TỦ SÁCH THĂNG TIẾN GIÁO DÂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIÁO DÂN HỢP TUYỂN

 

SỐ 7 THÁNG 6/2013 VỚI CHỦ ĐỀ

 

GIÁO DÂN VỚI THÁNH KINH LÀ LỜI MẠC KHẢI

 


LỜI NGỎ

 

NỘI DUNG

 

 

 

 

GIÊRÔNIMÔ NGUYỄN VĂN NỘI

 

VÀ NHÓM BẠN THỰC HIỆN

 

 

 

 

Địa chỉ liên lạc

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Email: hnoivnguyen@yahoo.ca

Điện thoại: 098 648 0337

download:/files/GIAO_DAN_HOP_TUYEN_SO_7_(06_2013).pdf

 

 


LỜI NGỎ

 

Sau Giáo dân hỢp tuyỂN(GDHT)số 6 với chủ đề là GIÁO DÂN CẦU NGUYỆN, trong đó đã có một số bài liên quan tới Thánh Kinh, chúng tôi muốn cống hiến  thêm cho quý độc giả một số đề tài khác về Thánh Kinh. Vì thế mà chúng tôi chọn chủ đề GIÁO DÂN VỚI THÁNH KINH LÀ LỜI MẶC KHẢI cho Giáo dân hỢp tuyỂNsố 7 này.

 

Có 2 lý do rất đơn gian và dễ hiểu: một là tầm quan trọng của Thánh Kinh trong đời sống và sứ mạng của Giáo Hội và của các Ki-tô hữu; hai là tình trạng kém hiểu biết về Thánh Kinh của đại đa số giáo dân Việt Nam.

 

Trong số báo này, trước hết các bạn sẽ tìm thấy một số bài có tính giáo lý, và định hướng mục vụ về Thánh Kinh để học hỏi, như «Kỷ niệm 40 năm Công Đồng Vaticanô II công bố Hiến Chế Lời Thiên Chúa», «Tầm quan trọng của Thánh Kinh trong đời sống Giáo hội và Ki-tô hữu», «Thư Mục Vụ 2005 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Sống Lời Chúa», «Công bố Tông Huấn Verbum Domini trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội», «Thế nào là Lời Chúa?» và «Thánh Kinh là gì?»

Kế đến các bạn sẽ có dịp đọc một số bài có tính thực hành hay sống Thánh Kinh như «Đọc Kinh Thánh đều đặn», «Đặt Kinh Thánh trong tầm tay», «Tôn kính Thánh Kinh».

Kế tiếp các bạn có thêm một bài có tính nghiên cứu : «Tính chất độc đáo của Thánh Kinh», và một bản tin về khảo cổ: «Cổ bản Kinh Thánh Cựu Ước mới được tìm thấy» để thêm lòng yêu mến Thánh Kinh.

Và sau cùng là bài giới thiệu « Chương Trình Thánh Kinh Muối cho Đời» trong năm học 2013-2014 tại Học Viện Mục Vụ Sài-gòn.

 

Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng con và cho công việc khiêm tốn của chúng con.

 

Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho những ai đón nhận công trình nhỏ bé này và quảng bá nó hầu làm vinh danh Chúa!

 

Nguyện xin Chúa chúc lành cho các Lớp/Khóa Thánh Kinh đang được tổ chức trong các đại chủng viện và các học viện, trong các trung tâm mục vụ và giáo xứ trong Năm Đức Tin này.

         

 

Sài-gòn, ngày 14 tháng 06 năm 2013

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội và Nhóm Bạn


NỘI DUNG

 

LỜI NGỎ

03

NỘI DUNG

05

«KHÔNG BIẾT THÁNH KINH LÀ… KHÔNG BIẾT CHÚA KI-TÔ»

06

KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II CÔNG BỐ HIẾN CHẾ MẶC KHẢI «LỜI THIÊN CHÚA»

09

TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI VÀ KI-TÔ HỮU

19

THƯ MỤC VỤ NĂM 2005 CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM SỐNG LỜI CHÚA

23

CÔNG BỐ TÔNG HUẤN «VERBUM DOMINI» VỀ LỜI CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

35

LỜI CHÚA LÀ GÌ?

50

THÁNH KINH  LÀ GÌ?

