Thứ ba, ngày 19 tháng 09 năm 2017 | 11:45 PM - Giới thiệu | Ý nghĩa logo

Kết quả hình ảnh cho "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy

VÁC THẬP GIÁ 

Truyền giáo

LỊCH SỬ VA CÁC KHUÔN MẪU TRUYỀN GIÁO 2

6. Vài cố gắng hội nhập văn hoá ở Á Đông

Khi ôn lại các chặng đường loan báo Tin Mừng tại Châu Á vào thời cận đại, giữa thế kỷ XVI-XVII, chúng ta có cảm giác là đọc lại lịch sử của một cuộc thất bại nặng nề khi so sánh với những thành quả thâu lượm được tại Châu Mỹ. Tại sao vậy? Bởi vì các nước Châu Á (ngoại trừ nước Philippines) không phải là thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, cho nên không chịu ảnh hưởng của đường lối cưỡng bách cải đạo? Hay là tại vì những cuộc bách đạo dữ dội tại Châu Á đã làm ngăn cản việc trở lại đạo? Hay là vì kế hoạch “hội nhập văn hóa” của vài thừa sai đã thất bại?.[48]

Vấn đề hội nhập văn hóa đã được nêu lên trong huấn thị của vị tổng thư ký Bộ Truyền Giáo, Đức Cha Ingoli, gửi cho hai vị đại diện tông tòa tiên khởi tại Đông Dương: “Xin quý vị đừng nóng lòng thúc giục các dân tộc này hãy thay đổi nghi lễ, phong tục, lề thói của họ, trừ khi nào rõ ràng là chúng trái nghịch với tôn giáo và luân lý. Còn chi phi lý cho bằng đem sang Trung Hoa, Pháp, Tây Ban Nha, Italia hoặc một nước Châu Âu nào khác? Quý vị đừng du nhập quê hương chúng ta cho họ, nhưng hãy du nhập đức tin, đức tin không đẩy lui cũng không làm tổn thương các lễ nghi hoặc tập tục của dân nào, miễn là chúng không xấu (...) Quý vị đừng bao giờ so sánh các tập tục của các dân này với tập tục của Châu Âu; nhưng hãy nhanh chóng làm quen với chúng”. Dưới đây chúng tôi chỉ muốn thuật lại một vài khuôn mặt điển hình: Roberto De Nobili, Phanxicô Xavier, Alessandro Valignano, Matteo Ricci.

a/. Roberto de Nobili

Năm 1605 một người đặt chân lên hải cảng Goa mang một đường hướng tiếp cận Ấn Độ mới mẻ. Cho đến nay, người Bồ Đào Nha chỉ đi giảng đạo cho những giai tầng thấp kém bị khinh miệt. Cha de Nobili muốn đảo lộn hướng truyền giáo dựa theo phương pháp của cha Matteo Ricci ở Trung Hoa. Được phép của các bề trên, cha cải trang thành một Sanyassy (một giáo sĩ bà-la-môn khổ hạnh và độc thân), theo học tiếng phạn, và các sách thánh của Ấn giáo, biên soạn nhiều sách bằng tiếng Tamil, tuy vẫn không bỏ qua nhiệm vụ của nhà thừa sai. De Nobili đi từ nhận xét là trong một xã hội phân chia đẳng cấp chặt chẽ, các nhà thừa sai tiếp xúc với tầng lớp cùng đinh thì sẽ trở thành ô uế. Vì thế, nếu không muốn để cho Kitô giáo bị khinh miệt vì gắn bó với những người bần cùng, cần phải hướng đến các đẳng cấp danh giá hơn. Những sự chống đối đã nổi lên: cha đã gặp phải sự phản kháng của hàng giáo phẩm và sự khiển trách của Hồng y Roberto Bellarmino. Việc chấp nhận các đẳng cấp đi ngược lại sứ điệp Tin Mừng. Trong sách Apologia (biện hộ), cha tuyên bố rằng mình đã chủ ý loại trừ các đẳng cấp cùng đinh ra khỏi nhà nguyện, ngõ hầu Kitô giáo không bị khinh rẻ. Kể cả thánh Phanxicô Xavier cũng thú nhận rằng, sự nghèo khó không phải là một giá trị bên Nhật Bản. Những kết quả ban đầu không có gì khả quan. Phải sau một thời lâu dài, năm 1629, mới thấy được vài thành quả, và năm 1644 con số người trở lại là bốn ngàn, trong đó chỉ có 26 giáo sĩ Balamon. Cha de Nobili thật là lẻ loi: chỉ có 6 thừa sai đi theo cha, và từ năm 1675, chiến lược này hoàn toàn bị loại bỏ. Năm 1703, khi đặc sứ Tòa Thánh Charles Maillard de Tournon đến Ấn Độ, ngài đã nghiêm cấm các nghi điển Malabar mà các cha Dòng Tên đã gây dựng. Cuộc đụng độ tiếp diễn với các cha Dòng Cappucinô, những người đã công bố một đống tài liệu chống lại Dòng Tên.[49]

b/. Phanxicô Xavier[50]

