TƯƠNG QUAN DONG TU 2

2. Sứ Vụ

Người thánh hiến chỉ sống cho một mình Thiên Chúa, dĩ nhiên, không có nghĩa là họ được đưa vào trong tình yêu nhiệm mầu sâu thẳm của Thiên Chúa, kết hiệp mật thiết với Ngài và như thế là hết. Không! Chúa gọi các môn đệ đến ở với Chúa để Ngài sai họ đi (x. Mc 3,13-14), tức là người môn đệ luôn có sứ mạng là lãnh nhận một sứ vụ trong số nhiều dạng thức khác nhau, nhưng đều qui về một mối là phục vụ và là chứng tá cho Nước Chúa Giêsu thiết lập đã có và đang đến. Không có thánh hiến mà không có sứ vụ. Thánh Giáo Hoàng Phaolô II đã viết: “Phải khẳng định rằng sứ mạng là thiết yếu cho mọi Tu Hội, không những cho những Tu Hội hoạt động tông đồ mà còn cho cả những Tu Hội chiêm niệm nữa. [...] Do đó, có thể nói rằng người tận hiến “được sai đi” do chính sự thánh hiến của mình, người ấy làm chứng cho sứ mạng theo lý tưởng của Tu Hội mình”.[18]

Ngoài loại sứ vụ như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết và được trích dẫn ở trên, “chính đời thánh hiến đã trở thành một sứ vụ”, thì đời thánh hiến có nhiều loại sứ vụ khác nhau chẳng hạn như: tân phúc âm hoá, tái phúc âm hoá, truyền giáo, đối thoại đại kết, đối thoại liên tôn, mục vụ… nói chung, sứ vụ được hiểu như mọi hoạt động tông đồ trong Hội Thánh. Giữa thánh hiến và sứ vụ có một tương quan mật thiết thuộc về bản tính. Chân phúc Giáo Hoàng Phaolô VI dạy: “Các tu sĩ hiến thân làm việc tông đồ trong sứ mạng chính yếu nhất, tức là rao giảng lời Chúa cho những ai mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho việc dẫn đưa họ về với đức tin. Một ơn vĩ đại như thế đòi hỏi phải sống kết hợp mật thiết với Thiên Chúa để có thể truyền thông sứ điệp của Ngôi Lời nhập thể”.[19] Bộ Giáo luật 1983 nói về điểm này như sau: “Hoạt động tông đồ của các tu sĩ tiên vàn hệ tại việc chứng tá của đời tận hiến. Họ có bổn phận hun đúc đời sống chứng tá nhờ lời cầu nguyện và việc đền tội”.[20] Còn Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì: “Trước khi được thể hiện bằng những công việc bề ngoài, sứ mạng cốt ở việc làm cho chính Đức Kitô hiện diện bằng chứng tá bản thân. Đó là thách đố, đó là mục đích đầu tiên của đời thánh hiến ! Càng để cho mình đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, người tận hiến càng làm cho Người hiện diện và hành động trong thế giới, để cứu độ nhân loại”.[21]

Bên cạnh tương quan theo nghĩa bản tính, còn có tương quan theo nghĩa hiệu năng. Nếu dùng hình ảnh để minh hoạ, có thể ví tương quan giữa thánh hiến và sứ vụ như tương quan giữa xăng và chiếc xe máy. Phải có xăng xe mới chạy được, nếu chỉ có sức người dẫn bộ, xe cũng lăn nhưng đến một lúc nào đó người ta phải đành bỏ, nhất là khi đường xa, trời nắng... Từ cái nhìn thực tiễn, Chân phúc Giáo Hoàng Phaolô VI dạy: “Chúng ta đừng quên điều này là mọi tổ chức của nhân loại đều có thể bị sói mòn, khiến quy luật trở nên khô khẳng và có nguy cơ chỉ còn lại hình thức. Sự chăm chú giữ luật bề ngoài tự nó không đủ để bảo đảm giá trị của cuộc sống ấy. Vì thế luôn luôn phải hồi sinh những hình thức bên ngoài bằng những cố gắng bên trong, nếu không có sự cố gắng này, những hình thức bên ngoài không bao lâu sẽ trở nên một gánh nặng”.[22]