55

ĐỌC KINH THÁNH ĐỀU ĐẶN

61

ĐẶT KINH THÁNH TRONG TẦM TAY

65

TÔN KÍNH THÁNH KINH

77

TÍNH CHẤT ĐỘC ĐÁO CỦA THÁNH KINH

93

CỔ BẢN KINH THÁNH CỰU ƯỚC MỚI ĐƯỢC TÌM THẤY

108

GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH THÁNH KINH “MUỐI CHO ĐỜI”

111

ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC & THÔNG BÁO CHỦ ĐỀ GDHT SỐ 8

118

CÁC SỐGIÁO DÂN HỢP TUYỂN ĐÃ PHÁT HÀNH

119


“KHÔNG BIẾT THÁNH KINH

LÀ KHÔNG BIẾT CHÚA KI-TÔ”

 

Ai trong chúng ta cũng đều biết câu nói trứ danh «Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Ki-tô» của Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục tiến sĩ Hội Thánh (340-420). Để hiểu ý nghĩa và trọng lượng của câu nói trên của thánh nhân, chúng ta nên biết qua về cuộc đời của ngài.

«Cuộc đời của Thánh Giê-rô-ni-mô nối liền với lòng đạo đức, thánh thiện và sự từ bỏ không ham gì lợi danh trần thế. Lịch sử ghi rằng: Thánh Giê-rô-ni-mô sinh ra trong một gia đình ngoại giáo, Ngài chưa hề biết Chúa, Ngài cất tiếng khóc chào đời tại Stridon, miền Dalmatie thuộc nước Nam Tư. Lớn lên vì gia đình có tiền bạc, có thế giá, thánh nhân được gửi đi du học ở Roma, tại đây Ngài được lãnh nhận bí tích rửa tội trở thành con Chúa và con của Giáo Hội. Với lòng nhiệt tình, hiếu học, Ngài đã tốt nghiệp sau những năm dài miệt mài học tập. Cha mẹ nào lại không muốn cho con mình thành tài và có danh trong xã hội. Chính vì thế, cha của Ngài bắt Ngài trở về quê hương để làm việc cho triều đình tại Trêve, nhưng thánh nhân đã tìm các từ chối. Thánh nhân cảm nghiệm sâu xa lời Chúa: "Hãy từ bỏ, hãy về bán hết của cải, phân chia cho kẻ nghèo khó, rồi đi theo Ta".

«Thánh nhân đã đi rao khắp Palestina và sau cùng ẩn tu trong sa mạc Syrie để đắm mình trong chiêm niệm, suy nghĩ về thân phận con người và phúc lộc quê trời. Ngài miệt mài học, nghiên cứu Thánh Kinh.

«Rời sa mạc Syria, Ngài được Giáo Hội cất nhắc và được lãnh nhận sứ vụ linh mục. Và vào năm 382, Đức giám mục Paulinô mời Ngài cùng đi Roma để tham dự Công đồng. Nhờ tài đức, sự thánh thiện và trí thông minh, Ngài được vô số người ái mộ. Đức Thánh Cha Đa-ma-sô đã đặt Ngài làm bí thư riêng của Người và trao cho Ngài trách nhiệm nghiên cứu phiên dịch Thánh Kinh sang tiếng La-tinh. Ngài thông thạo nhiều thứ tiếng: La-tinh, Hy-lạp, Do-thái và Chaldée. Thánh nhân sửa chữa các bản dịch Thánh Kinh theo nguyên bản Hy-lạp. Bản Vulgata tiếng La-tinh vẫn còn được Giáo Hội dùng cho mãi tới ngày hôm nay.

«Thánh nhân có tấm lòng quả cảm, thái độ cương quyết: Ngài đả phá những thái độ quá khích và sai lạc của một số tu sĩ. Ngài đề cao đức khiết tịnh và lấy Thánh Kinh làm cơ sở, nền tảng, căn bản cho đời sống tu đức. Đời luôn không xuông xẻ như con người nghĩ tưởng, thánh nhân thành công nhiều, nhưng đó cũng là cái cớ cho nhiều người ghen ghét Ngài.

«Năm 385 sau khi Đức Giáo Hoàng Đamasô tạ thế, Ngài trở về Palestina sống những ngày cuối đời tại Bêlem. Năm 393, Ngài phải đương đầu quyết liệt với một thầy Dòng Giovênê về đức khiết tịnh và tranh luận với ông Origène về những vụ án sai lầm có liên quan đến tín lý và tinh thần Phúc Âm của Chúa Ki-tô.

