NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI

 

Dẫn nhập

 

Lần đầu tiên trong lịch sử, Công Ðồng bàn nguyên một chương đặc biệt về giáo dân, và ở đây mới chỉ nhằm tới nền tảng thần học về cơ cấu Giáo Hội dưới khía cạnh ơn gọi của giáo dân. Những khía cạnh thực tiễn như về những hình thức tổ chức chẳng hạn, sẽ được đề cập trong sắc lệnh đặc biệt về Tông Ðồ Giáo Dân. Và những vấn đề trọng đại nói lên mối tương quan giữa Giáo Hội và các giá trị trần thế, sẽ được nghiên cứu tỉ mỉ trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay. Từ những cuộc tranh luận trong Công Ðồng và từ chính những nghị định, chúng ta có thể kết luận rằng, giáo dân không chỉ được định nghĩa một cách đơn giản như không phải là giáo sĩ, nhưng trước hết phải được công nhận là thuộc về Dân Chúa[1].

 

Sau khi xác định những chức vụ của các phẩm trật, Thánh Công Ðồng sẵn lòng đề cập đến bậc sống của những Kitô hữu được gọi là giáo dân. Mặc dầu tất cả những gì nói về Dân Thiên Chúa đều có liên quan đến giáo dân, tu sĩ cũng như giáo sĩ, nhưng có một số điều đặc biệt thuộc về giáo dân nam nữ, vì địa vị và sứ mệnh của họ. Những điều mà hoàn cảnh đặc biệt của thời đại chúng ta đòi hỏi phải tìm hiểu nền tảng chúng cách thấu đáo hơn.

 

Thực thế, các chủ chăn của Dân Thánh ấy, biết rõ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các Ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ vụ cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới. Nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là chăn dắt tín hữu và nhận biết các phận sự và đoàn sủng nơi họ. Hầu mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của mình. Vì thế, mọi người “phải lấy bác ái mà thực hành chân lý, hãy lớn lên trong Ðấng làm đầu là Chúa Kitô. Nhờ Người, toàn thân thể được phối hợp và kết tụ bằng sự liên lạc tương trợ nhau, tùy theo công dụng khả năng từng phần tử, khiến thân thể được tiến triển hầu xây dựng trong đức ái”[2].

 

Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được Giáo Hội công nhận. Nghĩa là những Kitô hữu đã được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình. Chúng ta sẽ hiểu biết ý nghĩa và đặc điểm cụ thể về người tín hữu giáo dân theo bộ giáo luật 1983.

 

1. Ý nghĩa

 

1.1. Trước hết, người tín hữu là ai?

 

Bộ Giáo Luật 1983 xác định: “Các tín hữu là những người, nhờ phép Rửa Tội, được hiệp thông với Ðức Kitô, kết thành dân của Chúa và do đó, họ tham dự theo cách thế riêng vào chức vụ tư tế, sứ ngôn và vương giả của Ðức Kitô. Theo điều kiện của mỗi người, họ được kêu gọi thực hành sứ mệnh mà Thiên Chúa đã giao phó cho Giáo Hội chu toàn trong thế giới”[3]. Như thế tất cả mọi thành phần của Giáo Hội là Dân Chúa, là nhiệm thể của Đức Kitô, là gia đình của Chúa. Từ Đức Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân đều là Tín Hữu, là những người tin vào Đức Kitô[4].

 

2.2. Thứ đến, người tín hữu giáo dân là ai?

 

Bộ giáo Luật 1983 qui định: “Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu trong Giáo Hội, có các thừa tác viên có chức thánh, trong luật được gọi là các Giáo Sĩ. Còn các người khác được gọi là Giáo Dân”.

 

Trong cả hai thành phần vừa nói, có những tín hữu tận hiến cho Thiên Chúa một cách đặc biệt và đóng góp vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội bằng việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm qua lời khấn hoặc qua mối giây ràng buộc thánh thiện khác, được Giáo Hội công nhận và phê chuẩn. Hàng ngũ của họ tuy không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng thực sự thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội[5].

 

 Như vậy, Giáo sĩ là người tín hữu có chức thánh.