Dù vậy, trong thực tế đời thánh hiến, sứ vụ thường được chú trọng trong khi chiều kích thánh hiến của đời tu hay bị lãng quên. Có thể đối với đời tu thánh hiến là đương nhiên nên ít được nghĩ tới, làm sao giữ đừng để lỗi các lời khấn là được. Điều đó cũng dễ hiểu, vì sứ vụ tự nó là mặt nổi, các tín hữu thường đánh giá người tu sĩ qua những việc họ làm. Bản thân người tận hiến, cộng đoàn và cả Hội Dòng cũng vậy, được đánh giá cao, khen ngợi, trân trọng, tín nhiệm qua những việc phục vụ. Mặt khác, tác động tiêu cực từ về phía xã hội trong thời đại thực dụng, chuộng kỹ thuật muốn thấy ích lợi trước mắt dễ làm người tu giảm nhẹ chiều kích thánh hiến trong cuộc sống của mình. Như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô nhận xét: “Ngày nay có nhiều người thắc mắc tự hỏi: đời tận hiến có ý nghĩa gì? Tại sao lại chọn đời sống đó đang khi có biết bao nhu cầu cấp bách trong lãnh vực bác ái và cả trong việc loan báo Tin Mừng nữa, có thể đáp ứng được mà không cần phải chấp nhận những cam kết đặc biệt của đời thánh hiến? Đời thánh hiến lại chẳng phải là một cách “phung phí” những năng lực có thể sử dụng có hiệu năng cao hơn, có lợi hơn cho nhân loại và cho Giáo Hội đó sao?”.[23] Có lẽ trên quê hương Việt Nam, đời tu được quí trọng nên chưa ai đặt lại vấn đề như thế, nhưng trong thực tế, chỉ nghĩ đến công việc coi nhẹ thánh hiến không phải là hiếm gặp trong đời sống thánh hiến hiện nay. Phải chăng vì thế, ngày nay Hội Thánh có nhiều công trình nhưng lại thiếu những người tu sĩ được nể trọng về đức độ và nhân cách. Vì thế, trong khi nhiệt thành với sứ vụ người tu sĩ cần luôn tâm niệm điều này: “Điều quan trọng nhất không phải là điều tu sĩ làm, nhưng là điều tu sĩ là như những con người thánh hiến cho Thiên Chúa”.[24]

3. Đặc Sủng (Charisma)

Đặc sủng là thuật ngữ được thánh Phaolô dùng nhiều lần trong các thư của ngài. Tiêu biểu như đoạn thư 2Cr 12, 4-11: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần khí tỏ ra nơi mỗi người mỗi cách,là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định Thần Khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người”.

Đặc sủng là những ơn riêng, ơn đặc biệt, không phải ai cũng có mà trái lại chỉ được ban cho một số người. Dĩ nhiên ơn Chúa ban không phải là phần thưởng để thụ nhân thủ đắc làm ích riêng cho mình, nhưng là để phục vụ cộng đoàn. Vì tính chất phục vụ lợi ích chung của Hội Thánh nên từ “charisma” (đặc sủng) còn được dịch là đoàn sủng.

Trong lịch sử Hội thánh, thuật ngữ này bị mai một, không còn được dùng trong suốt thời gian dài. Đến thời thánh Tôma Aquinô, ngài có nói tới nhưng dùng cụm từ “gratia gratis data” tức là “ơn được ban nhưng không”.[25] Đến Công Đồng Vatican II, từ charisma (đặc sủng) đã được dùng trở lại, nhưng không phải nói về đời tu, mà chỉ các ân huệ Chúa Thánh Thần ban cho Dân Chúa, được dịch là “đoàn sủng”.[26] Sau Công Đồng, từ “đặc sủng” được dùng rất phổ biến, nó vượt khỏi lãnh vực suy tư tiến sang lãnh địa tông đồ mục vụ như các “Phong trào canh tân đặc sủng”.