«Năm 420, quân Hung nô tiến chiếm Palestina, phá hủy Tu Viện của Ngài tại Bêlem và Ngài đã tạ thế tại đây. Xác của Ngài được đem về Rôma và chôn cất trong đại thánh đường Đức Bà Cả. Thánh nhân đã được thưởng công và Đức Giáo Hoàng Bonifaciô VII suy tôn Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh.

«Các tư tưởng của thánh nhân để lại luôn xuất phát từ nguồn Phúc Âm. Ngài luôn đi theo giáo lý chân chính của Chúa Giê-su và Hội Thánh. Chính vì thế, cuộc đời của thánh nhân luôn họa lại hình ảnh đích thực của Chúa Ki-tô. Ngài đã có tấm lòng từ bi nhân hậu của Chúa, nhưng Ngài cũng rất quả cảm khi đứng trước những con người chống phá Hội Thánh và đi ngược lại tinh thần Phúc Âm. Ngài đã thực hiện như lời Chúa phán, Chúa dậy và hành động quả cảm như Chúa Giê-su khi Ngài đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền Thờ.

«Thánh nhân được Giáo Hội tán dương vì sự trung thành của Ngài đối với Chúa, đối với Giáo Hội  Việc Ngài được Đức Thánh Cha Bonifaciô VII suy tôn lên bậc tiến sĩ Hội Thánh nói lên rằng Ngài đã để lại cho Giáo Hội và nhân loại những chỉ dẫn, những tư tưởng lỗi lạc nhưng hoàn toàn thuần túy bắt nguồn từ Phúc Âm. Ngài xứng đáng được Giáo Hội tán dương.»

 

GDHT SỐ 7

(Dựa vào bài viết về Thánh Giê-rô-ni-mô của linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

 

 

 


KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II CÔNG BỐ HIẾN CHẾ VỀ MẶC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA DEI VERBUM (18/11/1965 - 2005)

 

Năm 2005 là chẵn 40 năm Công Đồng Va-ti-ca-nô II kết thúc. Có thể nói Công Đồng này là biến cố quan trọng nhất của lịch sử Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ 20. Chỉ ít tháng sau khi lên kế vị Toà Thánh Phê-rô, ngày 25-01-1959 Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã công bố ý định triệu tập Công Đồng. Sau một thời gian chuẩn bị, Công Đồng đã khai mạc ngày 11-10-1962 và sau 4 kỳ họp, mỗi kỳ kéo dài chừng 2 tháng, trong các năm 1962, 1963, 1964, 1965, với khoảng 2000 - 2500 Giám mục từ khắp nơi trên thế giới về tham dự, Công Đồng đã bế mạc ngày 08-12-1965.
            Thành quả cụ thể của Công Đồng là, sau những cuộc tranh luận nhiều khi rất sôi nổi, có 16 văn kiện chính thức được công bố. Các văn kiện này đề cập đến các mặt khác nhau trong đời sống Giáo Hội và được chia thành 3 loại xếp theo tầm quan trọng : 4 hiến chế, 9 sắc lệnh, 3 tuyên ngôn.

            Văn kiện về Lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh Dei Verbum thuộc loại thứ nhất và mang tên là “Hiến chế tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa” (tạm gọi tắt là Hiến chế về Mặc khải). Chúng ta tìm hiểu vắn tắt Hiến chế này.

 

I. NGUỒN GỐC

Ngay từ những thế kỷ đầu của Giáo Hội, Kinh Thánh vẫn được suy gẫm và học hỏi. Nhưng từ giữa thế kỷ 19, việc nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp phê bình - lịch sử đã đặt ra nhiều vấn đề mới, gây nên những phản ứng bất ổn.

Trong hoàn cảnh đó, năm 1943, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII ban hành thông điệp Divino afflante Spiritu để cổ vũ các học giả Công Giáo nghiên cứu Kinh Thánh; tuy nhiên vẫn còn một số người dè dặt. Mặt khác, có một số yếu tố thúc đẩy việc học hỏi Kinh Thánh, như phong trào mục vụ Kinh Thánh, canh tân phụng vụ, việc thành lập những hiệp hội Kinh Thánh Công Giáo, và những tiếp xúc giữa các học giả Công Giáo và Tin Lành.