 

Tu Sĩ là người tín hữu có lời khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm hoặc có giây ràng buộc thánh thiện khác. Họ được Giáo Hội công nhận và phê chuẩn.

 

Còn Giáo Dân được Bộ giáo Luật đã định nghĩa theo tinh thần của Hiến Chế tín lý về Giáo Hội như sau: “Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được Giáo Hội công nhận. Nghĩa là những Kitô hữu đã được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy. Họ đã trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình”[6].

 

Mượn lại lời của Đức Piô XII trong diễn văn đọc trước các Hồng Y mới nhậm chức ngày 20-02-1946, Đức Gioan Phaolô II xác định: “Các tín hữu, nói một cách rộng hơn, các giáo dân, là những người đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo Hội. Nhờ họ, Giáo Hội trở nên nguyên lý sự sống cho xã hội loài người. Vì thế, chính họ phải ý thức ngày càng rõ rệt là họ không những thuộc về Giáo Hội mà là Giáo Hội, nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lãnh chung là Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục hiệp thông với Ngài.

 

Họ là “Giáo Hội”[7]. Nhưng họ có đặc điểm riêng biệt gì?

 

2. Đặc điểm

 

Lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Các ông cũng thế hãy vào làm trong vườn nho cho Ta”[8]. Lời mời gọi từ xa xưa ấy trong lịch sử, vẫn còn luôn luôn vang dội đến tai chúng ta. Ngài mời gọi hết mọi người đến trong thế gian này.

 

Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô II, như một lễ Hiện Xuống mới với ơn Chúa Thánh Thần đổ xuống tràn trề, đã nhận thức sâu sắc về bản tính truyền giáo của mình, và đã ngoan ngoãn lắng nghe tiếng Chúa sai đi vào trần thế, như “bí tích cứu rỗi mọi người”[9].

 

Mặc dù là tín hữu như các linh mục tu sĩ nhưng vì không phải là linh mục tu sĩ, nên người tín hữu giáo dân có một đặc tính mà hai hạng người trên không có. Đó là “tính cách trần thế”. Công Đồng Vat. II quả quyết: “Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của giáo dân”.

 

Thực vậy, các phần tử trong hàng giáo sĩ, dù đôi khi có thể lo những việc trần thế. Hoặc hơn nữa, họ hành nghề giữa đời. Nhưng vì ơn kêu gọi đặc biệt, sứ mệnh chính yếu và rõ rệt của họ vẫn là sứ vụ thánh.

 

Phần các tu sĩ, do bậc sống của họ. Họ làm chứng cách hùng hồn và cao quí rằng, người ta không thể cải tạo thế giới và cung hiến nó cho Thiên Chúa được, nếu không có tinh thần các mối phúc thật.

 

Vì ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội.

 

Tất cả những điều đó, như dệt thành cuộc sống của họ. Ðó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình. Và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời. Và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác.

 

Tóm lại, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ý Chúa Kitô, hầu ca tụng Ðấng Tạo Hóa và Ðấng Cứu Ðộ[10].

 

Công Ðồng trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra: giáo dân là gì trong viễn tượng một khoa thần học về Giáo Hội? Công Ðồng đưa ra ánh sáng những yếu tố tích cực biểu thị đặc tính của giáo dân, và yếu tố chính là tính cách trần thế, nghĩa là người đảm nhận qui hướng về Thiên Chúa những sự việc trần thế mà họ dấn thân.

 

Vậy những đặc điểm của một giáo dân là: Sống giữa mọi người và trong xã hội nhờ dây liên lạc gia đình và nghề nghiệp. Thánh hóa trần gian như “men- bột” qua việc minh chứng bằng đời sống, trong khi thi hành nhiệm vụ riêng biệt, trong nghề nghiệp của mình. Trách vụ làm cho những thực tại trần thế biết ca tụng Ðấng Sáng Tạo và Cứu Thế. Những thực tại mà họ được nối kết chặt chẽ như Chúa Kitô muốn. Ðó là tình trạng tạo nên một giáo dân, khiến họ có thể là chứng nhân tông đồ đích thực giữa trần gian[11]. Chúng ta hiểu tính cách trần thế nghĩa là ở giữa trần thế. Sống với đời sống của trần thế và sống cho trần thế. Nghĩa là không bị lôi cuốn theo các chiều hướng xấu của trần thế. Trái lại, để cải hóa trần thế theo tinh thần của chúa Kitô, như Ngài đã căn dặn: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời”[12].