Đối với đời thánh hiến, từ “đặc sủng” được triển khai nhanh chóng nhằm chỉ chổ đứng của đời tu trong hội Thánh. Đời tu không phải việc của con người, hay là một tổ chức của Hội Thánh, không phải là bậc sống trung gian giữa giáo sĩ và giáo dân. Đời tu là ân huệ của Chúa Thánh Thần tặng ban cho Hội Thánh, “thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh một cách bất khả phân ly”.[27] Vì thế, đời thánh hiến “là một thực tại liên hệ đến toàn thể Hội Thánh […] nằm ngay giữ lòng Hội Thánh như một yếu tố quyết định sứ mạng của Hội Thánh”.[28] Tính chất “đặc sủng” là ở đó, nên có một số nghị phụ cho rằng đời thánh hiến thuộc về “cơ chế đặc sủng”.[29] Bên cạnh đó, từ “đặc sủng” được sử dụng một cách rất tích cực và phổ biến để chỉ căn tính của mỗi Dòng, bao gồm các yếu tố: sứ mạng, linh đạo, một nếp sinh hoạt, gia sản tinh thần. Chính nhờ suy tư thần học về “đặc sủng” áp dụng vào đời thánh hiến đã làm toát lên sự năng động và sáng tạo của lối sống này, đồng thời cho thấy tính chất riêng biệt độc đáo của mỗi Hội Dòng trong Hội Thánh. “Các bậc sống càng được tôn trọng căn tính bao nhiêu thì sẽ càng hữu ích cho Giáo Hội và cho sứ mạng của Giáo Hội bấy nhiêu”.[30]

Khi nói về đặc sủng của đời tận hiến, cần phân biệt 3 loại đặc sủng khác nhau: đặc sủng đời tu nói chung, đặc sủng của Đấng Sáng Lập và đặc sủng của Hội Dòng. Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông thư của Năm Thánh Hiến đã viết: “Mỗi Dòng của chúng ta đều đến từ một lịch sử phong phú của đặc sủng. Khởi đầu là tác động của Thiên Chúa, Ðấng đã kêu gọi trong Thánh Linh một số người đi theo sát gót Ðức Kitô, để chuyển dịch Tin mừng ra một lối sống đặc thù, để đọc các dấu chỉ thời đại với cặp mắt đức tin, để đáp ứng với những nhu cầu của Giáo Hội một cách sáng tạo. Thế rồi kinh nghiệm khởi đầu được tăng tiến và phát triển, lôi cuốn những phần tử sống trong những khung cảnh mới của địa lý và văn hóa, tạo ra những thể thức mới để thể hiện đặc sủng, những sáng kiến và những lối diễn tả lòng bác ái tông đồ mới mẻ, cũng tựa như hạt giống trở thành một cây lớn với nhiều cành lá xum xê”. Ngài mời gọi “mỗi gia đình đặc sủng hãy nhớ lại buổi khởi đầu của mình và những chặng phát triển trải qua lịch sử, để tạ ơn Thiên Chúa […] Thuật lại lịch sử của mình là điều cần thiết để duy trì căn tính cũng như để siết chặt mối hợp nhất của gia đình và tăng thêm cho các phần tử ý thức mình thuộc về một nhà. Ðây không phải là chuyện khảo cổ hoặc luyến tiếc dĩ vãng, nhưng là đi lại con đường của các thế hệ quá khứ để nắm bắt được tia sáng gợi hứng, những lý tưởng, những dự phóng, những giá trị đã thúc đẩy họ, bắt đầu từ các vị sáng lập và các cộng đoàn tiên khởi. Ðó cũng là một cách để ý thức được cách thức mà tiền nhân đã sống đặc sủng, những bước đột phá, những khó khăn đã đương đầu và vượt qua. Ta cũng có thể nhận ra những sự bất nhất do tính yếu đuối của con người, thậm chí kể cả có lúc quên mất những khía cạnh cốt yếu của đặc sủng. Tất cả các khía cạnh ấy đều là những bài học, và đồng thời kêu gọi hoán cải”.

II. TRONG CÁNH ĐỒNG HỘI THÁNH CÓ NHIỀU VƯỜN HOA 

Đời sống tu trong Hội Thánh quả là phong phú, trải dài theo dòng lịch sử, qua các thời đại, lối sống ấy tựa như trăm hoa đua nở làm tươi trẻ Hội Thánh và đáp ứng những nhu cầu thời đại. Chắc chắn khó mà kể hết các Dòng tu trong Giáo Hội. Đời tu có nhiều hình thức như: các ẩn sĩ, đời đan tu cộng đoàn, các kinh sĩ sống chung, các Dòng hành khất, các tu đoàn tông đồ…