Cha đã được tổng trấn Kagoshima tiếp đón niềm nở và được cấp phép tự do giảng đạo; điều này làm cho cha hết sức lạc quan. Qua các bức thư, người ta nhận thấy cha rất tôn trọng người Nhật: một dân tộc thông minh, có tính tự trọng, lễ độ, hiền hòa, uyên bác. Đối lại với những đức tính của người dân, ta cũng được biết phong hóa suy đồi nơi các nhà sư. Tuy vậy, cha Phanxicô không dám đối chiếu với các thành quả thu lượm ở bên Ấn Độ. Thực ra, thiện cảm của nhà cầm quyền được thúc đẩy không do lòng vị tha hoặc cởi mở đối với đạo mới, nhưng là vì tò mò muốn hiểu biết têm về một nền văn minh tiến bộ như Châu Âu, cũng như vì những món quá hiếm có từ Tây Phương mang đến. Tiếc rằng lòng nhiệt thành của vài người tân tòng đã gây phản ứng bất bao dung về phía chính quyền. Một vị tướng quân tức giận đã triệt hạ cả những đền thờ cổ truyền của Phật giáo và Thần đạo nữa. Thái độ bất bao dung, cùng với lời tố cáo buôn bán các nô lệ, đã trở thành lời cáo buộc của Hideyoshi chống lại các thừa sai, mở màn cho chính sách thù nghịch với Kitô giáo.

c/. Alessandro Valignano[51]

Khi cha Alessandro Valignano đặt chân lên đất Nhật năm 1579, vào lúc các thừa sai đang nóng lòng chờ đợi, và trong vòng ba năm cha đã hoàn thành một Chỉ nam, hướng dẫn thái độ cư xử đối với các phong tục địa phương. Tập chỉ nam này có thể xem như một thủ bản mà các thừa sai phải học hỏi để cư xử hợp với tâm thức của người Nhật. Chẳng hạn như không nên đi theo khuôn mẫu nghèo khó khắc khổ của các Dòng Hành Khất. Tại Châu Âu, đó là điều tốt, nhưng ở Nhật thì lại bị coi khinh. Tại một xứ mà người ta trọng danh giá địa vị, ta phải hết sức tránh những kiểu cách gây xúc phạm, chẳng hạn như phải nhường bước khi đi đường, đặt chỗ ngồi theo đúng vị thứ, hoặc chào hỏi theo phép lịch sự lúc đến hoặc lúc ra về.

Để bảo vệ phương pháp truyền giáo của mình, Dòng Tên tìm cách thuyết phục Roma để được giữ độc quyền truyền giáo tại Nhật, vì sợ rằng Dòng Phansinh sẽ mang lại nhiều khác biệt cho hại cho việc loan báo Tin Mừng. Cha Valignano cử một phái đoàn, gồm bốn nhà quý tộc trẻ được đào tạo ở chủng viện Dòng Tên tại Arima. Việc gửi phái đoàn sang Châu Âu đã gây nghi ngờ cho chính quyền trung ương, sợ rằng các lãnh chúa Kitô hữu liên minh với lực lượng nước ngoài. Năm 1587, Hideyoshi ra sắc lệnh cho giám tỉnh Dòng Tên, Gaspar Coelho, truyền tất cả các tu sĩ của Dòng phải rời nước này. Thái độ thiếu thận trọng của cha Coelho, quy tụ một liên minh các lãnh chúa Kitô hữu bất chấp sắc lệnh này, đã làm cho tình thình thêm căng thẳng. Khi trở lại Nhật, cha Valignano đã tìm giải pháp hòa hoãn hơn, nhờ vậy số tín hữu cũng gia tăng đôi chút. Tiếc rằng, do sự cạnh tranh giữa các Dòng tu cộng thêm âm mưu của ngoại bang, thập niên cuối thế kỷ XVI đã xoay vần tất cả dòng lịch sử của Giáo Hội tại Nhật. Một cuộc bách hại đã bùng nổ: ngày 5 tháng 2 năm 1597, 6 tu sĩ Phansinh, 3 tập sinh Dòng Tên, 17 tân tòng bị đóng đinh vào thập giá tại Nagasaki. Năm sau, Hideyoshi tạ thế. Đạo Công Giáo, sau một thời gian phục hồi (năm 1606 đã được 750.000 tín hữu), đã bước vào giai đoạn đi xuống.

