1. NHẬN THỨC

Truyện kể rằng.

Một hôm, có người học trò đầy tâm huyết. Trước khi ra trường, anh đã đến một “Thầy Minh Triết”, để xin “Lời-Khôn-Ngoan”. Như khuôn vàng thước ngọc. Hầu làm hành trang lên đường cho cả đời mình.

Không may. Hôm ấy lại nhằm ngày tịnh khẩu. Nên Thầy lấy giấy và viết: “Nhận Thức”. Người học trò nhận lấy. Đọc xong. Rất đỗi ngạc nhiên, nhìn Thầy: “Thưa Thầy, vắn tắt quá. Xin thầy vui lòng giải thích rộng hơn chút nữa”. 

Thầy lấy lại tờ giấy. Viết tiếp: “Nhận thức, nhận thức, nhận thức”. Người học trò nhíu mày. Vẻ tràn ngập ưu tư, anh khẩn thiết hỏi: “Nhận thức là gì, thưa Thầy?” “Thầy Minh Triết” lại ghi trên giấy: “Nhận thức, nhận thức, nhận thức: nhận thức”. 

Ba lần viết, chỉ vỏn vẹn bốn chữ “Nhận Thức”. Quả thực, điều chúng ta không hiểu và không có ý thức, chúng ta sẽ nén nó lại. Chúng ta không thay đổi. Nhưng khi đã hiểu biết, tự nó sẽ thay đổi[1]

Công bằng mà nói, giáo sĩ và tu sĩ đã có sự đóng góp mang tính quyết định trong những thiên niên kỷ trước. Cũng vậy, theo cái nhìn tiên tri của Công Đồng Vat. II, người giáo dân sẽ có một vai trò nổi bật trong thiên niên kỷ mới. Như thế, thực sự có phải Giáo dân là mùa xuân của Hội Thánh ngày mai không? 

Khi Họ được nhận thức, thì sao?

1.1.Thánh Giao Hoang Pio X, trong buổi triều yết, Ngài đã hỏi các Hồng Y: “Hiện nay, điều gì là cần thiết hơn cả, để cứu vãn tình trạng suy sụp của Hội Thánh và thế giới?  Lần lượt các Hồng Y trả lời. Người thì nói là cần xây dựng nhiều trường học; cần xây thêm thánh đường; cần khuyến khích công việc tuyển trạch nghiêm ngặt hàng giáo sĩ…” Đức Thánh Cha trả lời: “Tất cả đều không đúng.”  Và Ngài nói: “Điều cần thiết nhất trong lúc này, là mỗi xứ đạocần phải có một nhóm Giáo dân, với Đức Tin vừa rất đạo đứcvừa rất khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng, tự tin, kiên quyết và có tinh thần tông đồ thực thụ.”[2]

1.2. Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có Hàng Giáo Dân đích thực và nếu Hàng Giáo Dân này chưa cùng làm việc với Hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một Dân Tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của Giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một Hàng Giáo Dân Kitô giáo trưởng thành.[3]

1.3. Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ. Làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sĩ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này.[4]

1.4. Theo quan điểm Nho Giáo về “Trọng Dân,” Đức Khổng Tử viết trong Kinh Thi rằng: “Dân duy Bang bản.” Có nghĩa là: “Dân là gốc của Nước.” 

Khi nhìn thấy sức mạnh như nước lũ của “Người Nông Dân” lật đổ nhà Tùy, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) đã dậy con mình rằng: “Thuyền ví với Vua, nước ví với Dân. Nước có thể chở thuyền, mà cũng có thể lật thuyền.” 

Sách Mạnh Tử dậy: “Dân vi quí, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh.” Có nghĩa là: “Dân là quí nhất, rồi đến Quốc Gia, Vua được xem nhẹ.”

Những tư tưởng “Trọng Dân” này đã ảnh hưởng tới quan điểm lãnh đạo “Trọng Dân” của Việt Nam. Nguyễn Trãi, một danh nhân văn hoá Việt Nam, khi tiễn Cha là Nguyễn Phi Khanh qua Tàu, đến Ải Nam Quan, ông có làm bài thơ tựa đề là “Quan Hải,” trong đó có câu: “Phúc thủy tín Dân do thủy.” Có nghĩa là “Thuyền bị lật mới tin câu nói Dân như nước.”

Vì thế, nếu muốn phát triển Giáo Hội, người làm mục vụ không nên bỏ qua quan điểm “Trọng Dân.” Hơn nữa quan điểm này cũng là hướng đi của Công Đồng Vat.II, khi định nghĩa “Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.”

