GIÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH

PHẦN THỨ NHẤT

 

ĐỀ TÀI IV

TỪ GIÁO HỘI “PHỤC VỤ THĂNG TIẾN CON  NGƯỜI”

ĐẾN GIÁO HỘI “LÀM CHỨNG”

 

 

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

            Giúp các học viên cập nhật hóa sự hiểu biết và cách sống sứ mạng yêu thương, phục vụ và làm chứng của mình, trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ 3 này, theo tinh thần Công đồng Vatican II và Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” của Đức Gioan Phaolô II.

 

B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

             1. Anh chị thấy trong mối tương quan với thế giới và con người Giáo hội có những thay đổi nào đáng kể sau Công đồng Vatican II?

 2. Có người nói: Giáo hội tiền Công đồng Vatican II là Giáo hội chinh phục còn Giáo hội hậu Công đồng Vatican II là Giáo hội phục vụ: nhận xét ấy có phần nào đúng không?

3. Tông huấn Giáo hội tại châu Á đem lại - cho Giáo hội Việt Nam nói chung và cho anh chị nói riêng - điều gì mới mẻ liên quan tới sứ mạng yêu thương phục vụ và làm chứng của Giáo hội và của người giáo dân?

 

C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG

I. GIÁO HỘI  PHỤC VỤ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI 

1.1 Nền tảng Thánh Kinh:

*  “Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm gía chuộc muôn người”(Mc 10, 41-45; Mt 20, 24-28).

 

1.2 Giáo huấn của Công Đồng:

·        “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người  mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thực vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bởi những con người đã được qui tụ trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế cộng đoàn ấy  mới nhận thấy mình thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch  sử nhân loại

              (Lời mở đầu Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 1).

* “Ngày nay, tuy đã cảm phục trước những khám phá và quyền lực mình, nhân loại vẫn thấy  lo lắ́ng thắc mắc về sự tiến hóa hiện nay của thế giới, về chỗ đứng và phận vụ con người trong vũ trụ, về ý nghĩa của những cố gắng cá nhân cũng như tập thể, và sau hết về cùng đích của con người và muôn loài. Vì thế, khi minh chứng và trình bày Đức Tin của toàn thể dân Chúa đã được Chúa Kitô đoàn tụ, để diễn tả thực hùng hồn mối tình liên đới, sự tôn trọng và quí mến của dân Chúa với gia đình nhân loại mà mình là một thành phần, Công đồng thấy hay hơn hết là phải thiết lập cuộc đối thoại về những vấn đề ấy, phải lấy ánh sáng Phúc âm mà soi dẫn, và phải cho nhân loại những năng lực cứu rỗi mà chính Giáo hội đã nhận được nơi Đấng Sáng Lập, nhơ Chúa Thánh Thần hướng dẫn…..

·        “Không bị một tham vọng trần thế nào thúc đẩy, Giáo hội chỉ nhắm một một diều là dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, Giáo hội tiếp tục công cuộc của chính Chúa Kitô, Đấng đã đến thế gian để làm chứng nhân cho chân lý, để cứu rỗi chứ không luận phạt (xem Ga 18,37),để phục vụ chứ không để được hầu hạ (xem Ga 3,17; Mt 20,28; Mc 10, 45)

(Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 3).

 

1.3 Triển khai của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”

* “Trong việc phục vụ gia đình nhân loại, Giáo hội tìm cách tiếp cận với mọi người không phân biệt nam nữ, cố gắng cùng với họ xây dựng một nền văn minh tình thương, dựa trên các giá trị phổ quát như hòa bình, công lý, liên đới và tự do, những giá trị ấy được kiện toàn nơi Đức Kitô. Như Công đồ II đã phát biểu một cách rất đáng ghi nhớ: «Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ» Nếu thế, Giáo hội tại châu Á với đông đảo người nghèo và người bị áp bức được mời gọi hiệp thông trong sự sống, thể hiện đặc biệt qua việc yêu thương phục vụ người nghèo và những người không được bảo vệ.

