TỦ SÁCH THĂNG TIẾN GIÁO DÂN

 

GIÁO DÂN HỢP TUYỂN

 

SỐ 1 THÁNG 1/2012 VỚI CHỦ ĐỀ

 

GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI

 

 

GIÊRÔNIMÔ NGUYỄN VĂN NỘI

VÀ NHÓM BẠN THỰC HIỆN

ĐÔI LỜI TỰ BẠCH

 

1. Từ các vị lãnh đạo cao cấp nhất cho đến các linh mục chính phó xứ tại Việt Nam đều tuyên bố rằng: Giáo Dân là Dân Chúa, Giáo Dân là sức mạnh của Giáo Hội, Giáo Dân là đội ngũ xung kích trên mọi mặt trận của Giáo Hội. Nhưng thực tế chưa chắc đã được như thế. Giáo dân Việt Nam vẫn là thành phần đông đảo và thụ động trong Giáo Hội. Giáo Dân Việt Nam vẫn sống đạo một cách nặng tính sùng mộ mà còn thiếu hiểu biết Đạo và kém thực hành Giáo Lý của Đạo. Giáo dân Việt Nam vẫn núp dưới bóng hàng giáo sĩ và lệ thuộc quá nhiều vào hàng giáo sĩ. Bằng chứng là Công Nghị Tổng Giáo Phận Sài-gòn (20-26/11/2011) nêu nhiều ý kiến, đề nghị liên quan tới Giáo Dân (mà linh mục Phê-rô Nguyễn Văn Hiền, Tổng Thư Ký của Công Nghị đã đúc kết và trang web Tổng Giáo Phận đã chuyển đăng. Sau đây là một số đề nghị:

- Đề nghị 12:Linh mục là người nối kết mọi thành phần Dân Chúa trong giáo xứ với nhau (80%) và là người chịu trách nhiệm về sự hiệp thông của cộng đoàn (77%). Linh mục nên dành thời gian để gặp gỡ giáo dân và tạo điều kiện cho các đoàn thể gặp gỡ, học hỏi và làm việc với nhau (74%), quan tâm chăm sóc và nâng đỡ giáo lý viên, ca viên, thiếu nhi (66%).

- Đề nghị 13:Linh mục cần thay đổi não trạng và lối nhìn về giáo dân, đặc biệt là người trẻ và phụ nữ, coi họ như những cộng sự viên chứ không phải những người giúp việc (85%), tin tưởng và trao trách nhiệm cho giáo dân (79%), khuyến khích và tạo điều kiện cho họ tham gia vào đời sống của giáo xứ (72%). Để mọi người có thể đóng góp ý kiến và tham gia vào các sinh hoạt của giáo xứ, linh mục cần phải có kế hoạch và chương trình mục vụ phù hợp với kế hoạch và chương trình mục vụ của giáo phận (77%), đồng thời thông báo cho cộng đoàn được biết một cách sớm sủa và đầy đủ (68%).

- Đề nghị 18:Để xây đắp hiệp thông huynh đệ trong Giáo Hội, cần huấn luyện chủng sinh và tu sĩ biết sống mầu nhiệm tự hạ, hy sinh và từ bỏ, hiền lành và khiêm nhượng như Chúa Giêsu (94%), biết sống và làm việc với mọi thành phần Dân Chúa (73%), đồng thời xây dựng hàng giáo dân trưởng thành, được huấn luyện đầy đủ về mặt đức tin, được học hỏi về Kinh Thánh, phụng vụ, giáo lý (77%) và giáo huấn xã hội của Giáo Hội để biết nhận định đúng đắn các vấn đề và sự kiện xã hội (53%).

- Đề nghị 19:Giáo phận cần huấn luyện các thành viên của hội đồng mục vụ giáo xứ biết rõ vai trò và nhiệm vụ của mình, biết sống hài hòa với các linh mục và mọi thành phần Dân Chúa (78%).

- Đề nghị 20:Các đoàn thể và hiệp hội tông đồ trong giáo phận nên có những cuộc gặp gỡ và trao đổi, học hỏi và làm việc chung với nhau (52%), tránh tinh thần cục bộ, cạnh tranh và loại trừ nhau (70%). Anh chị em di dân và nhập cư cần được tiếp đón và giúp đỡ (73%), hòa nhập và tham gia vào các sinh hoạt của giáo xứ (58%); vì lợi ích của của anh chị em di dân, cần có sự phối hợp giữa giáo xứ nơi đi và nơi đến (67%).

- Đề nghị 23:Linh mục cộng tác với các ban mục vụ bằng cách giúp giáo dân hiểu biết và tích cực tham gia, giới thiệu nhân sự tham dự các khóa huấn luyện (65%).

- Đề nghị 24:Về truyền giáo, linh mục cần gây ý thức cho giáo dân (45%), đặc biệt là giới trẻ (59%), quan tâm đến khía cạnh truyền giáo trong các dịp ma chay và cưới hỏi (40%), kết nghĩa với các giáo xứ hay giáo điểm vùng xa (26%), đóng góp nhân vật lực cho công cuộc truyền giáo (42%).

- Đề nghị 27:Về công lý và hòa bình, linh mục cần quan tâm đến các vấn đề xã hội, nắm vững giáo huấn xã hội của Giáo Hội để nhận định và giúp giáo dân nhận định đúng đắn về các vấn đề ấy (62%), quan tâm đến người nghèo và giúp đỡ họ không phân biệt tôn giáo (66%).

