TƯƠNG QUAN DÒNG TU 3

1. Tương quan giữa các Dòng

1.1 Một chút suy tư và đôi nét tổng hợp giáo huấn của Hội Thánh

Đời sống Thánh hiến là đặc ân Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội. Mỗi Tu Hội được thành lập theo một đặc sủng riêng, dù khác biệt nhưng hợp thành một toàn bộ gắn kết với nhau trong công trình duy nhất của chính Ngài, là làm cho ơn cứu độ Chúa Giêsu đã thực hiện thấm nhuần thế giới tiến tới vị lai trong trời mới đất mới. Vì tự bản chất, các đặc sủng tuy khác nhau nhưng không thể tách rời vì có cùng một nguồn gốc và hướng đến cùng một mục tiêu như thánh Phaolô Tông đồ đã viết: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ ra nơi mỗi người mỗi cách là vì ích chung” (1Cr 12, 4-7). Tính chất ơn ban của Thiên Chúa là không bao giờ qui về đối tượng thủ đắc mà được ban là để phục vụ như thánh Phêrô đã dạy: “Ơn riêng Thiên Chúa ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1Pr 4,11). Đặc sủng Chúa ban cho Tu Hội là để phục vụ, do đó, mối tương quan giữa các Tu Hội Đời sống thánh hiến là có cách hiển nhiên, từ trong yếu tính cũng như trong chức năng phục vụ Hội Thánh. Giáo huấn của Hội Thánh đã nói rất rõ về mối tương quan này, đặc biệt trong Tông huấn “Đời Sống Thánh Hiến” của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

- Đối với các Dòng tu cũ và mới, Tông Huấn viết: “Các hình thái mới của đời thánh hiến, cộng thêm vào những hình thái cũ, đang làm chứng cho thấy việc dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa […] vẫn còn có khả năng thu hút thế hệ hiện tại. Các hình thái này cũng là dấu chỉ cho thấy các ân điển của Chúa Thánh Thần bổ túc cho nhau”.[51]

- Đối với các Tu Hội nói chung, Tông Huấn viết tiếp: “Trong bối cảnh hài hoà của các ân sủng, mỗi bậc sống chủ yếu diễn tả, theo cách của mình, một chiều kích nào đó thuộc mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô. […] Còn khi xét tới sứ mạng của Giáo Hội là phải biểu lộ sự thánh thiện thì phải công nhận, với cái nhìn khách quan, là đời thánh hiến đứng ở một bình diện ưu việt, bởi vì phản ánh chính lối sống của Đức Kitô.[…] Trong viễn ảnh đó, chung cho toàn thể đời thánh hiến, đã có những nẻo đường khác nhau nhưng bổ túc cho nhau…”.[52]

- Đức Thánh Cha còn chỉ cho biết mối tương quan giữa các Tu Hội, bao gồm cả lãnh vực đời sống thiêng liêng huynh đệ và sự cộng tác tông đồ, được nuôi dưỡng dựa trên “cảm thức về sự hiệp thông trong Giáo Hội”. Ngài mượn lại lời của thánh Bernaldo để diễn tả ý tưởng này: “Tôi thán phục tất các Dòng […]. Tôi thuộc về một trong các Hội Dòng đó do kỷ luật, nhưng thuộc về tất cả do đức mến. Tất cả chúng ta đều cần đến nhau: điều thiện hảo thiêng liêng mà tôi không có, hay không chiếm hữu, thì tôi nhận được từ những Dòng khác […]. Trong cuộc lưu đày này, khi mà Giáo Hội còn đang lữ hành, có thể nói rằng tính duy nhất của Giáo Hội thì đa dạng và tính đa dạng của Giáo Hội thì duy nhất […]. Và tất cả những khác biệt của chúng ta, biểu lộ các ân huệ phong phú của Thiên Chúa, sẽ còn tồn tại trong nhà Cha, vì nơi đây có nhiều chỗ ở. Ngày nay thì có sự phân phối các ân sủng, ngày ấy sẽ có sự phân biệt các vinh dự. Sự hiệp nhất, ở dưới thế này cũng như ở trên đó, là do cùng một đức mến”.[53]