“Gần đây càng ngày Huấn quyền Giáo hội càng nhấn mạnh nhiều hơn tới nhu cầu phải đẩy mạnh sự phát triển con người vừa đích thực vừa toàn diện, đó là để đáp ứng với tình cảnh hiện thực của các dân tộc trên thế giới, cũng như đáp lại sự ý thức ngày càng tăng rằng không những hành vi của cá nhân mà còn của cả các cơ cấu trong đời sống xã hội, chính trị và kinh tế nhiều khi thù nghịch với sự ấm no hạnh phúc của con người. Những sự mất cân đối do hố sâu ngày càng tăng giữa một bên là những người đang thừa hưởng khả năng ngày một lớn trên cả thế giới để làm giàu, và một bên là những người bị gạt ra bên lề sự tiến bộ, những mất cân đối đó buộc chúng ta phải thay đổi triệt để não trạng cũng như cơ chế để đem lại lợi ích cho con người. Một thách đố tinh thần rất lớn có liên hệ đến sự phát triển mà các quốc gia và cộng đồng quốc tế phải đương đầu, chính là phải có can đảm xây dựng một tình liên đới mới, có khả năng đưa ra những sáng kiến tân tiến và hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển có hại cho nhân phẩm cũng như tình trạng «phát triển quá độ» , đang nhằm giản lược con người thành một đơn vị kinh tế càng ngày càng chịu áp lực của cả một mạng lưới tiêu thụ. Để tạo nên sự thay đổi ấy, «Giáo hội không đưa ra những giải pháp mang tính kỹ thuật» , mà chỉ xin «trước hết là góp phần vào việc giải quyết vấn đề khẩn cấp về phát triển khi Giáo Hội công bố sự thật về Đức Kitô, về bản thân Giáo hội và về con người, bằng cách đưa sự thật ấy vào trong một tình huống cụ thể». Cuối cùng, sự phát triển con người không bao giờ là một vấn đề thuần túy kỹ thuật hay kinh tế; mà tự căn bản đó chính là một vấn đề nhân bản và đạo đức.

“Học thuyết xã hội của Giáo hội, đưa ra một loạt các nguyên tắc để suy nghĩ, các tiêu chuẩn để phê phán và các chỉ dẫn để hành động, là học thuyết được gửi tới trước hết cho các thành viên của Giáo hội. Các tín hữu tham gia vào việc thăng tiến con người nhất thiết phải nắm thật vững toàn bộ giáo huấn quý giá này, xem đó như là một phần thiết yếu của toàn bộ sứ mạng phúc âm hóa. Thế nên, các Nghị phụ Thượng Hội đồng đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng phải huấn luyện vững chắc các tín hữu về học thuyết xã hội của Giáo hội qua các hoạt động giáo dục, nhất là qua các chủng viện và các cơ sở đào tạo. Các Kitô hữu ở cương vị lãnh đạo trong Giáo hội và Xã hội, nhất là các giáo dân có trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được đào tạo kỹ lưỡng trong học thuyết này để họ có thể tạo cảm hứng và truyền sức sống cho xã hội dân sự và những cơ cấu xã hội, bằng chính men Tin Mừng. Học thuyết xã hội của Giáo hội không những nhắc nhở các Kitô hữu ở cương vị lãnh đạo về bổn phận của họ, mà còn đề xướng cho họ những đường hướng để hoạt động nhằm phục vụ sự phát triển con người, và giải thoát họ khỏi những ý niệm sai lạc về con người cũng như về sinh hoạt của con người.

                                                    (Tông huấn Giáo hội tại châu Á, chương VI, số 32).

 

II. GIÁO HỘI  LÀM CHỨNG

2.1 Nền tảng Thánh Kinh:

* “Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền  cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 18-20).

*  “Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, có phải bậy giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ítraen không?” Người đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”(Cv 1, 6-8).

 

2.2 Giáo huấn Công đồng:

* “Tự bản chất, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ  sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo Ý định của Thiên Chúa Cha” (Sắc lệnh Truyền Giáo, số 2).

* “Vì toàn  thể Giáo hội là truyền giáo và vì công việc rao giảng Phúc âm là nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa, nên thánh Công đồng mời gọi mọi người canh tân tự thâm tâm mình, để khi đã tích cực ý thức trách nhiệm riêng trong việc truyền bá Phúc âm, mọi người góp phần vào công việc truyền giáo nơi muôn dân” (Sắc lệnh Truyền Giáo, số 35).

* “Tất cả  các Kitô hữu vì là chi thể của Chúa Kitô hằng sống, được sáp nhập và nên giống Người nhờ Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Thánh thể, nên họ có bổn phận phải cộng tác vào việc phát triển và bành trướng Thân thể Người, để Thân thể này được sung mãn càng sớm càng hay” (Sắc lệnh Truyền Giáo, số 36).

 