2. Ai là người sẽ thực hiện những đề nghị vừa nêu và nhiều đề nghị khác của Công Nghị Giáo Phận? Hẳn nhiên và trước hết là các Vị Lãnh Đạo Giáo Phận, mà cao nhất là Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Giáo Phận và Đức Giám Mục Phụ Tá, rồi tới các Linh Mục Hạt Trưởng, các Linh Mục Trưởng các Ban Mục Vụ, các Linh Mục Chính Phó Xứ, các Tu Sĩ Nam Nữ thuộc các Dòng.

 

Thế còn Giáo Dân? Giáo Dân có quyền tiếp tục sống cách thụ động và chờ lệnh không?

- Chắc là không.

- Phải chăng đây là lúc Giáo Dân, ít nhất là thành phần Giáo Dân Nòng Cốt phải thay đổi tư duy và cách sống, phải chủ động và tích cực trang bị cho mình những thứ cần thiết để sống hiệp thông và thực thi sứ vụ của toàn Giáo Hội một cách đầy đủ hơn.

 

3. GIÁO DÂN HỢP TUYỂN (GDHT)ra đời nhân 50 năm Công Đồng Vatican II (1962-2012) và sẽ cố gắng mỗi 3-4 tháng ra một số. Mục đích là hỗ trợ anh chị em Giáo Dân cập nhật kiến thức và kinh nghiệm đời sống Đức Tin của mình, bổ sung cho các bài giảng của các Linh Mục và cho các Khóa Huấn Luyện của các Trung Tâm, Nhà Thờ. Cũng nhằm liên kết các cá nhân và các Nhóm Giáo Dân thành sức mạnh canh tân và thăng tiến trong Giáo Hội Việt Nam.  

 

Trong GIÁO DÂN HỢP TUYỂN (GDHT)số 1/2012 này gồm có 9 bài như sau:

1. “Để Giáo Dân là Mùa Xuân của Giáo Hội Việt Nam” của ông Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

2. “Giáo Dân thời Giáo Hội sơ khai: những viên gạch xây dựng một Nền Thần Học Giáo Dân” của linh mục tiến sĩ Peter C. Phan (Phan Đình Cho).

3. “Giáo Dân trong Hội Thánh” của linh mục Felipe Gomez Ngô Minh, SJ.

4. “Giáo Dân trong Lịch Sử” của linh mục Felipe Gomez Ngô Minh, SJ.

5. “Giáo Dân sống Đức Tin trong xã hội tục hóa” của báo MISSI.

6. “Giáo Dân đồng trách nhiệm” của báo CathoNewsAsia.

7. “Các nhà thần học Ấn Độ đề nghị tăng thêm vao trò của Giáo Dân và giảm bớt vai trò của Giáo Sĩ” của báo UCA.

8. “Giáo Dân phải tham gia vào chính trị” của trang nhà VRNs trích bài giảng của linh mục Giu-se Nguyễn Thể Hiện, DCCT và bài viết của Gio-an Lê Quang Vinh.

9. “Giả như tôi là một Cán Bộ Giáo Dân” của linh mục tiến sĩ Herchel H. Sheets.

 

Chúng tôi xin chân thành cám ơn các tác giả có bài trong GDHT số 1/2012 này. Vì việc làm không hề có tính thương mại, chúng tôi tin chắc rằng các tác giả ủng hộ chúng tôi trong việc tạo điều kiện cho nhiều anh chị em Giáo Dân có cơ hội tiếp cận các bài viết giá trị của các ngài.

Chúng tôi rất mong được nhiều Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ và Giáo Dân tham gia góp bài và góp ý cho các số tới.

 

Hy vọng những bài viết trong GDHT số 1/2012 này đáp ứng một phần nào nhu cầu và ước nguyện của nhiều Giáo Dân trong việc nâng cao kiến thức về thần học và giáo hội học cũng như về lịch sử liên quan tới Giáo Dân. Cũng hy vọng GIÁO DÂN HỢP TUYỂN số 2/2012 sẽ ra mắt phục vụ các thành phần Dân Chúa vào Mùa Phục Sinh tới.

 

Nguyện xin Chúa chúc lành cho công việc nhỏ bé của chúng con. Chúng con xin dâng lên Chúa Hài Nhi tập tài liệu này làm món quà mọn.

 

Sài-gòn Mùa Giáng Sinh 2011.

 

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội và Nhóm Bạn


 

 


ĐỂ GIÁO DÂN LÀ MÙA XUÂN CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

[Mừng 40 Năm Công Đồng (2005-1965)]

 

Vào đề

Tôi xin đi từ ba việc nhỏ để đến một vấn đề lớn. Ba việc nhỏ là những gợi ý mà tôi thu nhận được từ cuộc sống. Việc nhỏ thứ nhất là nội dung một cuốn sách mà tôi đã có dịp đọc cách đây hơn 10 năm nhưng vẫn còn nhiều dư âm. Việc nhỏ thứ hai là lời phát biểu tại La Vang của các Giám mục Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm Việt Nam hồi cuối tháng 8 năm 1999. Và việc nhỏ thứ ba là buổi trao đổi chia sẻ thân tình của một linh mục. Còn vấn đề lớn là vấn đề được đặt ra cho tất cả những ai thuộc về Giáo Hội công giáo Việt Nam hôm nay. Đó là vấn đề làm sao cho người giáo dân càng ngày càng trở thành mùa xuân của Giáo Hội Việt Nam. Nói cách khác làm sao để thiên niên kỷ thứ ba là thiên niên kỷ của Giáo Dân Việt Nam?