Nhận thức được như thế, chúng ta sẽ không ngần ngại đầu tư vào việc đào tạo “Hàng Giáo Dân.” Nguồn nhân lực cho tương lai lâu dài của Giáo Hội.

Trọng Dân cũng chính là trọng Anh Tài trong Dân, vì Dân tin vào Anh Tài. Người ta thường coi Anh Tài là “Nguyên Khí dựng Nước.”

Anh Tài trong dân, được ví như “Tông Đồ Giáo Dân;” như “Người Giáo Dân Lãnh Đạo;” như “Chim Đầu Đàn.” Vì thế, chúng ta có thể nói: “Tông Đồ Giáo Dân, Người Giáo Dân Lãnh Đạo, Chim Đầu Đàn là “Nguyên-Khí” nhất định cùng góp phần dựng nên Mùa Xuân Hội Thánh” trong Thiên Nên Kỷ Mới.

2. ĐÀO LUYỆN HÀNG GIÁO DÂN THỜI NAY

2.1. MÔ HÌNH ĐÀO LUYỆN

- Mến Chúa

- Yêu Người

- Loan Báo Tin Mừng.

ĐÀO LUYỆN MẾN CHÚA: Nên giống Chúa

2.2.1. Phúc Âm:“Hãy đến và học với tôi”

"Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền lành và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

2.2.2. Thực hành:Giới răn Mến Chúa

               “Hiền lành và Khiêm nhường.”

ĐÀO LUYỆN YÊU NGƯỜI: Theo chỉ dạy của Chúa

2.2.3. Phúc Âm: “Dụ ngôn người Samari tốt lành”

Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.

Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.

Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:

"Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác".

Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?"

Người thông luật trả lời:

"Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy".

Ðức Giêsu bảo ông ta:

"Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."

2.2.4. . Thực hành: Giới răn Yêu Người

“Liên Đới -Trách Nhiệm” và “Yêu Thương -Phục Vụ.”

 

ĐÀO LUYỆN TRUYỀN GIÁO

(Thực thi hai giới răn: “Mến Chúa và Yêu Người.” Qua con đường truyền giáo mới của Hội Thánh: “Đối thoại và Hoà giải” với Thiên Chúa và với con người.)

“Đối thoại và Hoà giải”với Thiên Chúa.

2.2.5.  Phúc Âm: Truyền Tin

 Bà Elisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. (33) Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!"

Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.

Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói". Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

2.2.6. . Thực hành: “Đối thoại và Hoà giải” với Thiên Chúa.

“Đối thoại và Hoà giải” với con người.

2.2.7. Phúc Âm: Ðức Ma-ri-a viếng thăm bà Ê-li-sa-bét

Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được trần đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."

Bài Ca "Ngợi Khen" (Magnificat)

Bấy giờ bà Maria nói:

"Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,

thần trí tôi hớn hở vui mừng

vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.

Phận nữ tỳ hèn mọn,

Người đoái thương nhìn tới;

từ nay, hết mọi đời

sẽ khen tôi diễm phúc.

2.2.8. Thực hành:

Theo gương Mẹ, Cùng với Chúa Giêsu, Đối Thoại và Hòa Giải với con người:  

3. Phương pháp:“Cầu Nguyện - Cảm Nghiệm.”

3.1. Ý nghĩa

Đây là phương pháp cầu nguyện áp dụng nguyên tắc mục vụ của Công Đồng Vat.II: “Thực tại và Ân sủng;” “Khoa học và Hội thánh.”

Thực tại là những giá trị khoa học: Dựa vào tâm lý học, sư phạm, mục tiêu.

Ân sủng là Hội Thánh: Dựa vào những giá trị thánh thiện, đạo đức, siêu nhiên.

3.2. Mục đích: Chuyển đổi Đức tin truyền thống, cộng đồng trờ thành Đức tin xác tín bản thân, sống động và cá vị.

3.3. Nội dung

- Bước 1: (8 cặp chữ Vàng)

. “Con nhìn Chúa. Chúa nhìn con.”

. “Con yêu mến Chúa.”

. “Xin Chúa biến đổi con nên giống Chúa:Hiền Lành và Khiêm Nhường.”

. “Xin Chúa thực hiện Thánh Ý Chúa nơi con:Sống Liên Đới Trách Nhiệm và Yêu Thương Phục Vụ.”

. “Qua con đườngĐối Thoại và Hòa Giải.”

Im lặng 1 phút.

 - Bước 2: (Kết hợp với Chúa bằng Trí)

. “Thầy là cây nho, các con là cành, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái, cành nào lìa cây sẽ khô héo liền, các con hãy ở trong tình yêu của Thầy;”

. “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được.”