Mối tương quan giữa các Tu Hội là mối tương quan hiệp thông. Hội Thánh không chỉ có giáo huấn mà còn thiết định cho mối tương quan này có chiều kích pháp lý. Đây là một tiến trình, có thể nói bắt đầu từ Đại hội “Các Bậc Sống Trọn Lành” được tổ chức tại Rôma vào ngày 29 tháng 10 năm 1950. với những gợi ý từ bài diễn từ bế mạc của Đức Thánh Cha Piô XII, Năm thánh (Annus sacer), liền sau đó, nhiều cuộc đại hội được tổ chức mang những tên gọi khác nhau như hội nghị, hội đồng, uỷ hội hay hiệp hội các bề trên cao cấp của các Tu Hội. Đỉnh cao là Hiệp hội Quốc tế Bề trên Tổng quyền các Dòng nam, và Hiệp hội Quốc tế Bề trên Tổng quyền các Dòng nữ ra đời.[54]

Trong Sắc lệnh về Canh tân và thích nghi đời tu, Thánh Công Đồng đã viết: “Nếu tiện lợi và được Tòa Thánh chấp thuận, các Hội Dòng và đan viện tự trị hãy thành lập các hiệp hội […], hoặc thành lập các liên hiệp nếu có cùng Hiến Pháp, tập tục tương tự và cùng sống theo một tinh thần […], hoặc thành lập những liên hội nếu chuyên lo những công việc bề ngoài giống hay trùng nhau”.[55] Thánh Công Đồng khuyên: “Nên cổ võ những hội nghị hay hội đồng các bề trên thượng cấp do Tòa Thánh qui định, vì những hội đồng như vậy giúp ích rất nhiều để mỗi Hội Dòng đạt tới mục đích riêng cách hoàn hảo hơn, để phát triển sự hợp tác hữu hiệu hơn nhằm mưu ích cho Giáo Hội”.[56]

Đến bộ Giáo luật 1983 thì mối tương quan này được xác định rõ: “Các Hội Đồng Bề trên cao cấp cần có qui chế được Tòa Thánh phê chuẩn. Tòa Thánh là thẩm quyền duy nhất có thể thành lập Hội nghị, ban cấp tư cách pháp nhân, và giữ quyền lãnh đạo tối cao của hội nghị”.[57]

Điều cần lưu ý là các Hội Đồng Bề trên cao cấp ở tầm mức quốc gia hay quốc tế không bao giờ là cơ quan trung gian giữa Hội Dòng và Tòa Thánh. Hoạt động của họ thuần túy là hợp tác thảo luận các vấn đề, tìm phương hướng giải quyết những vấn nạn mà các bên cùng quan tâm chứ không có tính thẩm quyền hay phẩm trật.[58]

Về mối quan hệ hỗ tương giữa các Tu Hội qua hình thức hội đồng hay Hiệp Hội các Bề Trên Thượng Cấp trên bình diện thế giới, quốc gia, hay Hiệp Hội cấp Giáo phận có một giá trị đặc biệt. Tuy nhiên, cần phải tôn trọng: “sự khác biệt”“tính cách và cứu cánh đặc thù”“đặc tính riêng” của các Tu Hội.[59] Bộ Giáo luật 1983 nói đến “Hội Đồng các Bề Trên Cao Cấp”, cũng chỉ cho thấy ích lợi của sự phối hợp này ở cấp Hội Đồng hay Hội Nghị, với điều lưu ý là phải “giữ nguyên sự tự trị, đặc tính và tinh thần riêng của các Tu Hội”.[60]

