiAmicitia, 1:51.
  53. Saint Aelred of Rievaulx, De SpiritualiAmicitia, 1:55-46.
  54. CCC, 2347. See Above, ₵ 102.
  55. CSDC, 214.
  56. Pope Leo XIII, Encyclical RerumNovarum (RN) (1891), 13.
  57. GS, 52.
  58. UN Universal Declaration of Human Rights, Article 16.
  59. Cf. EF, 66.
  60. EG, 65.
  61. Cf. Jn 6:60-66.
  62. Cf. Mk 3:13-35 and Lk 8:19-21.
  63. Cf. CCC, 77, 85. Cf. Dei Verbum (DV), 7.
  64. Pope Francis, Interview Article “A Big Heart Open to God,”  (September 30, 2013).
  65. Cf. CCC, 2351-2356, and FC, 24.
  66. Cf. Pope John Paul II, Letter to Families Gratissimam Sane (GrS) (1994), 9.
  67. Saint Augustine, Sermons, 2290, The Works of St. Augustine: A Translation for the 21” Century Sermons III/6 (184-229Z), trans, Edmund Hill, O.P., ed. John Rotelle, O.S.A. (New York, 1993), 323. For other instances in which Augustine described salvation in medical terms see Serm. 229E (ibid.,p. 283); Confessions VII, xx, 26; xxx, 42;De Doctrinachristiana1,27; 4, 95;Enchiridion 3:11; 22.81; 23.92;32.121;De nuptiis, Bk.2,9. III; 38.XXIII.
  68. Saint Augustine, Tractates on the Gospel of John, 41.13.2. Saint Augustine |Tractates on the Gospel of John 28-54. Trans. John W. Retting (Washington: CUA Press, 1993), 148-49.
  69. EG, 3.
  70. DCE, 1.
  71. Pope John Paul II, Encyclical Veritatis Splendor (VS) (1993), 7.
  72. EG, 19-24.
  73. DV, 10.
  74. CCC, 142.
  75. CCC, 1428. Cf. LG, 8.
  76. FC, 34.
  77. FC, 34.
  78. Francis X. Rocca, “Pope in interview, suggests…” Catholic News Service (March 5, 2014).
  79. Francis X. Rocca, “Pope in interview, suggests…” Catholic News Service (March 5, 2014).
  80. Cf. CCC, 2358-2359.
  81. Cf. CCC, 2337, 2348.
  82. Pope Benedict XVI, Address “Evening of Witness,” Milan (June 2, 2012).
  83. CCC, 1651.
  84. Gal 6:2. See Above, ₵88.
  85. CCC, 1648.
  86. EG, 169-73.
  87. EG, 172.
  88. LF, 22.
  89. Cf. 1 Cor 12:26-27 and CCC, 521, 953.
  90. Cf. CCC, 757.
  91. CCC, 169.
  92. CCC, 1267. Cf. 1 Cor 12:13.
  93. LG, 8, and CCC, 827.
  94. CCC, 766.
  95. LG, 8, and CCC, 827.
  96. CCC, 890.
  97. Pope Francis, Address “To the paricipants in the pilgrimage of Families during the Year of Faith,” Vatican City (October 26, 2013).
  98. En, 41.
  99. Pope Francis, Angelus “Talk about the Holy Family as refugees” (December 29, 2013).
  100. CCC, 1905.
  101. Dan 6:11.
  102. Dan 1:8.
  103. LF, 52. See Above, ₵ 2.
  104. Dante, The Divine Comedy: Paradiso, Canto XXXIII.
  105. Cf. Mt 5:13.
  106. FC, 17.
  107. FC, 17. Cf. GS, 48.
  108. FC, 17.
  109. FC, 18-27.
  110. CCC, 1655.
  111. CCC, 507.
  112. Cf. Mk 1:29-31, Mt 8:14-15, and Lk 4:38-39. Cf. Mk 2:1, 3:19-20, 7:17, 9:33. Cf. Mk 5:38, 10:10, 14:3; Mt 9:23, 10:11-13, 13:1, 17:25, 26:6; Lk 5:29, 7:36, 8:51, 10:5-7, 11:37, 14:1, 19:5-9; and Jn 4:53, 12:1-2.
  113. Rome 16:5 and 1 Cor 16:19. Cf. Col 4:15 and Phil 4:22.
  114. CCC, 1655. Cf. Acts 18:8, 16:31, 11:14.
  115. FC, 50.
  116. CCCC, 321. See Above, ₵91.
  117. FC, 17.
  118. Deut 30:19-20.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết khác