Im lặng 1  phút.

  • Bước 3: (Kết hợp với Chúa bằng Tâm)

. “Con sống trong Chúa như cá trong biển.”

 . “Chúa sống trong con như kho tàng trong nhà.”

 . “Con và Chúa nên một, như bột dậy men. Như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt, bất ngờ và lạ lùng.” (1)

Im lặng 1  phút.   

-Lời nguyện tự phát: (Kết qủa khi Tâm và Trí quyện lại sẽ trở thành Ý chí = Theo Chúa.)

 “Lạy Chúa Giêsu, con đang ở với Chúa. Con yêu mến Chúa. Con cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen và tôn vinh Chúa. Khi về với cuộc sống đời thường, con quyết tâm sống theo Lời Chúa và Gương Chúa.  Xin Chúa trợ giúp con sống bền vững điều con quyết tâm.” 

- Kết thúc: (Quyết tâm trở nên giống Chúa: 8 cặp chữ vàng)

. Lặp lại bước 1

. “Con nhìn Chúa. Chúa nhìn con.”

. “Con yêu mến Chúa.”

. “Xin Chúa biến đổi con nên giống Chúa:Hiền Lành và Khiêm Nhường.”

. “Xin Chúa thực hiện Thánh Ý Chúa nơi con:Sống Liên Đới Trách Nhiệm và Yêu Thương Phục Vụ.”

. “Qua con đườngĐối Thoại và Hòa Giải.”

 . Đọc kinh Lạy Cha: (rất chậm, vừa đọc vừa suy)

. Xin ơn Thánh Thần(Giơ cao hai tay)

“Xin Chúa Giêsu sai Thánh Thần đến với con. Cùng với Mẹ Maria, con đón nhận Thánh Thần. Xin Thánh Thần ban ơn: Khôn Ngoan, Sức Mạnh và Tầm Nhìn cho con.

Cho con ơn khôn ngoan để phục vụ Dân Chúa; cho con ơn sức mạnh để loan báo tin vui và cho con tầm nhìn cùng mọi người vươn tới tương lai.

Xin Chúa Giêsu sai Thánh Thần đến với con. Cùng với Mẹ Maria, con đón nhận Thánh Thần. Xin Thánh Thần ban ơn: Khôn Ngoan, Sức Mạnh và Tầm Nhìn cho con.”

Nhận xét

Kinh nghiệm thực hiện trong một năm, tôi cảm nghiệm được sự Thiên Chúa biến đổi nội tâm và trong mục vụ. Bản thân an vui, nhẫn nại, hiền hòa, nhân hậu, trung tín, yêu thương. Hay nghĩ tới hạnh phúc mọi người, mong ước họ bớt khổ.

Tóm lại, cảm thấy trở nên người mới trong Chúa Giêsu và mới với mọi người. Hiện nay, tôi tiếp tục thực hành, và phổ biến phương pháp cầu nguyện này, mỗi khi có dịp giúp tĩnh tâm.

Cảm nghiệm theo thánh Bernard và Đức Cố Viện Phụ Giuse Chu Công.

1. Trước hết, Con sống trong Chúa,” như cá trong biển.

Một ngày kia, cá con hỏi cá mẹ rằng:

 “Biển là gì?”

Cá mẹ nói:

 “Từ khi chào đời, con đã sống trong biển. Biển là tất cả những gì bao bọc con. Con hằng đùa giỡn trong biển. Nếu không có biển, thì loài cá chúng ta sống sao được!”

2. Thứ đến, “Chúa sống trong con,” như kho tàng quí giá trong nhà.

Mấy năm gần đây, ở vùng quê tiểu bang Oklahoma. Có hai vợ chồng già sống trong một căn nhà nghèo nàn. Một hôm, có kỹ sư tới nhà, xin khoan một lỗ để xem có dầu ở dưới nền nhà bếp của ông bà không.

May mắn, kỹ sư đã tìm ra dầu và bơm lên hàng ngàn thùng dầu.

Sau đó hai ông bà trở nên giàu có và sống đàng hoàng ở phố “Easy Street.”

Một ngày kia, nhớ lại vận may, ông cụ thốt ra câu:

“Chỉ nghĩ đến cái gì nằm dưới chân đã đủ sướng!”

3. Sau cùng, “Con và Chúa nên một

Như bột dậy men, như cục than đen, như thanh sắt han gỉ, được đặt trong lò lửa yêu mến, sẽ được Chúa biến đổi một cách nhẹ nhàng mà mãnh liệt; bất ngờ và lạ lùng.