Trước Công Đồng Vatican II, cách riêng với bộ Giáo luật 1917, Dòng tu được phân biệt qua tính chất của lời khấn: Dòng có lời khấn trọng (ordo) thuộc các Dòng cổ và Dòng có lời khấn đơn (congregatio)thuộc những Dòng cận đại từ thế kỷ XVI. Về mặt pháp lý, các tu sĩ có lời khấn trọng kết hôn bất thành; các tu sĩ có lời khấn đơn, dù chưa được giải nhưng nếu kết hôn tuy bất hợp pháp nhưng vẫn thành sự.[31] Về lời khấn khó nghèo giữa lời khấn trọng và khấn đơn khác nhau rất rõ. Người có lời khấn trọng mất toàn bộ quyền đối với tài sản. Người có lời khấn đơn tuy mất quyền sử dụng và quản trị nhưng quyền thủ đắc và sở hữu vẫn còn, chỉ trừ khi Hiến Pháp Dòng qui định cách khác.[32] Ngoài ra còn có sự phân biết khác là trong các lễ hội, các cuộc rước tu sĩ dong khấn đơn phải nhường bước cho các tu sĩ khấn trọng.[33] Trong trường hợp chỉ có các Dòng đơn thì các Dòng đơn thuộc Giáo Hoàng sẽ được quyền ưu tiên so với các Dòng thuộc Giáo phận.[34]

Bộ Giáo luật 1983, dùng cụm từ “Các Tu Hội đời sống thánh hiến và các hội đời sống tông đồ” để chỉ về đời sống của những người tận hiến cho Chúa. Bộ Giáo luật phân định như sau:

1.1. Các Tu Hội Dòng

Thành viên của Tu Hội Dòng là các tu sĩ có lời khấn Dòng, có đời sống chung và xa lánh thế gian.

Các tu sĩ “thánh hiến toàn thể con người”, cuộc sống trở thành “việc thờ phượng liên tục trong đức ái”; tuyên giữ lời khấn công khai, sống chung huynh đệ, xa cách thế gian.[35] Các Tu Hội Dòng gồm có hai ngành: chiêm niệm và hoạt động.

Về việc tông đồ của các tu sĩ điểm chung là “trước hết hệ tại đời sống chứng tá của họ, và buộc họ phải bồi dưỡng chứng tá ấy bằng cầu nguyện và khổ hạnh”.[36]

Đối với các Tu Hội Dòng chiêm niệm “luôn có một chỗ đứng nổi bật trong Nhiệm thể Đức Kitô: vì họ dâng lên Thiên Chúa lễ tế ngợi khen cao cả làm vẻ vang Dân Thiên Chúa bằng rất nhiều hoa trái thánh thiện, khích lệ Dân Thiên Chúa bằng gương sáng và làm tăng trưởng Dân ấy bằng việc tông đồ âm thầm mà phong phú. Bởi thế, tuy việc tông đồ bằng hoạt động là cần, nhưng không thể kêu gọi các thành viên của các Tu Hội ấy cộng tác vào các loại thừa tác mục vụ khác nhau”.[37]

Đối với các Tu Hội chuyên về tông đồ: “Hoạt động tông đồ thuộc chính bản tính của các Tu Hội. Do đó, toàn thể đời sống của các thành viên phải được thấm nhuần tinh thần tông đồ, nhưng tinh thần tu trì phải là hồn của toàn thể hoạt động tông đồ”.[38] Hoạt động tông đồ phải kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và luôn củng cố bồi dưỡng sự kết hiệp này;[39] đồng thời nhân danh và thừa lệnh Giáo Hội, phải được thực thi trong sự hiệp thông với Giáo Hội.[40]

1.2 “Đời sống ẩn tu hay độc tu” và “Trinh nữ tận hiến”

Bên cạch Các Tu Hội Dòng, bộ Giáo luật còn nói đến “Đời sống ẩn tu hay độc tu” và “Trinh nữ tận hiến”. Hai hình thức thánh hiến này đã có từ xa xưa được Giáo luật khôi phục lại, và được ghi rõ trong phần “Quy tắc chung cho tất cả Tu Hội Đời sống thánh hiến”. Theo đó, các ẩn sĩ là những Kitô hữu “lấy sự xa cách thế gian, sống trong thinh lặng, chăm chỉ cầu nguyện để tận hiến đời mình vào việc ngợi khen Thiên Chúa và mưu phần rỗi cho thế giới”.[41] Còn các Trinh nữ tận hiến là những người “tuyên thệ quyết tâm lành thánh bước theo Đức Kitô sát hơn[...] Họ kết hôn huyền nhiệm với Đức Kitô Con Thiên Chúa và chăm lo phục vụ Giáo Hội”. Các trinh nữ có thể liên kết với nhau.[42] Dĩ nhiên cả hai lối sống tu này đều được đặt trong tay Giám mục Giáo phận theo Giáo luật.