Mối quan hệ hỗ tương giữa các Hội Dòng vô cùng phòng phú, ngoài các tổ chức như Hiệp Hội các Bề Trên Cao Cấp ở cấp Giáo phận, các Tu Hội cũng được mời gọi lập các hiệp hội tu sĩ nam nữ để thăng tiến đời tu, cùng bàn bạc những vấn đề chung giữa Giám mục và các bề trên, hay phối hợp các hoạt động của các Tu Hội với hoạt động mục vụ của Giáo phận.[61]Bên cạnh đó còn có những mối tương quan giữa nam nữ tu sĩ, các đan viện, các Dòng tu nữ… không chỉ có trong thời gian gần đây mà đã kéo dài qua hàng bao thế kỷ. Nhờ vậy, Đời sống thánh hiến có thêm sức mạnh sống tính ngôn sứ và dấu chỉ cho mầu nhiệm Nước Trời, đồng thời chu toàn các loại hình sứ vụ trong Hội Thánh. Hiện tại, Đời sống thánh hiến gặp nhiều thách đố từ lối sống và môi trường xã hội của con người thời đại, thì mối tương quan hỗ tương giữa các Tu Hội cần được thiết lập chặt chẽ hơn nữa.

1.2. Trong thực tế đời sống Giáo Hội Việt Nam

Đời thánh hiến trong Giáo Hội Việt Nam như đang ở thời điểm trúng mùa, vì con số ơn gọi dồi dào, ngoài các Hội Dòng cũ đã có trước đây, các Hội Dòng mới du nhập vào ngày càng nhiều. Các Hội Dòng phát triển mạnh về cơ sở và nhân sự. Về phương diện tương quan giữa các Dòng, hiện tại có Liên Hiệp Các Bề Trên Thượng Cấp sinh hoạt đều đặn theo nhiệm kỳ ba năm, mỗi năm có một đại hội được tổ chức, như năm 2014 vừa qua, đại hội được diễn ra tại K’Long – Đà Lạt vào các ngày 4,5 và 6 tháng 11. Ngoài ra còn có Đại hội Tu sĩ toàn quốc, liên tu sĩ trong các Giáo phận,…

Kết quả mối tương quan giữa các Tu Hội đời sống thánh hiến trong Giáo Hội Việt Nam như đang có, có thể nói là từng bước lần mò trong đêm tối do hoàn cảnh xã hội. Từ những ngày đầu sau biến cố thống nhất đất nước 1975, tiêu biểu như cha Giuse Nguyễn Công Đoan , S.J. đã kể:

“Sáng ngày 30.04.1975, cả miền Nam Việt Nam bước vào chế độ mới. Tu sĩ Công Giáo trở thành kẻ lạ mặt khả nghi […]. Bóng đêm đè nặng. Đời tu đi về đâu? Mọi người băn khoăn trăn trở. Ngồi nhìn bóng đêm mà than vẳn thở dài chẳng ích gì.Trong cái vòng kiểm soát kiến chui không lọt này làm sao ngồi lại được với nhau để cùng nhau do đường mà đi. Nhà Dòng Phanxicô Đa Kao đã mạo hiểm mở cửa cho anh chị em tới ngồi dưới bóng Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mỗi thứ sáu đầu tháng. Cha Vincent Nguyễn Huy Lịch O.P. và cha Guy Marie Nguyễn Hồng Giáo O.F.M. là hai người “đứng mũi chịu sào”, tổ chức nội dung cho các cuộc gặp gỡ hàng tháng. Một nhóm anh chị em ngồi lại cùng nhau nghiên cứu, suy tư. Mỗi lần họp mặt thì Đức Tổng Giám mục Phaolô mở đầu bằng ít lời huấn dụ, cha Vincent Nguyễn Huy Lịch O.P. và cha Guy Marie Nguyễn Hồng Giáo O.F.M. thông báo tin tức về Hội Thánh và đời tu. Sau đó ban nghiên cứu trình bày đề tài đã suy tư để anh chị em trao đổi”.[62]

Như các loại cây, ngọn luôn hướng về phía có ánh nắng, các tu sĩ của các Hội Dòng bị giải tán phải trở về gia đình, ở các vùng quê, đã tìm đủ mọi cách để ngồi lại với nhau, chèo chóng tồn tại. Nói chung đủ mọi cách thức, và Chúa đã dủ lòng thương ban ơn, không những đời tu tồn tại trong dông bão mà còn trưởng thành lớn lên sinh sôi từ đó. Bản thân người viết theo Chúa trong ơn gọi Đời sống thánh hiến cũng bắt đầu từ nhóm những tu sĩ bị giải tán chạy về quê.