Năm 1616, người ta đặt giá treo để bắt các thừa sai và giáo lý viên. Nhưng bất chấp những cuộc bách hại, các thừa sai tiếp tục hoạt động lén lút, nhờ sự bao che của các tân tòng. Năm 1622, cuộc tử đạo tại Nagasaki tái diễn. Danh sách các vị tử đạo tiếp tục kéo dài ở những năm kế tiếp. Có thể xem tiến trình thống nhất đất nước như là một nguyên nhân đưa đến sự suy tàn của Giáo Hội tại Nhật bản. Sự thống nhất được thực hiện bằng cách nhấn mạnh đến những yếu tố cổ truyền của dân tộc, và như thế, các thừa sai nước ngoài bị xem như những yếu tố phá hủy truyền thống này. Các sử gia còn nêu lên một nguyên nhân khác nữa: các thương gia Hà Lan (theo Tin Lành) đã rỉ tai về sự hiện diện của các nhà truyền giáo (Công Giáo) như là một hiểm hoạ chính trị sẽ tiếp tay cho đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

d/. Matteo Ricci

Con người của cha có liên hệ đến chuyện “lễ nghi Trung Hoa”: cha bênh vực cho tính hợp pháp các lễ nghi này, và cha đã gặp sự chống đối của các thừa sai thuộc các Dòng khác. Thực ra, kinh nghiệm của cha Matteo Ricci diễn ra trong một thời buổi khó khăn.[52] Đàng sau lập trường của đôi bên là các quan điểm khác nhau về phương pháp truyền giáo. Sự hiện diện của các cha Dòng Tên tại triều đình Bắc Kinh, chăm chú vào thiên văn, địa lý, toán học, khiến cho những nhà quan sát của Bộ Truyền giáo đâm ra sốt ruột, vì coi những công tác ấy không trực tiếp góp phần vào việc truyền giáo và không mang đến kết quả nào hết. Nhà sử học Giacomo Di Fiore nhận xét rằng, có lẽ người ta quên rằng việc chinh phục đế quốc Roma phải mất ba thế kỷ.[53] Tất cả những yếu tố này đưa đến sự thất bại của cuộc truyền giáo tại Trung Hoa, tuy đầy hứa hẹn vào lúc đầu, nhưng cuối cùng đã kết thúc với những cuộc bách hại, trục xuất, và xóa bỏ mọi di tích Kitô giáo.

Cha Matteo Ricci đặt “tình bạn” như là định hướng cho công cuộc truyền giáo tại Trung Hoa. Vì thế, cha đã viết một khảo luận ngắn về tình bạn (De amicitia), xuất bản tại Nam Kinh năm 1595 và đã thu lượm được nhiều thành công. Công cuộc truyền giáo phản ánh tình bạn, được diễn tả thành tính trung thực, tình hữu nghị đối với dân tộc Trung Hoa. Trong suốt 28 năm sống tại đây, cha cố gắng khuếch trương tình bạn hữu, qua thái độ trân trọng văn hóa ngàn năm của dân tộc này, qua việc thinh lặng nghiên cứu học hỏi các tác phẩm cổ điển, ngõ hầu khám phá ra cái gì là tốt là đẹp, để rồi quảng bá truyền thụ lại cho người ngoài. Tình bạn này được thể hiện qua việc không đặt điều kiện nào cho người Trung Hoa, khác với các thỏa ước thương mại của các đế quốc sau này vào hồi thế kỷ XIX và XX. Đây là một kinh nghiệm quý giá vẫn còn thách thức chúng ta ngày hôm nay.

7. Châu Phi: Việc loan báo Tin Mừng tại các nước thuộc địa giữa ánh sáng và bóng tối

Cuộc truyền giáo tại Châu Phi kể từ Hiệp định Berlin (1884-1885) cho đến những năm sau thế chiến thứ hai đã trải qua nhiều gian truân nhưng đã thâu lượm được nhiều thành quả. Năm 1920, có 31 Dòng nam (trong số này có 14 dòng truyền giáo vừa được thành lập) và 24 Dòng nữ làm việc tại Phi Châu. Các giáo lý viên bản xứ lên tới số hơn 9.500 người.[54]Người ta nhận thấy một sự gia tăng hoạt động truyền giáo chưa từng thấy tại Châu Phi, với những đặc tính sau đây:

a/. Tiến sâu vào trong nội địa;

b/. Phương pháp truyền giáo khá đồng nhất, tìm cách phối hợp việc loan báo Tin Mừng với sự thăng tiến con người;

c/. Học tiếng địa phương, chuyển dịch sách giáo lý và Kinh Thánh;

d/. Dạy chữ, mở trường học và các cơ sở bác ái, đào tạo các giáo lý viên và hàng giáo sĩ bản xứ.[55]