 

Từ ba việc nhỏ . . . . . . . . . . .

Việc nhỏ thứ nhất :

Cách đây hơn 10 năm tôi đọc được một cuốn sách mà tôi cứ nhớ mãi. Cuốn sách có tựa đề GIÁO DÂN LÀ MÙA XUÂN CỦA GIÁO HỘI vừa mới được phát hành lúc bấy giờ và đề cập đến những sự kiện nổi bật của Giáo Hội Pháp. Đại khái tác giả cho thấy sự thăng tiến của người Giáo Dân Pháp trong những thập niên vừa qua, về mặt hiểu biết về Thánh Kinh, Thần Học, Phụng Vụ và Lịch Sử Giáo Hội và sự tích cực tham gia mục vụ của họ trong Giáo Hội Pháp.

Giáo Hội Pháp được mệnh danh là "trưởng nữ"của Giáo Hội Công Giáo La-mã. Nhưng Giáo Hội ấy có Hàng Giáo Sĩ ngày càng ít đi và già nua. Trong khi đó thì Hàng Giáo Dân càng ngày càng hiểu biết và tích cực tham gia vào công việc mục vụ của Giáo Hội. Nguyên nhân chính khiến người Giáo Dân được nâng cao trình độ về mặt đạo hay việc họ tích cực tham gia công việc mục vụ không phải là sự thiếu các linh mục mà là ý thức của toàn dân Chúa ở Pháp, từ Hàng Giáo Phẩm cho đến Hàng Giáo Dân.

Để chứng minh rằng Giáo Dân Pháp đã thay đổi rất nhiều về mặt kiến thức và kinh nghiệm sống đức tin, tác giả cuốn sách đã nêu lên nhiều sự kiện, nhiều chứng từ. Thí dụ tác giả cho biết sự kiện đáng mừng này là có rất nhiều Giáo Dân tự nguyện ghi tên theo học các khóa Thánh Kinh, Thần Học, Phụng Vụ, Lịch Sử Giáo Hội, Luân Lý tại các đại học Công Giáo. Có người xin nghỉ hưu sớm để đi học. Có người hy sinh một phần thu nhập của gia đình để đi học. Theo tác giả thì sự nâng cao trình độ của Giáo Dân- tuy chỉ là của một số ít- cũng làm thay đổi suy nghĩ và hành động của nhiều Giáo Sĩ. Tác giả đưa ra một chứng từ mà tôi rất tâm đắc. Đó "là lời tự thú" của một vị Linh Mục chánh xứ kia, đại khái như sau: "Trước kia, tôi ít quan tâm đến việc chuẩn bị bài giảng thánh lễ chủ nhật, vì tôi cho rằng tôi muốn giảng gì thì giảng, tôi muốn nói gì thì nói, trong Giáo Dân có ai hiểu biết hơn tôi đâu mà có ý kiến hay phản đối. Nhưng từ ngày trong xứ tôi có mấy Giáo Dân đã tốt nghiệp cử nhân Thánh Kinh, Thần Học hay Phụng Vụ thì tôi biết tôi không thể muốn giảng gì thì giảng, muốn nói gì thì nói, vì nếu tôi nói sai sẽ có người có ý kiến với tôi. Trái lại tôi thấy phải dọn kỹ mỗi bài giảng của mình, phải đọc sách, phải nghiên cứu thêm cho bài giảng đầy đủ và có sức thuyết phục."

Còn về bằng chứng của việc người Giáo Dân Pháp tích cực tham gia công việc mục vụ của Giáo Hội Pháp thì tác giả nêu lên rất nhiều ví dụ khác nhau. Chẳng hạn việc chuẩn bị hôn nhân cho các cặp nam nữ trong hầu hết các giáo phận không còn là công việc của mình các linh mục nữa, mà đã trở thành việc mục vụ mà giáo dân thực hiện chung với giáo sĩ. Các cặp vợ chồng (được huấn luyện chuyên môn về đạo cũng như về khả năng giao tiếp, hiểu biết tâm lý) đóng vai đồng hành với các cặp nam nữ tìm hiểu về hôn nhân và chuẩn bị cử hành bí tích hôn phối trong lòng Giáo hội.

Một ví dụ khác: việc dạy giáo lý trẻ em tại các giáo xứ không những chủ yếu là việc của giáo dân mà còn là việc của các bậc cha mẹ cộng tác chặt chẽ với các giáo lý viên, để giúp con em mình học hỏi về đạo và tập sống đạo, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Việc giúp những người trưởng thành muốn tìm hiểu về đạo hay muốn đón nhận bí tích thanh tẩy cũng phần lớn do người giáo dân đảm nhận, trong tinh thần phối hợp với các linh mục.

Việc nhỏ thứ hai :

Hồi cuối tháng 8 năm 1999, tôi có một diễm phúc lớn là có mặt tại Huế và La Vang khi phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đến thăm giáo phận Huế và hành hương La Vang. Sau bữa cơm trưa với Hàng Giáo Sĩ giáo phận Huế tại phòng khách trung tâm hành hương La Vang, các Giám Mục Hoa Kỳ có buổi trao đổi rất thân tình với các Linh Mục địa phương. Các ngài trả lời nhiều câu hỏi được đặt ra. Có một câu hỏi mà tôi rất thích và câu trả lời cũng rất hay. Câu hỏi đó thế này:

"Đối với Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ thì điều gì khiến Giáo Hội lạc quan nhất và điều gì khiến Giáo Hội bi quan nhất".