Năm 1995, Lớp Bồi dưỡng thần học Phaolô Nguyễn Văn Bình dành cho các Dòng nam được mở tại cơ sở Dòng Đaminh số 44 đường Tú Xương, quận 3, Tp. HCM. Ban đầu chỉ gọi là “Lớp bồi dưỡng thần học” với thời hạn giấy phép một năm. Do đó mới có chuyện xảy ra là, khóa đầu tiên học xong năm một phải nghỉ ở nhà cả năm vì Lớp thần học chưa được cấp phép lại. Thế nhưng, cho đến nay đã chính thức trở thành “Học Viện Liên Dòng Phaolô Nguyễn Văn Bình” gồm hai nhánh nam và nữ. Ngoài ra, các Học viện khác của liên một số Dòng, hay của một Dòng nhưng có nhiều sinh viên từ các Dòng khác cùng theo học cũng đã thành hình và đi vào hoạt động. Cũng xoay quanh vấn đề đào tạo huấn luyện, hàng năm, ở nhiều nơi đã tổ chức những khóa bồi dưỡng cho liên tu sĩ các Dòng. Đây là kết quả nổi bật nhất về mối tương quan giữa các Dòng tu trong Giáo Hội Việt Nam.

Bên cạnh việc đào tạo, huấn luyện, các Dòng còn hợp tác với nhau cách đắc lực và sinh hiệu quả trong lãnh vực phục vụ qua loại hình công tác xã hội. Ngoài ra, trong những cuộc lễ lớn cấp Giáo phận hay quốc gia, các Dòng, nhất là các Dòng nữ, hợp tác với nhau và với Giáo phận trong việc tổ chức.

Như thế, suốt một thời gian dài khó khăn, trong xã hội, người tu sĩ như “công dân hạng hai”, các Hội Dòng đã liên kết với nhau vượt qua thử thách. Đứng về phía con người, kết quả đó là do các Tu Hội đời sống thánh hiến đã không sống một mình, nhưng tìm cách gắn bó với nhau. Hiện tại, xã hội đã thay đổi, tuy vẫn còn những cấm đoán, hạn chế, nhưng chính sách đã cởi mở hơn cho các Dòng tu thâu nhận đệ tử, xây dựng cơ sở bề thế hoành tráng. Từ thực trạng đó nảy sinh cái nhu cầu quay về với mình để củng cố, phát triển, vì sau bao năm khó khăn, cấm cách làm cho Hội Dòng tụt hậu không bằng chị, bằng em là rất lớn. Do đó, cũng ảnh hưởng đến mối bận tâm thiết lập tương quan giữa các Tu Hội để nâng tầm Đời thánh hiến lên bình diện chung phổ quát. Đây là điều rất cần lưu ý, cũng như lưu ý nữa là trong thời hiện tại, với hồng ân Chúa ban cho Giáo Hội Việt Nam dồi dào ơn gọi, các Hội Dòng cần có hướng đi thế nào để không “lãng phí” ơn ban của Ngài.

2. Tương quan với Giáo phận

Mối tương quan giữa các Tu Hội đời sống thánh hiến và Giáo phận được nói đến trong nhiều tài liệu giáo huấn của Hội Thánh. Chẳng hạn như Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 45; Tông huấn Đời sống Thánh hiến, các số 46 - 50; Giáo luật các số 628. 667 - 683; “Những yếu tố cốt yếu trong giáo huấn của Hội Thánh về đời tu”, các số 41 – 43; “Những Chỉ Dẫn Về Huấn Luyện”, mục D. Đặc biệt tài liệu “Các liên hệ hỗ tương giữa giám mục và tu sĩ trong Giáo Hội” (Mutuae relationes) của Bộ các Hội Dòng đời sống thánh hiến và Hiệp hội đời sống tông đồ, ban hành ngày 14 tháng 5 năm 1978 đã nói rất rõ. Với tài liệu này, mối tương quan hỗ tương giữa Giám mục và tu sĩ, trong đó cho thấy tương quan giữa Dòng tu và Giáo phận được trình bày một cách rất hệ thống, với phần đầu là những suy tư thần học mang tính chất nền tảng, thứ đến những nguyên tắc cùng với những vấn đề mà bản thân mối tương quan nhắm tới.