 

Tính cách trần thế này đặt nền tảng trên hai chân lý thần học: là mầu nhiệm sáng tạo và mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Thiên Chúa[13]. Thực vậy, khi Chúa tạo dựng con người, Ngài đã trao cho con người quyền chế ngự tạo vật. Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ. Và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Ðây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy”. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu”[14].

 

Còn thánh Gioan xác tín vào Tình yêu Thiên Chúa cứu chuộc trần gian: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta”[15].

 

Theo ý hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng 1987 đã tuyên bố: “Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân không chỉ được định nghĩa theo quan niệm xã hội, mà theo ý nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa. Đấng đã trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào việc tạo dựng, dể họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, để họ tự thánh hóa mình trong đời sống hôn nhân hoặc độc thân, trong gia đình, trong chức nghiêp và trong các hoạt động xã hội”[16].

 

Muốn hiểu rõ một cách đầy đủ vị trí chuyên biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu tầm mức thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội. Như Đức Phaolô VI quả quyết: “Giáo Hội mang tính chất trần thế chính tông, bẩm sinh trong bản tính thâm sâu và sứ mệnh của mình, gốc rễ nó nằm trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đối với các thành phần của mình”[17].

 

Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không thuộc về trần thế[18]. Giáo Hội được sai đi để tiếp nôi công trình Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công trình này “chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế giới”[19].

 

Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lãnh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có một hình thái thực hiện và chức vụ “riêng rẽ và đặc biệt” theo như Công Đồng phân tích. Chính những hình thái này đã được gọi là “tính cách trần thế”[20]. Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hữu giáo dân, thì trước tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa gọi: “Đó là nơi họ được gọi”[21]. Đó là “nơi”được trình bày với từ ngữ có nghĩa hoạt động, các tín hứu giáo dân “sống giữa đời, nghĩa là dấn thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều kiện thường nhật của đời sống gia đình và xã hội đã tạo nên”[22]. Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những tình bạn, những tương giao xã hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nhìn thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và môi trường bên ngoài, nhưng tìm gặp đầy đủ ý nghĩa của nó trong Đức Giêsu Kitô [23]. Công Đồng lại qủa quyết: “Ngôi Lời nhập thể đã muốn đích thân chia sẻ tình liên đới nhân loại. Người thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ gia đình là ngưồn gốc phát sinh những liên hệ xã hội. Người đã tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia của Người. Người đã muốn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương thời trong quê hương mình”[24].

 

Như vậy, “thế giới”, đã trở nên môi trường và phương thế cho ơn gọi Kitô-hữu của người tín hữu giáo dân, vì chính trần thế được chỉ định để tôn vinh Chúa Cha trong Đức Kitô. Với ý nghĩa này, Công Đồng có thể giải thích ý nghĩa riêng tư và đặc biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ không phải được kêu gọi để bỏ vị trí của mình giữa thế giới. Vì phép Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như Thánh Phaolô Tông Đồ đã nhấn mạnh: “Hỡi anh chị em, mỗi người hãy ở trước mặt Chúa, trong vị thế mình đang ở khi được kêu gọi”[25].Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một ơn gọi liên quan mật thiết với tình trạng của họ giữa thế giới. Các tín hữu giáo dân “được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm vụ của mình. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sống sáng chói Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến”[26].

 

   Thực tế, trong cuộc gặp gỡ tại Los Angeles, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chia sẻ với các giám mục, “Giáo Hội Hoa Kỳ phải hãnh diện vì có lực lượng giáo dân học thức lớn nhất trên thế giới”[27]. Cũng tại cuộc gặp gỡ này, Đức Giáo Hoàng đã bày tỏ: “Trên hết mọi sự, người giáo dân, một khi Lời Chúa tác động, chính họ sẽ mang hiệu quả Lời Chúa ảnh hưởng tới các nền văn hóa, tới các hệ thống tư tưởng và nghệ thuật sáng tạo, tới những ngành nghề và cơ xưởng khác nhau, tới cuộc sống của gia đình, và tới xã hội cách chung”[28].