Đức Giám Mục Joseph A. Fiorenza, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ và là trưởng phái đoàn đã trả lời như sau:

"Có nhiều điều khiến Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ chúng tôi lạc quan và cũng có những điều khiến chúng tôi bi quan. Điều khiến Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ lạc quan nhất là sự năng động và tích cực của Giáo Dân trong việc tham gia mọi sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội"

Để minh chứng cho khẳng định của mình, Đức Cha Joseph A. Fiorenza nêu lên hai sự kiện.

Sự kiện thứ nhất là "ở tất cả các giáo xứ, chúng tôi đều có hội đồng mục vụ giáo xứ, trong đó người Giáo Dân cộng tác chặt chẽ với nhau và với các Linh Mục, Tu Sĩ trong địa bàn để lo toan mọi công việc của cộng đoàn."

Sự kiện thứ hai là "trong các tổ chức của Giáo Hội, từ các ủy ban của Hội Đồng Giám Mục cho đến các tổ chức của các giáo phận, giáo xứ người Giáo Dân đều giữ những vai trò quan trọng như giám đốc, trưởng văn phòng, cố vấn."

Như để chứng minh cho lời nói của mình Giám Mục Joseph A. Fiorenza nói tiếp:

"Như quí cha thấy đây: cùng đi với chúng tôi có ba giáo dân mà chúng tôi hân hạnh được giới thiệu:

· người thứ nhất là ông . . . cố vấn chiến lược của ủy ban di dân và tỵ nạn của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ;

· người thứ hai là ông . . . giám đốc điều hành cơ quan viện trợ Công Giáo Hoa Kỳ

· và người thứ ba là ông . . . cố vấn ngoại vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về các vấn đề Đông Nam Á .

Họ đều là những Giáo Dân có gia đình vợ con, có lòng nhiệt thành và trình độ, không chỉ về mặt chuyên môn nghề nghiệp mà cả về Giáo Lý, Thánh Kinh, Thần Học nữa. Họ là những chuyên viên không thể thiếu, là cộng sự viên đắc lực của Hàng Giám Mục chúng tôi."

Việc nhỏ thứ ba :

Mới đây tôi có dịp gặp lại linh mục Nguyễn Thái Hợp, Dòng Đa Minh là người có thời khoá biểu ở ba châu lục khác nhau trong một năm: một khoảng thời gian ở châu Âu mà chủ yếu là ở Roma, một thời gian khác ở Peru thuộc châu Mỹ La tinh và một khoảng thời gian khác ở Việt Nam thuộc châu Á. Linh mục Nguyễn Thái Hợp chia sẻ với tôi điều mà ngày nay nhiều vị lãnh đạo cũng như nhiều nhà thần học công giáo đều xác tín. Đó là thiên niên kỷ thứ ba sắp tới sẽ là thiên niên kỷ của Giáo Dân. Nói cách khác sự sống còn và phát triển của giáo hội công giáo trong ngàn năm thứ ba sẽ tuỳ thuộc chủ yếu vào đội ngũ giáo dân.

Nếu nhìn lại lịch sử Giáo Hội người ta có thể thấy rất rõ vai trò hết sức quan trọng của các Giáo Sĩ và Tu Sĩ trong thiên niên kỷ thứ hai. Chính Hàng Giáo Sĩ và Tu Sĩ là những người con của Giáo Hội đã đi tiên phong trong mọi mặt trận. Họ vừa là thành phần ưu tú của Giáo Hội vừa được đào tạo và tổ chức mỗi ngày mỗi hoàn hảo chặt chẽ hơn. Họ chẳng những đã đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội tại các nước Phương Tây và mà còn đem Tin Mừng cứu độ đến cho các dân tộc sống rải rác khắp các châu lục khác.

Nhưng nói thế không có nghĩa là trong thiên niên kỷ trước, chỉ có các Linh Mục và Tu Sĩ đóng góp xây dựng Giáo Hội, còn các thành phần khác như Giám Mục, Giáo Dân thì không đóng góp gì cả. Không phải thế! Trong thiên niên thứ hai tất cả mọi thành phần Dân Chúa đều góp công to lớn vào việc xây dựng và phát triển Giáo Hội cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.

Nhưng phải nhìn nhận là giới Giáo Sĩ và Tu Sĩ đã có sự đóng góp mang tính quyết định. Tương tự như thế khi ta nói thiên niên kỷ thứ ba sẽ là thiên niên kỷ của giáo dân thì không hề có nghĩa là chỉ có hàng giáo dân mới đóng vai trò quan trọng trong Giáo hội mà phủ nhận vai trò của hàng giáo phẩm và hàng giáo sĩ, tu sĩ, mà chỉ muốn nói rằng: người giáo dân sẽ có một vai trò nổi bật trong giáo hội ở thiên niên kỷ sắp tới.

