DẪN NHẬP

 

Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với Hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành.[1]

 

Hình ảnh cây nho và cành nho trong Phúc âm khai mở cho ta thấy lời mời gọi phải lớn lên và không ngừng tăng trưởng để luôn mang lại hoa trái: "Ta là cây nho thật, và Cha Ta là người trồng nho. Cành nào ở trong Ta mà không sinh hoa trái, Cha Ta sẽ chặt nó đí, cành nào sinh hoa trái, Ngài cũng tỉa bớt đi cho càng sai trái hơn".  Sinh lực của các cành nho tùy thuộc vào sự nối kết với thân cây, là Chúa Giêsu Kitô: "Ai ở trong Ta và Ta ở trong người ấy, người đó sẽ sinh nhiều hoa trái; vì ngoài Ta ra, các con chẳng làm được gì.”  Những lời Chúa Giêsu nhằm nói đến trách nhiệm vừa kinh hoàng vừa phấn khởi: "Nếu ai không ở trong Ta sẽ bị quăng ra như cành khô héo, người ta sẽ thu lại bỏ vào lửa mà đốt đi”. 

 

Đặc biệt, sau khi mô tả việc đào tạo người Kitô hữu như "một tiến trình liên tục của cá nhân để trưởng thành trong Đức Tin, và để nên giống với Đức Kitô theo ý muốn của Chúa Cha dưới sự dìu dắt của Chúa Thánh Thần", Tông Huấn quả quyết minh bạch rằng: "Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ, làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sỹ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này".[2]

 

Việc đào tạo các tín hữu giáo dân nhằm mục tiêu cơ bản là tìm ra ơn gọi riêng tư của mỗi người, để càng ngày càng tỏ lộ và làm cho mỗi người luôn sẵn sàng hơn nữa để sống ơn gọi đó, hầu chu toàn sứ mệnh riêng của mình.[3]  Việc khám phá và thực hiện ơn gọi và sứ mệnh cá nhân đối với người tín hữu giáo dân đòi buộc phải được đào tạo để sống trong hợp nhất.  Họ đã mang ấn tín của sự hợp nhất này ngay trong chính bản tính của họ là thành phần của Giáo Hội và công dân của xã hội loài người.[4]

 

Trong cuộc đời của họ không thể có hai lối sống song song: một bên là "thiêng liêng" với những giá trị và những bó buộc riêng; bên kia là “trần thế”, nghĩa là gia đình công việc làm ăn, tương giao xã hội, dấn thân làm chính trị, sinh hoạt văn hoá. Nhánh nho được ghép vào cây nho là Chúa Kitô mang hoa trái trong tất cả các lãnh vực sinh hoạt và cuộc sống.

 

Thật vậy, tất cả các lãnh vực của đời sống giáo dân đều quy hướng vào ý định của Thiên Chúa.  Ngài muốn tất cả chúng ta phải là "môi trường lịch sử" để Đức ái của Chúa Kitô được mặc khải và thể hiện cho vinh danh Chúa Cha, và phục vụ anh em mình. Tất cả các sinh hoạt, các hoàn cảnh, các cuộc dấn thân cụ thể, khả năng và liên đới trong công việc làm ăn, tình yêu và sự tận tụy trong gia đình hay trong việc giáo dục con cái, dịch vụ xã hội và chính trị, việc triển khai chân lý trong thế giới của văn hóa, tất cả những việc đó là cơ hội được quan phòng để thể hiện "việc thực hành liên tục Đức Tin, Đức Cậy và Đức ái".[5]

 

Công Đồng Vaticanô II đã kêu gọi người tín hữu giáo dân hướng đến sự hiệp nhất đó, và mạnh mẽ tố giác tính cách nghiêm trọng của việc phân tách giữa Đức Tin và đời sống, giữa Phúc âm và văn hoá: "Công Đồng khuyến khích người Kitô hữu, công dân của nước trần thế và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của mình một cách nhiệt tình, trung tín, và vâng theo sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm. Những ai, từng biết rằng mình không có được nước vĩnh cửu dưới trần thế này, nhưng đang tiến về vương quốc tương lai, lại cho rằng có thể coi thường những nghĩa vụ làm người của mình, và không nhận ra rằng chính Đức Tin, tùy vào ơn gọi của mỗi người làm cho những nghĩa vụ đó trở thành một bổn phận khẩn thiết.

 

Những người như thế đi xa khỏi chân lý. Ngược lại, những người tin rằng có thể quên mình hoàn toàn cho các sinh hoạt trần thế, cho hành động như thể các sinh hoạt đó hoàn toàn xa lạ với cuộc sống tôn giáo của họ, một cuộc sống được họ giới hạn vào việc thực hành việc phụng tự và một vài điều bó buộc có tính cách đạo đức cố định. Những người này cũng lầm lẫn không kém.

 

Tách rời Đức Tin mà họ tuyên xưng khỏi cách xử sự hằng ngày của một số đông Kitô hữu hiện nay kể là một trong những lầm lẫn nghiêm trọng của thời đại chúng ta đang sống."[6]  Vì thế, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quả quyết rằng : “Một Đức Tin không trở thành văn hóa là một Đức Tin "không được tiếp nhận đầy đủ, không được suy nghĩ thấu đáo, không được sống một cách trung tín."[7]

 

Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)



[1]
Công Đồng Vat. II, Sắc Lệnh Truyền Giáo, 21.

[2] Tông Huấn, Người Kitô Hữu giáo Dân, 57.

[3] Ibid., 58.

[4] Ibid., 59.

[5]Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4

[6]Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, 43, xem SL. Ad Gentes 21; Phaolô VI- T.H: Evangelii Nuntiandi, 20; AAS 68 (1976) 19.

[7]Gioan-Phaolô II, Diễn văn đọc trước những người tham dự Hội nghi của phong trào dấn thân văn hóa trong Giáo hội (M.E.I.C) (16-01-1982). Insegnamenti V,1 (1982) 131. Cũng xem thư gửi Hồng Y Agnostinô Casaroli, Quốc vụ khanh, thiết định qui chế của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa (20-5-1982): AAS 74 (1982), 685- Diễn văn đọc trước Cộng đồng đại họe Louvain ( 20- 5- 1985): Insegnamenti VIII -1 (1985) 1591.

Bài viết khác