Thật ra, tất cả những gì liên quan đến đức tin, phong hóa, những gì liên quan đến con người đều là đối tượng cần được đưa ra bàn luận tìm phương cách thực hiện. Tuy nhiên, trong mối tương quan hỗ tương giữa Tu Hội và Giáo phận còn đó những “vấn đề nổi cộm” rất cần sự hướng dẫn và hợp tác để mau chóng giải quyết kịp thời, đó là những vấn đề liên quan đến huấn luyện, hoạt động tông đồ, truyền giáo, mục vụ, điều phối,… Dù vậy, ở mục này không có ý nói đến chi tiết từng vấn đề, mà chủ yếu đưa ra những trích dẫn từ giáo huấn của Hội Thánh, để thấy phải có ý thức trong đức tin và tình mến nào mới có thể sống mối tương quan hỗ tương đặc biệt phong phú giữa các Tu Hội đời sống thánh hiến và Giáo phận một cách đúng nghĩa là hồng ân Thiên Chúa ban cho Hội Thánh, làm sinh động Đời thánh hiến, tỏa hương thơm thánh thiện trong Hội Thánh địa phương, đáp ứng nhu cầu mục vụ và truyền giáo trước những đổi thay của xã hội đang biến chuyển từng ngày.

2.1 Cái gốc của mối tương quan

Thánh Phaolô diễn tả sự khác biệt nhưng lại là duy nhất của Hội Thánh Chúa Kitô khi ngài dùng hình ảnh nhiều bộ phận trong cùng một thân thể (x. Rm 12,5). Hiến chế Tín lý về Hội Thánh khẳng định sự hợp nhất của Dân Thánh “khơi nguồn từ sự hợp nhất của Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.[63] Hội Thánh là Dân Thiên Chúa. Một dân duy nhất có cùng một đức tin, một lối thờ phượng và một cách sống (luân lý) phổ quát trên mọi dân tộc, lãnh thổ, tồn tại hơn 2000 năm qua và tiếp tục trường tồn dựa trên lời Chúa Giêsu đã nói (x. Mt 16,18). Sự duy nhất đó “bao hàm sự hiệp thông hỗ tương trong đời sống giữa các thành phần”.[64] Để hiểu và sống mối tương quan hỗ tương này, cần nắm chắc điểm căn bản thuộc về bản chất Hội Thánh.

Hội Thánh là Dân Thiên Chúa, vừa là thực thể xã hội hữu hình, vừa là thực thể thiêng liêng vô hình, gắn kết với nhau không thể tách rời, làm thành một thực tại duy nhất. Đây là do ý muốn của Thiên Chúa, Người thực hiện chương trình cứu độ nhân loại không theo cách riêng lẻ mà qui tụ thành Dân mới,[65] nối kết nhau trong sự hiệp nhất của Thánh Thần.[66]Chính Chúa Thánh Thần là hồn sống, là nguồn ơn thánh hóa và là sức mạnh của sự phục vụ nơi Giáo Hội. Do đó, không thể lãnh hội thực tại Giáo Hội theo nhãn giới thuần túy xã hội, “Dân Thiên Chúa ở trong thế giới như bí tích hữu hình diễn tả cho mọi người biết sự duy nhất về mặt cứu độ”.[67] Vì sự duy nhất của Giáo Hội vượt quá phạm vi nhân loại nên chỉ trong “nhãn giới siêu việt mới có thể giải thích đúng đắn những liên lạc hỗ tương giữa các phần tử trong Giáo Hội với nhau”.[68]