Ở chân núi Khôn Ngoan, có bà cụ mở quán trà giải khát. Bất kỳ tu sĩ nào hỏi bà, phải đi lối nào để lên núi Khôn, bà đều trả lời:

“Cứ đi thẳng.”

Nhưng khi họ đi thẳng, thì bà lại bảo họ là:

“Coi có vẻ khôi ngô, nhưng sao lại quẹo ngang như thế, thật là khờ dại, vụng về!”

Tại sao vậy?

Con đường đưa tới Núi Khôn là con đường thẳng đưa tới sự khôn ngoan ở trong tâm trí ta, không phải ở ngoài ta.

Như lời Chúa Giêsu dạy:

“Nước Thiên Đàng ở trong các con.”

Và: “Này chị, giờ đã đến, khi người tôn thờ Chúa không còn thờ Chúa trên núi này hay núi nọ; những ai tôn thờ thực sự sẽ tôn thờ trong tinh thần và chân lý.” “Và nước mà Ta cho chị sẽ trở nên mạch nước trào lên từ lòng chị tới sự sống đời đời.”

4. Hệ quả: Ta sống trong Chúa và Chúa sống trong ta, như hạt sương tan biến trong biển cả, như chim bay trong bầu trời, như cá bơi lặn trong đại dương. Chúa trở nên một với linh hồn. Một lối sống được thay đổi sâu xa. Hạnh phúc cho linh hồn có Chúa ở trong họ, linh hồn sống với Chúa, sống cho Chúa và được chuyển biến bởi Chúa.

Đúng như cảm nghiệm của thánh Phaolô:

“Bây giờ không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi.”

Mục tiêu: Được Chúa biến đổi nên giống Chúa; nên đồng hình đồng dạng với Chúa.

4. Kết luận: Thức Tỉnh Người Giáo Dân Thiên Niên Kỷ Mới

Có một câu chuyện nổi tiếng. Kể về một con sư tử. Hắn đến bên đàn cừu. Và rất đỗi ngạc nhiên khi nhận ra ở giữa đàn cừu đó có một con “Cừu - sư tử”. Con “Cừu - sư tử” này vốn được đàn cừu nuôi dưỡng từ khi còn bé. Nó cũng kêu be be và cũng chạy quanh như một chú cừu.

Con sư tử sục thẳng tới chỗ nó. Và khi đối diện với sư tử-thật, chàng sư tử-cừu run lẩy bẩy. Sư tử-thật bảo nó: “Chú mày làm gì giữa đám cừu này?” Sư tử-cừu đáp: “Tôi là một con cừu”. Sư tử-thật bảo: “Ồ, không phải thế đâu. Chú mày theo ta”. Thế là nó đưa chàng sư tử-cừu đến một ao nước trong veo gần đó và bảo: “Chú mày nhìn đi nào!”

Vừa khi trông thấy rõ hình ảnh mình phản chiếu dưới mặt nước, sư tử-cừu gầm lên vang dội. Nó phóng rất mạnh ra khỏi hàng rào giữ cừu, biến vào rừng !

Ngay lúc đó, nó đã được biến đổi.

Nó không bao giờ quay lại với sự ngộ nhận trước đây của mình nữa[5].

Câu chuyện mang nhiều ý nghĩa.

Nhưng ở đây chỉ có mục đích:

Chứng minh sức mạnh của sự Thức Tỉnh : Người Giáo Dân Thiên Niên Kỷ Mới.

Người tín hữu giáo dân đã tự nhận ra mình: “Thật đáng tin, đáng trân quý, và tràn đầy sức mạnh”. Họ là thành phần trong Gia Đình Dân Thiên Chúa. Là chi thể của Nhiệm thể Chúa Kitô. Nhờ bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, họ trở nên con cái Thiên Chúa. Họ được mời gọi nên thánh. Và được chia sẻ bình đẳng trong các sứ vụ của Chúa Kitô “Tư tế, Tiên tri, và Vương đế”. Như mọi tín hữu khác trong Giáo Hội. Nhưng khác biệt của họ là tính cách trần thế[6].

Giữa thế trần, họ có phận sự và sinh hoạt trần thế, tuy không độc quyền[7]. Trong môi trường xã hội, họ được trao ban ân sủng và khả năng riêng biệt để noi theo Đức Kitô trong tinh thần tám mối phúc thật. Họ được mời gọi tiến bước trong sự thánh thiện với đời sống thiêng liêng riêng biệt, kết hợp với Chúa Kitô và hiện diện trong thế giới. Ơn gọi tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa[8].