Trong bối cảnh đó, Uỷ ban chuẩn bị Công Đồng đã soạn ra một lược đồ “Về các nguồn mặc khải”. Lược đồ này được đưa ra thảo luận trong kỳ họp I của Công Đồng (1962). Cuộc tranh luận khá sôi nổi. Các ý kiến không thuận chiếm đa số vì cho rằng lược đồ quá bảo thủ. Vì thế Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã giao cho một Uỷ ban khác soạn lại. Công việc kéo dài ba năm, mãi đến kỳ họp IV (tức kỳ họp cuối cùng) của Công Đồng, lược đồ mới được đưa ra thảo luận và được công bố ngày 18-11-1965 với 2344 phiếu thuận và 6 phiếu chống : đó là Hiến chế về Mặc khải.

 

II. NHỮNG NÉT CHÍNH CỦA HIẾN CHẾ

Hiến chế về Mặc khải không dài lắm (so với Hiến chế về Giáo Hội hay Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay), gồm có 26 số chia thành 6 chương:

ch. I : Về chính mặc khải (số 2-6);

ch. II : Việc lưu truyền mặc khải (số 7-10);

ch. III : Ơn linh hứng và việc giải thích Kinh Thánh (số 11-13);

ch. IV : Cựu Ước (số 14-16);

ch. V : Tân Ước (số 17-20);

ch. VI : Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội (số 21-25).

Ở đây chúng ta không thể tóm lược lại các nét chính của Hiến chế, chỉ nêu ra hai điểm.

 

1. Ơn linh hứng và việc giải thích Kinh Thánh

Vấn đề này được trình bày ở ch. III (số 11-13), trước hết Hiến chế nói ơn linh hứng là gì :

“Trong việc soạn thảo các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ, mà họ vẫn sử dụng tài năng và sức lực của mình, để nhờ chính Chúa hành động trong họ và qua họ, họ viết ra, với tư cách là những tác giả đích thực, tất cả những gì Chúa muốn và chỉ viết những điều đó thôi” (số 11).

Hiệu quả của ơn linh hứng là : Kinh Thánh dạy sự thật, nhưng không phải bất cứ loại sự thật nào (khoa học, lịch sử, địa lý…), mà là sự thật dẫn đến ơn cứu độ :
“Phải nhìn nhận rằng : các sách Kinh Thánh dạy cách vững chắc, trung tín và không sai lầm, sự thật mà Thiên Chúa, vì ơn cứu độ chúng ta, đã muốn được ghi lại trong Kinh Thánh” (số 11).

Tiếp đó, Hiến chế nói về việc giải thích Kinh Thánh, tức là tìm xem Thiên Chúa muốn nói gì qua lời các tác giả thánh:

“Để tìm ra chủ ý của các tác giả thánh, giữa những cái khác cũng phải xét đến các ‘thể văn’; vì sự thật được trình bày và diễn tả cách khác nhau trong các bản văn lịch sử, hoặc sứ ngôn, hoặc thi ca, hoặc trong những thể văn khác. Do đó, nhà chú giải cần phải tìm tòi ý nghĩa mà tác giả thánh, trong những hoàn cảnh nhất định, tuỳ theo điều kiện thời đại và văn hoá riêng, đã có ý diễn tả và đã diễn tả qua những thể văn thời đó quen dùng” (số 12).

Nói cách khác, việc giải thích cần phải xét đến bối cảnh lịch sử và tôn giáo trong đó các bản văn Kinh Thánh đã hình thành. Ngoài ra còn phải lưu ý đến tính duy nhất của Kinh Thánh, truyền thống sống động và phán quyết của Giáo Hội.

Qua những đường hướng trên, Hiến chế về Mặc khải đã thúc đẩy mạnh mẽ khoa nghiên cứu Kinh Thánh trong giới Công Giáo.

 

2. Mục vụ Kinh Thánh

Toàn bộ chương cuối cùng của Hiến chế nói về tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội (số 21-25) :

“Giáo Hội đã luôn luôn tôn kính Kinh Thánh cũng như đã tôn kính chính Thánh Thể Chúa : nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Thánh Chúa Ki-tô mà trao cho các tín hữu. Luôn luôn Giáo Hội đã coi và còn coi Kinh Thánh là quy luật tối cao cho đức tin của mình (...). Vì vậy tất cả việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính đạo Ki-tô phải được Kinh Thánh dưỡng nuôi và hướng dẫn” (số 21).