 

Ngày 18 tháng 9, 1987, Đức Giáo Hoàng J.P. II đã gặp gỡ trên ba ngàn đại diện giáo dân tại nhà thờ Chính tòa Mary ở San Francisco. Ngài đã giải thích rằng mọi người trong Giáo Hội không thăng tiến trên cùng một đường hướng, tuy nhiên, tất cả đều được mời gọi để thánh hóa và đón nhận cùng một đức tin qua sự công chính của Thiên Chúa[29], và bởi thánh ý của Đức Kitô, có người được làm thầy dạy, làm người phân phát mầu nhiệm, làm chủ chăn lo cho kẻ khác... như thế, tất cả đều bình đẳng thực sự về phương diện phẩm giá và hoạt động chung của mọi Tín Hữu để xây dựng thân thể Chúa Kitô[30].

 

Vì vậy, sống và hành động giữa thế giới đối với các tín hữu giáo dân, không chỉ là một thực tại nhân-sinh-xã-hội, mà còn là một thực tạí chuyên-biệt-thần-học giữa trần thế. Thiên Chúa muốn biểu lộ ý định của Ngài và thông ban cho họ ơn gọi đặc biệt là “tìm nước Thiên Chúa bằng cách quản lý các thực tại trần thế mà họ phải sắp xếp theo ý Thiên Chúa”[31].

 

3. Kết luận

 

Hình ảnh người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội được minh định rõ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ của đời sống Kitô-hữu và đặc tính trần thế của nó. Các hình ảnh trong Phúc âm nói về muối mặn, ánh sáng và men bột, mặc dầu có ý nói về tất cả mọi tín đồ của Đức Giêsu, nhưng áp dụng cách riêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là những hình ảnh mang nặng ý nghĩa tuyệt vời, bởi vì không những nó diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của sự hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ[32].

 

Vậy ơn gọi và sứ vụ của họ trong Giáo Hội và giữa trần thế như thế nào?

 

Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D. Min.)



[1]
Công đồng Vat.II, Ánh sáng muôn dân, chú thích số 40.

[2] Eph 4,15-16.

[3] Bộ Giáo Luật 1983, đ. 204,1.

[4] Tông Huấn, Người Tín Hữu Giáo Dân, 15.

[5] Bộ Giáo Luật 1983, đ. 207, 1,2.

[6] Công đồng Vat.II, Ánh Sáng Muôn Dân, 31.

[7] Piô XII, Diễn Văn, 20-02-1946.

[8] Ibid., 20: 3-4.

[9] Công Đồng Vat.II, Ánh Sáng Muôn Dân, 48.

[10] Ibid., 31.

[11] Ibid., 31, Chú thích,  41.

[12] Mt 5: 13-16.

[13] Thủ Bản, Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại, Rôma, 1994, 10.

[14] St 1: 26-31.

[15] 1Jn 4, 9-10.

[16] Thượng Hội Đồng 1987, Người tín hữu giáo dân, 15, đề nghị 4.

[17] Phaolô VI, Bài giảng trước các Bề trên và Hội viên của các Tu hội đời, (02-02-1972). AAS. 64

[18] Jn. 17:16.

[19] Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam Actuasitatem, 5.

[20] Vaticanô II,  Hiến chế Lumen Gentium, số 31.

[21] Ibid., 31.

[22] Ibid., 31.

[23] Ibid., 48.

[24] Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 32.

[25] 1Cor. 7:24.

[26] Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 31.

[27] Đức Gioan Phaolô II ở Hoa Kỳ, 9.1987.  Boston: St. Paul books and Media, 1987.7.

[28] Ibid.

[29] 2Pt 1:1

[30] Ibid.

[31] Ibid., 31.

[32] Thượng Hội Đồng 1987, Người tín hữu giáo dân, 15,

Bài viết khác