Một mẫu truyền giáo mới ra đời, xét về vị trí lãnh thổ, cách xây dựng, kỷ luật hàng ngày, rập theo mô hình đan tu. Vào thời ấy, chưa ai đề cập đến việc Phi-hóa các cơ cấu Giáo Hội, tuy đã hé ra vài khuynh hướng tiến đến chỗ đó.

Vài khía cạnh đặc trưng của việc truyền giáo tại Châu Phi. Việc thành lập các Giáo Hội địa phương thường gắn liền với lịch sử của mỗi Dòng tu, linh đạo cũng như phương pháp truyền giáo của các Dòng ấy. Vì thế các Giáo Hội địa phương lắm lần họa lại những sinh hoạt văn hóa chính trị của Châu Âu, tùy theo xuất xứ của các thừa sai. Việc gầy dựng các Giáo Hội Châu Phi cũng gặp không ít trở ngại: do thủy thổ, do tương quan với chính quyền thuộc địa, do sự thù nghịch từ phía Hồi Giáo và những nhóm buôn bán nô lệ, do sự canh tranh của các nhà truyền giáo Tin Lành.

Vài bóng tối. Tại vài nơi, công cuộc truyền giáo (về phía Công Giáo cũng như về phía Tin Lành) gắn liền với chế độ thuộc địa, gây ra sự lẫn lộn giữa truyền giáo và thực dân. Đó là trường hợp của các các vùng truyền giáo Tin Lành tại Uganda, Kenya, Rhodesia, Nam Phi, hoặc các vùng truyền giáo Công Giáo tại Congo Bỉ, một vài lãnh thổ Pháp và Bồ Đào Nha.

Chế độ ủy thác của Tòa Thánh (ius commissionis: nghĩa là giao một lãnh thổ truyền giáo cho một Dòng tu), một đàng đã giúp phát triển công tác truyền giáo, nhưng đàng khác đã hạn chế lãnh thổ ấy vì không được đón tiếp những sự phong phú thiêng liêng mà những Dòng khác có thể mang đến. Ngoài ra chế độ uỷ thác hầu như do chế độ thuộc địa áp đặt. Thường chính quyền thuộc địa đòi hỏi các dòng thừa sai phải có trụ sở tại cùng một nước, và các thừa sai phải là công dân của chính quyền nước ấy. Điều này giúp chính quyền thuộc địa dễ kiểm soát hoạt động truyền giáo. Chính sách ấy dẫn đến việc trục xuất các thừa sai người Đức khi các thuộc địa nước Đức cáo chung sau thế chiến thứ nhất. Các nước thuộc địa Pháp và Bỉ không cho phép các thừa sai thuộc Tây Ban Nha, Italia, Đức hoặc các nước khác đến giảng đạo. Các nước thuộc địa Tây Ban Nha và Italia chỉ chấp nhận các thừa sai người Pháp, Bỉ, Đức, Bồ Đào Nha, Anh, Tây Ban Nha và Italia. Đó là vài thí dụ.

Sau đệ nhất thế chiến, Châu Phi bắt đầu thu lượm những điều tiện ích cũng như những điều hàm hồ do việc tiếp xúc với Tây phương. Nếu một đàng, kỹ thuật tràn vào, thì đàng khác, nhiều truyền thống cha ông cũng bị mai một. Bất chấp những mâu thuẫn ấy, Kitô giáo tăng gia đều đặn.

Xét về phương diện phương pháp truyền giáo, giai đoạn này được đánh dấu bởi tầm quan trọng dành cho thời kỳ dự tòng, các giáo lý viên, và phương pháp truyền giáo gián tiếp qua các trường học, các cơ sở bác ái và thăng tiến nhân sinh. Xét về thế giới văn hóa của Châu Phi, người ta thấy những thái độ trái ngược: nhiều thừa đi thâu lượm tát các dữ kiện có ích lợi cho nhân học; trong khi phần lớn thừa sai có cái nhìn tiêu cực đối với các phong tục, tôn giáo cổ truyền của Châu Phi. Thái độ này dần dần được thay đổi từ sau Công Đồng Vatican II.