1.3. Các Tu Hội Đời, cũng là “Tu Hội Đời sống thánh hiến”

Nhưng khác với Tu Hội Dòng, Tu Hội Đời không có lời khấn, nhưng có những cam kết sống ba lời khuyên Tin Mừng, không có đời sống chung và sống giữa đời là điểm nổi bật của bậc sống này.

Giáo luật định nghĩa: “Tu Hội Đời là Tu Hội đời sống thánh hiến, trong đó những tín hữu sống giữa đời cố gắng đạt tới đức ái hoàn hảo và ra sức góp phần thánh hoá thế giới từ bên trong”.[43] Các Tu Hội Đời “phải sống trong điều kiện thông thường của trần thế, hoặc một mình, hoặc mỗi người trong gia đình của mình, hoặc trong nhóm đời sống huynh đệ theo Hiến pháp”.[44] Họ không có lời khấn, nhưng có những cam kết bằng những mối dây ràng buộc thiêng liêng tạm thời hay vĩnh viễn.[45]

1.4 Hội đời sống tông đồ (hay các Tu đoàn tông đồ)

Các thành viên trong Hội đời sống tông đồ không có lời khấn, nhưng có đời sống chung.

Giáo luật số 731 khoản 1 viết: “Bên cạnh các Tu Hội Đời sống thánh hiến có các Hội đời sống tông đồ; thành viên của các Hội nầy không có lời khấn Dòng, theo đuổi mục đích tông đồ riêng của Hội và sống đời huynh đệ với nhau, theo nếp sống riêng, họ cố gắng đạt tới đức ái hoàn hảo nhờ tuân giữ Hiến pháp”. Giáo luật xác định: “Những gì đã được ấn định trong các điều 578 – 579 và 606 được áp dụng cho các Hội đời sống tông đồ”.[46] Điều này cho thấy có sự tương đồng giữa “Tu Hội Đời sống thánh hiến” và “Hội đời sống tông đồ”.

Như vậy, từ sau Công Đồng Vatican II, với bộ Giáo luật 1983, cách trình bày về đời tu trong Hội Thánh Công Giáo, trước khi rõ ràng về mặt pháp lý, đã cho thấy chiều kích bản chất hay yếu tính của đời tu, làm toát lên vẻ đẹp và vô cùng phong phú của đời dâng hiến, hơn là tính chất “trọng – yếu” đậm màu “giai cấp” như cách qui định trước đây.

1.5 Một khác biệt nhỏ

Cũng cần nói thêm một nét khác biệt nhỏ giữa các Tu Hội đời sống thánh hiến, đó là Tu Hội Giáo Hoàng và Tu Hội Giáo phận. Nếu Tu Hội do Tông Tòa thiết lập, hoặc ban sắc lệnh rõ ràng chuẩn y thì gọi là “Tu Hội thuộc quyền Giáo Hoàng” hay Tu Hội đặc miễn. Nếu Tu Hội do Giám mục Giáo phận thiết lập mà không có sắc lệnh chuẩn y của Tông Tòa thì gọi là Tu Hội Giáo phận.[47] Tuy nhiên, điều lưu ý là tất cả các thành viên trong các Tu Hội phải phục tùng quyền tối thượng của Giáo Hội; phải tuân phục Đức Giáo Hoàng như là Bề trên tối thượng của mình.[48]

Các Tu Hội đặc miễn được đặt dưới quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng, họ được miễn khỏi quyền lãnh đạo của Giám mục Giáo phận.[49] Nhưng điều cần lưu ý là trong Hiến chế Công Đồng Vatican II ghi rõ: “Khi chu toàn phận vụ đối với Giáo Hội qua cách sống đặc biệt của mình, các tu sĩ phải kính trọng và vâng lời các Giám mục theo giáo luật vì phải tôn trọng quyền mụcvụ của các ngài trong Giáo Hội địa phương và vì cần phải có sự đồng tâm nhất trí trong việc tông đồ”.[50]

III. ĐỂ HOA THƠM KHOE SẮC

Bài viết khác