Dường như ở mỗi thời đại Thiên Chúa dành một vai trò quan trọng chủ yếu hơn cho một thành phần của dân Chúa. Cuối thế kỷ XX Công đồng Vaticano II đã là một lễ Hiện Xuống mới, một cuộc khai sinh mới của Giáo hội Chúa Ki-tô trong thế kỷ XX và XXI và những thế kỷ tiếp theo sau. Kết quả của công đồng đang tác động trên đời sống giáo hội khắp nơi nơi một cách sâu rộng.

. . . . . .đến một vấn đề lớn

Đó là vấn đề Giáo Hội chúng ta sẽ dành cho Giáo Dân vai trò nào trong thiên niên kỷ sắp tới? Hay nói văn hoa thì là vấn đề Giáo Dân đã là Mùa Xuân của Giáo Hội Việt Nam chưa? Chúng ta đã nói thiên niên thứ hai là thiên niên kỷ của Giáo Sĩ và Tu Sĩ. Nói thế có nghĩa là trong ngàn năm vừa qua Giáo Sĩ và Tu Sĩ đã được nâng cao trình độ một cách đáng kể và đã nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong Giáo Hội. Tương tự như thế, nếu chúng ta cho rằng thiên niên kỷ thứ ba sẽ là (hay phải là) thiên niên kỷ của Giáo Dân, thì có nghĩa là Giáo Dân sẽ được thăng tiến cách rõ rệt về mặt trình độ và sẽ được giao phó một trọng trách tối quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội.

Nhưng trước hết chúng ta thử nhìn vào Giáo Hội Việt Nam hiện nay để xem giáo hội của chúng ta có những đặc điểm nào nổi bật. Sau đây là một vài đặc điểm mà chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau:

* Một Giáo Hội sinh động

Đặc điểm đầu tiên mà chúng ta phải ghi nhận về Giáo Hội Việt Nam, đó là một Giáo Hội sinh động. Nguyên sự kiện các nhà thờ từ Nam chí Bắc đầy ắp giáo dân vào các ngày chủ nhật và lễ trọng đủ cho chúng ta đưa ra nhận định trên. Chúng ta cũng thấy một vài hình ảnh khác về một giáo hội sinh động là các lớp giáo lý thiếu nhi và thiếu niên tại các giáo xứ, là sinh hoạt của các hội đoàn, là các hoạt động cứu trợ thiên tai của các giáo xứ hay của các nhóm tự phát. Sự sinh động này đã khiến nhiều du khách công giáo phải ngạc nhiên, thích thú, cảm phục.

* Một Giáo Hội rất mộ đạo và nhiều tình cảm tôn giáo

Đặc điểm thứ hai của Giáo Hội Việt Nam là đa số Giáo Dân giữ đạo theo truyền thống, thói quen và nặng tình cảm. Phải nói là họ rất mộ đạo trên bình diện tình cảm hơn là vì xác tín tôn giáo... Cũng phải nhìn nhận rằng đại đa số giáo dân chưa có một kiến thức cao về giáo lý, thánh kinh, thần học và chưa có nhiều kinh nghiệm tâm linh xác tín. Sự mộ đạo của họ mới dừng ở lòng sùng kính chứ chưa ảnh hưởng nhiều đến sự dấn thân chính trị xã hội.

* Một Giáo Hội còn nặng tính Giáo Sĩ

Một đặc điểm nữa mà không ai có thể chối cãi là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam còn mang nặng tính Giáo Sĩ. Điều đó cũng bình thường, vì Hàng Giáo Phẩm Việt Nam mới được thiết lập vào năm 1960 tức mới 40 năm nay. Tuy đã có Hàng Giáo Phẩm bản xứ, nhưng Giáo Hội chúng ta vẫn ở dưới sự quản lý (và giúp đỡ về mặt tài chánh) của Bộ Truyền Giáo của Toà Thánh Vatican, nên chúng ta chưa thể cho mình là một Giáo Hội trưởng thành. Một Giáo Hội nặng tính Giáo Sĩ thì mọi việc đều do Hàng Giáo Sĩ quyết định, mọi việc phải qua Hàng Giáo Sĩ mới có, và chỉ có Giáo Sĩ mới được cung kính tôn trọng.

Giáo Dân đã là Mùa Xuân của Giáo Hội Việt Nam?

Chúng ta đã từng nghe nhiều Giám Mục Việt Nam khẳng định rằng: "thời đại ngày nay là thời đại của giáo dân." Nhiều Giám Mục khác, một cách kín đáo hay công khai, đã đề cao vai trò, sự đóng góp và hy sinh to lớn của Giáo Dân Việt Nam, trong lãnh vực rao giảng Lời Chúa cũng như xây dựng cơ sở vật chất cho giáo hội. Chỉ cần mở các trang sổ vàng xây dựng thánh đường ở các nơi, thì chúng ta thấy được sự đóng góp to lớn, quảng đại của nhiều giáo dân.

Đi sâu hơn nữa vào đời sống Giáo Hội, chúng ta sẽ gặp được ở khắp nơi những giáo dân đang cống hiến thời gian, công sức, tài năng, của cải cho Giáo Hội, một cách quảng đại, không tính toán, không biết mệt mỏi. Càng đi sâu vào các cộng đoàn, càng đi đến các vùng sâu vùng xa, chúng ta càng thấy nhiều Ki-tô hữu giáo dân tận tụy hy sinh cho giáo hội và tha nhân. Vì thế chúng ta có thể nói được rằng giáo dân Việt Nam đã và đang là mùa xuân của giáo hội công giáo Việt Nam. Nói giáo dân là mùa xuân của giáo hội có nghĩa là giáo dân là sức sống, là sự tươi trẻ và là tương lai của giáo hội.