Kể từ thập niên 50 của thế kỷ XX, người ta chứng kiến những cuộc tranh đấu giành độc lập: không có gì khó hiểu khi việc gia tăng ý thức về quốc gia và văn hóa bản địa đưa đến thái độ bài ngoại. Những truyền thống văn hóa và tôn giáo được phục hồi đặt Giáo Hội trước nhiều vấn đề mới, đòi hỏi thay đổi phương pháp truyền giáo. Vai trò lãnh đạo Giáo Hội được giao cho người bản xứ; các Giám mục tụ họp nhau trong các Hội Đồng Giám Mục ở cấp quốc gia và lục địa (SECAM: Simposium of Episcopal Conferences of Africa and Madagascar), những hội nghị truyền giáo,v.v... Năm 1969, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói với đại hội các Giám mục Châu Phi họp tại Kampala rằng: “Quý vị hãy trở thành các thừa sai cho quốc gia quý vị”. Giáo Hội Châu Phi đã có những mục tử, những vị thánh người bản xứ, cũng như nền thần học riêng, tuy không tránh khỏi những hàm hồ mò mẫm trong giai đoạn khởi đầu.[56]

Để kết luận giai đoạn thuộc địa này, tôi muốn giới thiệu khuôn mẫu của anh Charles de Foucauld. Giữa thời thuộc địa cực thịnh, anh đã mang Đức Kitô đến với những người ngoại đạo với phương pháp mà anh đặt trên môi miệng của Chúa như sau: “Con hãy đặt mang nhà tạm và bàn thờ của Ta đến ở giữa những người không biết Ta. Con hãy mang Tin Mừng không phải qua việc giảng thuyết bằng lời nói mà qua gương sáng, không phải qua việc công bố Tin Mừng mà qua việc sống Tin Mừng”. Khuôn mẫu “sứ vụ ẩn dật” này đã được tiếp tục nơi chị Annalena Tonelli, một giáo dân thừa sai ở Somalia, bị ám sát ở Somalia vào đầu tháng 10 năm 2003, mà cho đến nay người ta chưa rõ nguyên nhân. Chị Annalena bị thu hút vởi linh đạo của anh Foucauld: chị rời bỏ quê hương Italia đi Phi châu như một giáo dân (chứ không làm nữ tu), chấp nhận cảnh khó nghèo (không được ai hỗ trợ), chia sẻ cuộc đời phục vụ giữa những người nghèo thuộc Hồi Giáo, lúc đầu tại Kenya và sau đó tại Somalia. Một năm trước khi qua đời, nhân dịp ngày quốc tế chí nguyện viên họp ở Vatican, chị đã miễn cưỡng lên phát biểu chứng tá của mình như sau: “Tôi muốn đi theo Đức Giêsu, và tôi lựa chọn sống nghèo giữa người nghèo. Vì Người, tôi chọn lựa một đời sống nghèo triệt để mặc dù tôi biết rằng mình không thể thực sự hoàn toàn nghèo giống như một người nghèo. Tôi làm một công tác không tên tuổi, không có sự an toàn của một Dòng tu, không thuộc về một tổ chức nào không có tiền lương, không có bảo hiểm tuổi già. Tôi không lập gia đình bởi vì tôi đã vui vẻ chọn lựa như vậy hồi còn trẻ. Tôi muốn thuộc trọn về Thiên Chúa. Tôi ra đi để loan báo Tin Mừng bằng cuộc sống theo gương của anh Charles de Foucauld, một người đã nung nấu trót đời tôi. Sau ba mươi năm, tôi chỉ loan báo Tin Mừng bằng đời sống của mình, mà tôi ước ao tiếp tục như vậy cho đến cùng. Đó là động lực thâm sâu trong tôi, cộng thêm sự say mê con người bị tổn thương và bị loại trừ mặc dù không đáng phải chịu như vậy, dù con người ấy thuộc về bất cứ chủng tộc, văn hoá, tín ngưỡng nào đi nữa”.

KẾT LUẬN

Các tin khác

    (Trang 1/3)    1 2 3
Bài viết mới
ƠN GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI
ƠN GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI
Cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo, ngay cả khi họ xấu xa
Cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo, ngay cả khi họ xấu xa
Đức Thánh Cha tiếp Tổng tu nghị dòng Thừa Sai Thánh Tâm
Đức Thánh Cha tiếp Tổng tu nghị dòng Thừa Sai Thánh Tâm
Uỷ ban Giáo dân: Gặp gỡ các Linh mục Trưởng ban Giáo dân của Giáo tỉnh Sài Gòn
Uỷ ban Giáo dân: Gặp gỡ các Linh mục Trưởng ban Giáo dân của Giáo ...