Từ những nhận định căn bản trên đây, Hiến chế đưa ra những hướng dẫn cụ thể :

 

a. Dịch Kinh Thánh

“Lối vào Kinh Thánh cần phải rộng mở cho các tín hữu Ki-tô (...). Vì thế Giáo Hội, như một người mẹ ân cần, liệu sao để có những bản dịch thích hợp và chính xác sang các ngôn ngữ khác nhau, nhất là dịch từ nguyên văn các Sách Thánh.” Hiến chế cũng khuyến khích cộng tác dịch Kinh Thánh chung với các anh em thuộc các Giáo Hội khác (số 22)

 

b. Nghiên cứu Kinh Thánh

Hiến chế khuyến khích các nhà nghiên cứu thần học và Kinh Thánh kiên trì tiếp tục làm việc “hầu có thể cung cấp hữu hiệu cho dân Thiên Chúa lương thực Kinh Thánh soi sáng trí khôn, tăng cường ý chí, thiêu đốt lòng người ta yêu mến Thiên Chúa” (số 23).

 

c. Giảng dạy dựa trên Kinh Thánh

Hơn nữa, “việc học hỏi Kinh Thánh phải như là linh hồn của khoa thần học. Cả thừa tác vụ Lời Chúa - nghĩa là việc giảng thuyết của các mục tử, dạy giáo lý và toàn bộ giáo huấn Ki-tô giáo, trong đó bài diễn giảng trong phụng vụ phải chiếm địa vị quan trọng - cũng được nuôi dưỡng cách lành mạnh và tươi tốt cách thánh thiện nhờ lời Kinh Thánh” (số 24).

 

d. Học hỏi và suy gẫm Kinh Thánh

Vì “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô” (thánh Giê-rô-ni-mô), nên Hiến chế ân cần khuyên nhủ các hạng người trong Giáo Hội : giáo sĩ, linh mục, phó tế, giáo lý viên, tu sĩ và mọi Ki-tô hữu, học được “sự hiểu biết tuyệt vời Chúa Giê-su Ki-tô” (Pl 3,8) qua việc tiếp xúc với chính bản văn thánh : trong phụng vụ, trong việc suy gẫm, qua các lớp học, hoặc bằng những phương tiện khác. Nhưng lời cầu nguyện phải đi kèm theo việc đọc Kinh Thánh để có cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì “khi cầu nguyện, ta nói với Chúa; còn khi đọc lời Kinh Thánh, ta nghe Chúa nói” (thánh Am-rô-xi-ô).

 

Sau cùng, Hiến chế nhắc nhở nhiệm vụ của các giám mục là đào tạo cho các tín hữu biết sử dụng Sách Thánh nhờ những bản dịch có kèm những chú thích cần thiết. Hơn nữa còn nên xuất bản Kinh Thánh với những ghi chú thích hợp, tiện dụng cho cả những người ngoài Ki-tô giáo (số 25).

 

III. 40 NĂM SAU HIẾN CHẾ

Có thể nói Hiến chế về Mặc khải đã mở một giai đoạn mới trong liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo với Kinh Thánh.

1. Việc nghiên cứu và dịch Kinh Thánh

Các học giả Công Giáo bớt cảm thấy bị gò bó trong công việc và có thể mạnh dạn nghiên cứu các phương pháp tiếp cận Kinh Thánh mới. Vì Giáo Hội không dè dặt như xưa, mà trái lại khuyến khích người Công Giáo đọc Kinh Thánh, nên các bản dịch có nhiều hơn, thích hợp cho các loại đọc giả khác nhau. Ở một số nước, người Công Giáo đã cộng tác với những anh chị em Ki-tô hữu khác để soạn những bản dịch đại kết (x. II 2 a trên đây).