Nhưng Giáo Dân cũng chưa là Mùa Xuân của Giáo Hội Việt Nam?

Nhưng nếu chúng ta dựa vào mấy đặc điểm mà Giám Mục Joseph A. Fiorenza chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đưa ra tại La Vang để minh chứng Giáo Hội Hoa Kỳ có lý do để lạc quan cho tương lai, thì trong Giáo Hội Việt Nam chúng ta còn nhiều việc phải làm để Giáo Dân thực sự là Mùa Xuân của Giáo Hội, để Giáo Dân là yếu tố quyết định trong ngàn năm thứ ba của Giáo Hội. Xin chỉ tập trung vào hai điểm chính yếu nhất: vai trò và trình độ của Giáo Dân.

Trước hết là vai trò của Giáo Dân trong các hội đồng mục vụ giáo xứ và hội đồng mục vụ giáo phận.

Chúng ta biết là bộ giáo luật của Giáo Hội Công Giáo đã được sửa đổi theo tinh thần Công Đồng Vatican II và đã được áp dụng từ mấy năm nay. Bộ Giáo Luật mới ấy khuyến khích việc thành lập hội đồng mục vụ giáo xứ và hội đồng mục vụ giáo phận. Thế mà chúng ta chưa có một qui chế thống nhất và đổi mới cho hội đồng mục vụ giáo xứ. Qui chế thống nhất là qui chế chung cho tất cả các giáo xứ của 25 giáo phận từ Nam ra Bắc. Qui chế đổi mới có nghĩa là qui chế được soạn thảo theo tinh thần Công Đồng Vatican II và phù hợp với các khoản giáo luật về cơ cấu này. Hơn nữa trên toàn cõi Việt Nam chưa có nơi nào có hội đồng mục vụ giáo phận. Đó cũng là một thực tế đáng lưu ý và suy nghĩ.

Chúng ta cũng chưa có những trung tâm, những chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho thành phần đặc biệt này. Hội đồng mục vụ giáo xứ là cánh tay mặt của các linh mục và phải là cơ cấu hoàn hảo nhất của giáo dân trong mỗi đơn vị hạ tầng cơ sở của giáo hội là giáo xứ. Hội đồng mục vụ giáo phận là cánh tay mặt của các Giám mục và phải là cơ cấu hoàn hảo nhất của cộng đoàn dân Chúa trong mỗi giáo phận, một giáo hội địa phương.

Chúng ta phải nhìn nhận là trong nguyên lãnh vực này thì mỗi nơi mỗi khác, mỗi người làm việc với một tinh thần khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Không ít người cho rằng hội đồng mục vụ giáo xứ chỉ là tay sai của các linh mục chánh xứ. Không ít người khác còn coi hội đồng giáo xứ như điều kiện thăng tiến và đem lại vinh quang cá nhân. Không ít hội đồng Mục vụ giáo xứ còn chia rẽ, bè phái, tranh giành với nhau.

Thứ đến là trình độ của Giáo Dân. Còn rất nhiều việc có thể làm và phải làm để nâng cao trình độ của Giáo Dân Việt Nam. Chưa nói chi đến các khóa thần học giáo dân, các trung tâm đào tạo cán bộ, các chương trình bồi dưỡng giới trí thức, chỉ nguyên việc đào tạo đội ngũ giáo lý viên trong mỗi giáo phận đã là một công việc vô cùng lớn lao và cấp bách rồi.

Sau cùng là việc đổi mới tư duy, chuyển từ não trạng cho Giáo Dân sang não trạng của giáo dân. Từ xưa đến nay khi chúng ta nói đến tổ chức đoàn thể, mục vụ, hoạt động giáo dân thì chúng ta nghiêng về suy nghĩ là tổ chức đoàn thể mục vụ hoạt động ấy được tổ chức là nhằm phục vụ Giáo Dân (hoàn toàn đúng) nhưng theo nghĩa là CHO Giáo Dân hơn là CỦA Giáo Dân.

Thí dụ trong ban Giáo Dân (thật ra chưa phải là tiểu ban) thì số thành viên Linh Mục nhiều hơn thành viên Giáo Dân. Chúng ta vẫn quen với não trạng mang nặng "giáo sĩ tính" là trong Giáo Hội làm gì cũng phải do các Linh Mục đứng đầu, chỉ huy, quyết định. Có thể vì đội ngũ Giáo Dân còn quá mỏng và quá yếu kém, nên các Linh Mục phải làm thay, phải lo cho (Giáo Dân).

Nhưng có lẽ nay đã đến lúc chúng ta nên xem xét lại quan niệm này. Vả lại nếu Giáo Dân luôn luôn cần có "người bảo trợ" thì chẳng bao giờ họ khá lên được. Cũng giống như đứa trẻ, luôn phải bám vào tay người lớn để bước đi, thì còn lâu mới có thể bước đi một mình. Các linh mục có mặt bên cạnh Giáo Dân trong ủy ban hay trong hoạt động của họ, thì vai trò hết sức quan trọng của các ngài là làm cố vấn và linh hướng chứ không phải là thay thế Giáo Dân.