2.3 Triển khai của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”:

* “Công Đồng Vaticanô II đã dạy rõ ràng rằng toàn thể Giáo hội đều phải truyền giáo, công việc phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa. Vì toàn thể Dân Chúa đều được sai đi rao giảng Tin Mừng, nên phúc âm hóa không bao giờ là một công việc riêng lẻ của cá nhân, nhưng luôn luôn là một công việc chung của cả Giáo Hội, phải được thi hành trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đoàn đức tin. Sứ mạng chỉ có một và không thể chia năm sẻ bảy, vì chỉ có một gốc và chỉ một mục tiêu. Nhưng trong sứ mạng ấy có những trách nhiệm khác nhau và những hình thức hoạt động khác nhau. Dù sao chăng nữa, rõ ràng là không thể nào có sự công bố Tin Mừng thực sự, nếu các Kitô hữu không lấy đời sống mình làm chứng tá, đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng: «Hình thức làm chứng đầu tiên là chính cuộc sống của người truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đoàn Giáo hội, cuộc sống này giới thiệu một cung cách sống mới. . . Mọi người trong Giáo hội, cố gắng bắt chước Tôn Sư của mình thì đều có thể và đều có bổn phận phải làm chứng theo hình thức này, nhiều khi, đó lại là cách duy nhất để truyền giáo». Nhất là ngày nay người ta đang cần đến hình thức chứng tá đích thực của Kitô Giáo, vì «con người hôm nay tin tưởng các chứng nhân hơn là thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là bài vở, tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết». Điều này thật đúng trong bối cảnh Á châu hiện nay, nơi người ta dễ bị thuyết phục bởi một đời sống thánh thiện hơn là bởi các lý luận của trí tuệ. Vì thế, kinh nghiệm đức tin và kinh nghiệm về các ơn của Chúa Thánh Thần phải là nền tảng cho toàn bộ công cuộc truyền giáo, bất luận ở thành thị hay thôn quê, ở trường học hay bệnh viện, ở giữa những người tàn tật, di cư hay các bộ tộc, hoặc theo đuổi thực hiện công bằng và các quyền con người. Hoàn cảnh nào cũng là cơ hội thuận tiện cho các Kitô hữu bày tỏ sức mạnh mà sự thật của Đức Kitô đã mang lại cho đời sống của họ. Cảm kích trước nhiều nhà truyền giáo trong quá khứ đã từng làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa một cách anh hùng ở giữa các dân tộc trên lục địa này, ngày nay Giáo hội tại Châu Á cũng không kém phần hăng hái khi cố gắng làm chứng về Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Sứ mạng của người Kitô hữu không cho phép kém nhiệt tâm.

Ý thức về bản chất truyền giáo của Giáo hội trong khi chờ đợi ngày Chúa Thánh Thần tuôn đổ sức mạnh của Người xuống một lần nữa, đang khi Giáo hội đi vào ngàn năm mới, các Nghị phụ Thượng Hội đồng thỉnh cầu Tông huấn hậu Thượng Hội đồng sẽ đưa ra một vài chỉ thị và đường hướng cho những ai đang làm việc trong cánh đồng truyền giáo bao la của châu Á này.

“Chính Chúa Thánh Thần đã giúp Giáo hội có khả năng hoàn thành sứ mạng do Đức Kitô trao cho. Trước khi sai các môn đệ ra đi làm chứng nhân, Đức Giêsu đã ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20,22); Thánh Thần làm việc thông qua họ và đánh động con tim của những người lắng nghe họ (x. Cv 2,37). Điều này cũng đúng đối với những người được Ngài sai đi hôm nay. Ở một mặt nào đó, tất cả những người đã chịu phép Rửa, thì  chính ơn bí tích này, họ đều được trạch cử tham gia vào việc tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Kitô, và họ có khả năng làm việc này chính nhờ Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Ngài ban cho họ (x. Rm 5,5)”.

 (Tông huấn Giáo hội tại châu Á, chương VII, số 42).

 

D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG

A. Liên quan tới  sứ mệnh phục vụ thăng tiến con người:

          1. Tại sao Giáo hội công giáo và người công giáo quan tâm đến con người và các vấn đề của con người? Sự quan tâm ấy được thể hiện bằng cách nào? Anh chị có cách thể hiện riêng mình không? Cách ấy thế nào? 

          2. Khi nói về “Giáo hội phục vụ thăng tiến con người” Tông huấn Giáo hội tại châu Á nhấn mạnh đến việc phát triển con người “đích thực và toàn diện”. Theo anh chị thì thế nào là phát triển con người đích thực và toàn diện? Làm thế nào để con em chúng ta phát triển đích thực và toàn diện?

 

B. Liên quan tới sứ mệnh làm chứng:

           1. Để Giáo hội có thể làm chứng cho Tin Mừng, Tông huấn Giáo hội tại Á châu (chương V) nêu lên nhu cầu phải hội nhập văn hoá, phải đối thoại với các nền văn hoá, với các tôn giáo và với người nghèo. Theo anh chị thì Giáo hội Việt Nam cần thực hiện những gì trong giai đoạn này? Bản thân anh chị thực hiện được những  việc gì?

           2. Khi nói về “Những người làm chứng cho Tin Mừng” Tông huấn Giáo hội tại châu Á (chương VII) nhấn mạnh đến trách nhiệm làm chứng của hết mọi Kitô hữu, cách riêng của phụ nữ, của các gia đình, của trẻ em và giới trẻ. Theo anh chị thì người giáo dân và gia đình công giáo Việt Nam phải làm chứng như thế nào? Anh chị có cách làm chứng riêng của mình không? Cách ấy thế nào? 


 

Bài viết khác