Tóm lại, họ có ơn gọi và sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo, nhưng tham dự và chu toàn với cách thế riêng. Như tham dự vào việc phụng vụ bằng chức vụ tư tế chung; vào nhiệm vụ ngôn sứ của Đức Kitô bằng chứng tích đức tin, cộng tác viên của chân lý; vào chức vương đế bằng việc làm cho nước Thiên Chúa ngày càng lan rộng qua việc làm và hoạt động trong thế giới[9].

Quyền lợi và bổn phận làm tông đồ. Nhân chứng cho Đức Kitô trong đời sống và trong nghề nghiệp. Nỗ lực thánh hoá bản thân và rao giảng Phúc Âm cho thế giới[10].

Nhiệm vụ riêng của họ là thực thi công bình bác ái để canh tân trật tự thế giới. Nghĩa là đem luật Chúa và tinh thần Phúc Âm Đức Kitô, thấm nhuần thế gian, để thế gian được biến đổi theo ý Thiên Chúa, như men trong bột.

Họ phải diễn tả nếp sống mới trong môi trường xã hội để niềm tin và đời sống Giáo Hội không còn xa lạ với xã hội nhưng thấm nhiễm và cải hóa xã hội đó. Họ làm cho Giáo Hội hiện diện giữa trần thế. Cho các giá trị Kitô giáo và nhân bản thấm nhiễm vào các phương tiện truyền thông xã hội. Họ cộng tác với những người thiện chí, theo đuổi phát triển nhằm mục đích chung.

Để đạt được mục đích này, Hàng Giáo Dân cần lưu tâm tới vai trò của Chúa Thánh Thần. Thầy dạy duy nhất của Giáo Hội. Giáo Hội chú tâm tới việc đào luyện Giáo Dân. Tự bản thân Giáo Dân đào luyện chính mình. Theo nguyên lý « Đơn Giản Hóa .» Tập trung vào Mô Hình « Mến Chúa, Yêu Người, Truyền Giáo. » Cụ thể, thực hành 8 cặp chữ vàng : « Hiền Lành - Khiêm Nhường ; Liên Đới -Trách Nhiệm và Yêu Thương - Phục Vụ ; Đối Thoại và Hòa Giải. » Với phương pháp : « Cầu Nguyện và Cảm Nghiệm. »

Chúa Kitô Huyền Nhiệm đang sống, sẽ Tỏa Sáng nơi Người Kitô Hữu Thần Bí - Tâm Linh thời đại  mới. Nhất định Hàng Giáo Dân được Đào Luyện sẽ cùng góp phần làm nên Mùa Xuân Hội Thánh và Quê Hương Việt Nam, ngàn năm thứ Ba.

Ngày 1/03/2019

Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)

 

N.B..

Thân gởi Giới trẻ và Thiếu nhi:

1. Tục ngữ Latinh: Non uno; semper duo - nghĩa là: Không một - luôn hai - Không nên đi một mình; luôn luôn đi hai người.

2. Thành công trong Đời

Thực hành: “Hứa thì giữ; nhận thì làm; làm theo lương tâm.”

Tránh: “Tham lam lam; tức giận; vội vàng.”

3. Thành công trong Đạo

Thực hành: Tin Chúa Kitô Đang Sống và Ngài đang dạy con

« Hiền Lành - Khiêm Nhường ; 

« Liên Đới -Trách Nhiệm và Yêu Thương - Phục Vụ ; »

« Đối Thoại và Hòa Giải. »

Với phương pháp : « Cầu Nguyện và Cảm Nghiệm. »

 



[1]Anthony De Mello, S.J., Awareness, Image Books – Doubleday, 1992, 66.

1. Dom J.B. CHAUTARD, L’ Âme de Tout Apostolat, Paris, Lyon, 1912, p. 168.

2. Công Đồng Vat. II, Sắc Lệnh Truyền Giáo, 21.

3. Tông Huấn, Người Kitô Hữu giáo Dân, 57.

[5]Anthony De Mello, S.J. Thức Tỉnh, Image Books – Doubleday 1992, 67-68.

[6]Công Đồng Vat. II, GH, 31-32. 43; TĐ 2, 29; TG 15.

[7]Ibid., MV, 43.

[8]Ibid., GH, 31, 41; , 4.

[9]Ibid., GH, 31, 34, 35, 36; , 2, 7, 10; MV, 43.

[10]Ibid., , 2, 3; TG, 21, 15; GH, 31, 35.

Bài viết khác