Kết luận

Vai trò và trình độ của giáo dân Việt Nam không thể thay đổi, nếu như các vị lãnh đạo (các giám mục) và cơ quan tối cao của Giáo hội Việt Nam (hội đồng giám mục) không thay đổi. Thay đổi trong tư duy, trong hành động và trong cách tổ chức. Cho đến nay việc hình thành và hoạt động của các ban của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam còn rất nhiều khó khăn. Có ban chỉ có trên giấy tờ hay trong lời phát biểu nội bộ hơn là trên thực tế. Lại có ban chỉ có một Giám Mục làm chủ tịch, mà không hề có nhân viên, cũng không có văn phòng!

Ước chi hiện trạng ấy mau chóng thay đổi! Ước chi Giáo Hội Việt Nam đón mừng thiên niên kỷ thứ ba bằng các chương trình hành động thiết thực nhằm nâng cao vai trò và trình độ của giáo dân lên! Sự thay đổi và ước mơ ấy chỉ có thể thành hiện thực với điều kiện là Nhà Nước và các qui định về hoạt động tôn giáo của Nhà Nước cũng thay đổi, theo chiều hướng càng ngày càng cởi mở, hiểu biết và tin tưởng người dân hơn (Giám Mục, Linh Mục và Giáo Dân cũng là người dân).

 

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

(Sàigòn Thu 1999)

 

 

 


GIÁO DÂN THỜI GIÁO HỘI SƠ KHAI:

NHỮNG VIÊN GẠCH XÂY DỰNG MỘT NỀN THẦN HỌC GIÁO DÂN.

         Lm. Phêrô Phan Đình Cho - Trần Duy Nhiên dịch

 

LTS:Linh mục Giáo Sư Tiến Sĩ Phêrô Phan Đình Cho - được thế giới biết đến với tên Peter C. Phan – đậu bằng tiến sĩ Triết học tối ưu với lời khen của hội đồng (summa cum laude) và bằng tiến sĩ Thần Học (Doctor of Divinity) tại London University, tiến sĩ Thần học tại Salesian Pontifical University, Rôma; Liên Hội Thần Học Gia Công Giáo tại Chicago (Catholic Theological Union) đã trao tặng cha tước vị tiến sĩ Danh Dự. Cha nguyên là chủ tịch Hiệp Hội Thần Học Gia Công Giáo Hoa Kỳ (Catholic Theologiacal Society of America), cựu Giáo sư tại University of Dallas, Texas, và Catholic University of America. Hiện nay, cha là Giáo sư và Khoa trưởng tiên khởi khoa Tư Tưởng Công Giáo về Xã Hội (Chair of Catholic Social Thought), phân khoa Thần Học tại Đại Học Georgetown, đại học Dòng Tên nổi tiếng tại Washington D.C. Cha còn là sáng lập viên Viện Triết Đạo ở Hoa Kỳ. Cha từng là chủ nhiệm một bộ sách 8 tập về thần học hệ thống (systematic theology). Ngoài những bài viết cho các sách báo và tạp chí thần học, cha viết một số sách như Tư Tưởng Xã Hội, Văn Hóa và Cánh Chung, Vĩnh cửu trong thời gian, Ân sủng và Kiếp Người. (Social Thought, Culture and Eschatology, Eternity in Time, Grace and the Human Condition. Vì mang giòng máu Việt Nam, nên những suy tư thần học của cha vừa mang tính uyên bác Tây phương, vừa mang tính nhạy cảm Đông phương, do đó tiếng nói của cha được thế giới đón nhận như một làn gió mới đầy uy tín. Mặc khác, vì là một giáo sư của các trường Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ, đồng thời thường được mời diễn thuyết và giảng dạy nhiều nơi trên thế giới, nên hầu như toàn bộ tác phẩm của cha được viết bằng Anh Ngữ. Trong số này, Maranatha khởi sự đăng bản dịch một bài của cha, nhan đề là ‘The Laity in the Early Church: Building Blocks for the Thelogoly of the Laity.’

 

Khi mà nguyên nhân trước mắt của cuộc khủng hoảng hiện đang làm rúng động Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ và tại những nơi khác do việc lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ, thì tự bản chất, cuộc khủng hoảng ấy lại mang chiều kích Giáo Hội. Vấn đề này liên hệ đến tương quan giữa các vị lãnh đạo Giáo Hội và giáo dân. Nhiều giáo dân đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ trước cách thức mà các giám mục và hồng y, và thậm chí các đấng có thẩm quyền trong giáo triều Rôma, đã xử sự trước vấn đề các giáo sĩ thích liên hệ tình dục với trẻ em. Chẳng những các vị lãnh đạo Giáo Hội ấy đã không nắm bắt được tính chất và tầm vóc của việc lạm dụng tình dục nơi hàng giáo sĩ, mà các ngài chứng tỏ rằng mình hoàn toàn thiếu trách nhiệm đối với giáo dân. Hệ quả là những phong trào quần chúng đã được hình thành hầu thôi thúc Giáo Hội chẳng những thay đổi cách thức đào tạo các linh mục tương lai, mà quan trọng hơn nữa là thay đổi cách thức hiểu và sống vai trò người giáo dân trong Giáo Hội. Do đó, điều cần thiết ấy là một nền thần học (về) giáo dân thích hợp hơn. Tiểu luận này mong góp phần để xây dựng một nền thần học như thế, bằng cách xem xét bản chất và nhiệm vụ của giáo dân trong thời Giáo Hội sơ khai. [1]

 

Có một thành phần gọi là “giáo dân”trong Tân Ước không?