Mặt khác, “sự hiệp thông giữa các phần tử trong Giáo Hội là hoa quả của Thánh Thần đến nỗi sự hiệp thông này giả thiết trước đó phải có sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô bao hàm lịch sử và sự vượt qua của Người […] Cho nên không thể có thái độ ngoan ngoãn thật với Thần Khí nếu không có sự trung thành với Chúa Kitô là Đấng cử Người đến […] Vì thế, sự hiệp thông giữa các thành phần trong Giáo Hội không hoàn toàn thiêng liêng, nghĩa là chỉ do Chúa Thánh Thần tạo nên và tự bản tính có trước các chức năng trong Giáo Hội do sự hiệp thông đó gây nên; nhưng sự hiệp thông đó mang tính cách phẩm trật, bởi vì phát xuất từ Đức Kitô là Thủ Lãnh do một sức thúc đẩy mãnh liệt”.[69]

Từ xác tín căn bản đó ta mới có thể hiểu và đón nhận cơ cấu phẩm trật trong Giáo Hội, đồng thời trong cơ cấu phẩm trật lại hành động một cách thiêng liêng, tức là tìm thánh ý Chúa để phục vụ cho toàn Thân Thể của Người, đúng như ơn gọi Kitô hữu “đòi hỏi mọi người phải lấy vị trí siêu việt của đời sống trong Thần Khí làm tiêu chuẩn cho việc tham dự vào sự hiệp thông trong Giáo Hội”.[70] Ở đây xin trích lại hai đoạn văn tiêu biểu cho thấy một cách cụ thể sự quân bình giữa hai chiều kích thánh thiêng và nhân loại trong một thực thể duy nhất là Hội Thánh Chúa Kitô:

- Đức Kitô là “Mục Tử muôn đời, đã tuyển chọn thánh Phêrô và các Tông Đồ cùng với các đấng kế vị của các ngài, nghĩa là Đức giáo hoàng và các Giám mục: Người dùng bí tích đặt các ngài làm đại diện của mình, ban cho các ngài những đặc sủng thích hợp; không ai có quyền thi hành các chức năng hoặc giáo huấn, hoặc thánh hoá, hoặc quản trị , nếu không thông phần và hiệp thông với các ngài”.[71]

“Thánh Thần là linh hồn của Thân Thể Giáo Hội. Không một thành phần nào trong Dân Thiên Chúa, dẫu có thừa tác vụ gì đi nữa, được thu gọn vào bản thân của mình các ân huệ, chức vụ và bổn phận một cách trọn vẹn, nhưng họ cần hiệp thông với kẻ khác. Trong Dân Thiên Chúa, các ân huệ hoặc chức vụ, tuy khác nhau, nhưng đều có cùng một mục đích và bổ túc cho nhau qua sự hiệp thông duy nhất và một sứ mạng duy nhất”.[72]

Trong thực tế, nhất là những lúc “cơm không lành canh không ngọt” khi nhìn vào “cơ cấu phẩm trật” của Hội Thánh, người ta chỉ thấy yếu tố “con người” và coi Hội Thánh như là của Đức Giáo Hoàng hay của Đức Giám mục mà quên đi Hội Thánh là của Chúa Kitô, Ngài thiết lập Hội Thánh như thế khi đặt thánh Phêrô làm đầu (x. Mt 16,19). Ngược lại, thái độ coi đoàn chiên như thực tại thuộc quyền sở hữu, tôi muốn làm gì thì làm, cũng là một cách làm sai không kém.

2.2. Những điều các Tu Hội cần ý thức và đón nhận trong tâm tình con thảo

Cái nhìn siêu nhiên. Đối với Đức Giám mục Giáo phận, các Tu Hội thánh hiến cần có cái nhìn siêu nhiên về bản thân và sứ vụ chăn dắt của các ngài. Vì “với tính cách là Đầu, Đức Kitô hiện diện trong thừa tác vụ của Giám mục”. Nơi con người của vị Giám mục, “Chúa Giêsu Thượng Tế hiện diện giữa anh em tín hữu. Các ngài thay mặt Đức Kitô là Thầy, là Mục Tử và là Thượng Tế và hành động nhân danh Người. Trong Hội Thánh Không có ai thực thi chức năng hữu cơ cốt yếu đưa đến sự phong phú, sự hiệp nhất, có quyền bính thiêng liêng và có ảnh hưởng trên tất cả các sinh hoạt của Hội Thánh cho bằng các Giám mục”.[73]