Mục đích của ngoặc kép là để chúng ta lưu ý về cách sử dụng từ ngữ ‘giáo dân’ trong Tân Ước. Khái niệm hiện nay về giáo dân như (thành phần) đối lập với giáo sĩ và tu sĩ là một khái niệm không hề tìm thấy trong Tân Ước. Danh từ Hy Lạp laos (λαός- nguồn gốc của từ ‘laity’ = giáo dân) chỉ định dân được tuyển chọn (Israel) chứ không phải là những người không có chức thánh hoặc không phải là tu sĩ trong Giáo Hội, và danh từ kleros (κλeρoς - nguồn gốc của từ clergy = giáo sĩ) dùng để chỉ một lô đất hay di sản mà mình nhận hoặc những người được giao phó cho mình chăm sóc, chứ không phải là những người được phong chức trong Giáo Hội. Quả thực, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ ngày nay đều họp thành một thực thể mà Tân Ước vừa gọi là laostheou(λαόςθεoυ), nghĩa là dân của Thiên Chúa (1 Pr 2, 10) vừa gọi là kleros (κλeρoς), nghĩa là di sản của Thiên Chúa. (1Pr 5, 3).

Về khái niệm tư tế (= linh mục) và chức tư tế (= chức linh mục), trong Tân Ước, thuật ngữ iereus (ιερεύς: tư tế) hay arkhiereus (αρχιερεύς: thượng tế) chỉ áp dụng cho Chúa Giêsu mà thôi (Dt 4, 10) và thuật ngữ ierateuma (ιεράτευμα: chức tư tế) thì áp dụng cho toàn thể dân Chúa mà không hề có một sự phân biệt nào (1 Pr 2, 5.9). Hai thuật ngữ ấy không bao giờ dành riêng cho bất cứ nhóm người đặc biệt nào trong Giáo hội dựa trên hoặc chiếu theo một bí tích đặc biệt mà họ lãnh nhận hay một nhiệm vụ đặc thù mà họ thực thi cho công đoàn.

Nền tảng cho chức tư tế của Chúa Giêsu là cái chết hy sinh của Người trên thập giá và cuộc phục sinh của Người. Như trong thư Do Thái: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (5, 8-10) Về chức tư tế của toàn dân Thiên Chúa, nền tảng thần học là bí tích Thanh Tẩy qua đó, như lời thánh Phaolô, dân Chúa được thanh tẩy trong cái chết của Chúa Kitô, được chôn cất với Người, và sống lại trong sự sống mới cùng với Chúa Kitô (Rm 6,3-5). Tôi sẽ trở lại chức tư tế do phép rửa này như là phẩm giá căn bản duy nhất của Kitô hữu, bao gồm cả ‘giáo dân’ lẫn ‘giáo sĩ’. Ở đây, chỉ cần lưu ý rằng trong Tân Ước không hề có khái niệm ‘giáo dân’ như là một nhóm Kitô hữu khác biệt so với giáo sĩ và tu sĩ, một phẩm trật mà vào thời ấy dĩ nhiên chưa từng hiện hữu. Chỉ có một tư tế duy nhất là Chúa Giêsu và một chức tư tế duy nhất là chức tư tế của Đức Kitô; và toàn thể dân Chúa (laos - λαός) đều là tư tế cùng một tư cách, đó là qua phép rửa mà họ chia sẻ bình đẳng với nhau chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô.

Điều này không có nghĩa là trong Tân Ước không có một số nhiệm vụ đa dạng được nhiều người khác nhau trong Giáo Hội đảm nhận. Phúc âm từng đề cập đến nhóm Mười Hai (Tông đồ) mà vai trò là đại diện cho mười hai chi tộc Israen và làm chứng cho sứ mạng, cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu (Cv 1, 22). Nhưng ngoài nhóm Mười Hai với phần vụ đặc thù của họ là làm chứng tai nghe mắt thấy cho cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, thì vẫn còn có nhiều ‘đặc sủng’, nhiều ‘việc phục vụ’‘hoạt động’ khác trong Giáo Hội sơ khai (1Cr 12, 4-6). Trong số này, có người giữ nhiệm vụ ngắn hạn và người thì dài hạn. Trong số các ‘đặc sủng’ (charismata - χαρισμάτα), thánh Phaolô nêu lên ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn đức tin, ơn chữa bệnh, ơn làm phép lạ, ơn nói tiên tri, ơn phân định thần khí, ơn nói các tiếng lạ, ơn giải thích các tiếng lạ (1 Cr 12, 8-10). Trong phần tiếp theo của bức thư ấy, thánh Phaolô còn ghi thêm những phương thức và hoạt động khác: việc tông đồ, giảng dạy, giúp đỡ và quản trị (1 Cr 12, 28).

Không rõ là khi đề ra danh sách này, thánh Phaolô muốn ghi cho đầy đủ (có vẻ không phải như thế) hay muốn sắp xếp theo thứ tự quan trọng (rất có thể), đặc biệt là trong đoạn văn cuối, khi ngài viết: ‘thứ nhất là các tông đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy.’ Dù sao đi nữa, điều chắc chắn là, đối với thánh Phaolô, mọi đặc sủng, mọi công việc phục vụ và hoạt động đều cần thiết và quan trọng cho đời sống Giáo Hội. Cũng như không chi thể nào có thể n

Bài viết khác