Tâm tình biết ơn. Trong tương quan hỗ tương, tâm tình biết ơn của Tu Hội thánh hiến thật xứng hợp, vì “qua tác động của Hàng Giáo phẩm, Thiên Chúa hiến thánh các tu sĩ để phục vụ Dân Thiên Chúa ở một mức độ cao hơn”. Bậc sống tu trì qua việc phê chuẩn được nâng lên bậc sống do Giáo luật quy định, và qua việc cử hành phụng vụ, “Giáo Hội còn trình bày việc khấn Dòng như một bậc sống được cung hiến cho Thiên Chúa”. Đồng thời, với tính cách là thành phần của Giám mục đoàn, các Giám mục cùng một lòng một ý với Đức Giáo Hoàng cùng thực thi những trọng trách: hướng dẫn cách thực hiện các lời khuyên Phúc Âm, phê chuẩn luật Dòng được đề nghị, tức là thừa nhận và trao phó cho các Tu Hội sứ mệnh riêng và khuyến khích dấn thân…[74]

Sự vâng phục. Thái độ vâng phục là điều tối quan trọng. Trong sắc lệnh “Nhiệm vụ mục tử của các Giám mục trong Giáo Hội” (Christus Dominus), thánh Công Đồng viết: “Tất cả các tu sĩ phải luôn thành tâm tuân phục và tôn trọng các Giám mục là những người kế vị các Tông Đồ […]. Mọi tu sĩ miễn trừ và không miễn trừ đều phải tùng phục Bản quyền địa phương trong những điều liên quan tới việc công khai tôn thờ Thiên Chúa, tới việc coi sóc các linh hồn, việc giảng huấn cho dân chúng và việc giáo dục tôn giáo, luân lý”,[75] cùng với việc thi hành phụng tự công cộng.[76] Các tu sĩ phải nhớ những qui định của tự sắc “Hội Thánh” (Ecclesiae Sanctae). Theo đó: “Tất cả các tu sĩ, kể cả những người được miễn trừ, đều phải tuân phục những luật lệ, sắc lệnh, chỉ thị của Bản quyền sở tại về những gì liên quan tới việc tông đồ, hoạt động mục vụ và xã hội mà Bản quyền sở tại dạy hoặc khuyến khích. Các tu sĩ còn phải tuân phục các luật lệ, sắc lệnh và chỉ thị của Bản quyền sở tại hay của Hội Đồng Giám Mục […] những luật lệ liên quan tới các yếu tố nói trên”.[77] Đối với Tu Hội miễn trừ “phải trau dồi trước hết một sự tuân phục đặc biệt đối với Đức Giáo Hoàng và các Giám mục, thực sự và sẳn sàng dùng sự tự do và hoạt động tông đồ của mình vào công cuộc phục vụ, phù hợp với đức vâng lời của người tu sĩ…”.[78] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc rằng: “Các Tu Hội không thể nại đến quyền tự trị chính đáng của mình, và thậm chí quyền miễn trừ mà nhiều Tu Hội được hưởng để biện minh cho những chọn lựa đi ngược lại những đòi hỏi của sự hiệp thông hữu cơ cần thiết cho đời sống lành mạnh của Giáo Hội”.[79]

Tấm lòng quảng đại“Các tu sĩ hãy mau mắn và trung thành hưởng ứng những lời thỉnh cầu và nguyện vọng của các Giám mục để lãnh nhận những vai trò rộng lớn hớn trong việc cứu độ con người, tuy vẫn phải duy trì đặc tính của Tu Hội thánh hiến và theo đúng Hiến Pháp”.[80] Cách riêng, “các tu sĩ linh mục, xét theo một phương diện nào đó, phải coi mình “thực sự thuộc hàng giáo sĩ của Giáo phận”.[81] “Những người tận hiến đừng quên quảng đại cộng tác với Hội Thánh địa phương”.[82]

2.3. Đấng Bản quyền Giáo phận

Bài viết khác