 

2. Trong đời sống Giáo Hội

Có thể nói : điểm quan trọng nhất là từ nay Kinh Thánh có một vị trí chủ yếu trong phụng vụ. Trước cuộc canh tân phụng vụ của Công Đồng, thì số các bài Kinh Thánh dùng trong thánh lễ rất ít, lại đọc bằng tiếng La-tinh, hoạ may sau đó bài “Evan” (Tin Mừng) Chúa nhật được đọc bằng tiếng địa phương. Từ sau Công Đồng, thánh lễ cử hành bằng tiếng địa phương và số lượng các bài Kinh Thánh được chọn cũng rất phong phú, nên người giáo dân dù không đọc Kinh Thánh riêng cũng được nghe khá nhiều. Vấn đề là bản dịch phải vừa chính xác vừa dễ hiểu, và họ phải được giúp đỡ để nắm được ý nghĩa và đưa vào cuộc sống cá nhân.

Các văn kiện của Công Đồng cũng nhấn mạnh đến vai trò của Kinh Thánh trong những lãnh vực khác của đời sống Giáo Hội, cách riêng trong khoa thần học và trong việc đào tạo linh mục.

Như đã nói trên (II 2 c), “việc học hỏi Kinh Thánh phải như là linh hồn của khoa thần học”. Các môn thần học, nhất là thần học tín lý và thần học luân lý, phải “thấm nhuần giáo lý Kinh Thánh nhiều hơn” (Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, số 16).

Đặc biệt môn học Kinh Thánh, trước đây được coi như môn học “phụ” trong chương trình các chủng viện và học viện, nay được chú trọng hơn.

Hơn nữa, Kinh Thánh không phải chỉ là một đề tài để học, mà còn phải đi vào đời sống nữa. Vì thế, nhiều văn kiện Công Đồng nhắn nhủ mọi hạng người trong Giáo Hội : linh mục, giáo sĩ, tu sĩ, chủng sinh, phó tế, giáo lý viên, thừa sai và mọi Ki-tô hữu phải năng đọc, học hỏi và suy gẫm Lời Chúa để nhận được ánh sáng và sức mạnh cho đời sống tâm linh và hoạt động tông đồ.

 

3. Mục vụ Kinh Thánh

Mục vụ Kinh Thánh phát triển mạnh mẽ trong Giáo Hội nhằm cung cấp những phương tiện để học hỏi, suy gẫm và sống Lời Chúa. Các bản dịch Kinh Thánh với nhiều trình độ giải thích ra đời. Các nhóm chia sẻ Lời Chúa, các lớp học Kinh Thánh - đôi khi dưới hình thức hàm thụ - được tổ chức. Các hình ảnh, triển lãm, hoạt cảnh về Kinh Thánh v.v. cũng được sử dụng. Ngoài ra, các phương tiện mới nhất, như máy vi tính, internet cũng được dùng để phổ biến Lời Chúa.

 

Để phối hợp và nâng đỡ mục vụ Kinh Thánh, Liên Hiệp Kinh Thánh Công Giáo (Catholic Biblical Federation) được thành lập năm 1969 với mục đích quy tụ các tổ chức Công Giáo phục vụ Lời Chúa. Hiện nay Liên Hiệp có 92 tổ chức là thành viên thực thụ, và 219 thành viên liên kết, thuộc 127 nước. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục là thành viên thực thụ, và Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ là thành viên liên kết. Tháng 09-2005, để đánh dấu 40 năm Hiến chế về Mặc khải, Liên Hiệp Kinh Thánh Công Giáo phối hợp với Hội đồng Giáo hoàng Cổ vũ sự Hợp nhất Ki-tô hữu, tổ chức tại Rô-ma Hội nghị Quốc tế với đề tài “Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội”. Hai thành viên Việt Nam cũng được mời tham dự.

 

4. Huấn thị về việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội

Huấn thị này do Uỷ Ban Giáo Hoàng về Kinh Thánh công bố năm 1993 để kỷ niệm 50 năm Đức Pi-ô XII ban hành Thông Điệp Divino afflante Spiritu (xem I trên đây). Huấn thị này trước hết trình bày và đánh giá các phương pháp tiếp cận mới trong khoa chú giải Kinh Thánh; sau đó nhắc lại những nguyên tắc căn bản của việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, và việc sử dụng Lời Chúa trong phụng vụ, trong đời sống cá nhân và trong mục vụ. Văn kiện khá quan trọng này có lẽ chưa được học hỏi và khai thác đúng mức.

5. Tại Việt Nam

Hiệu quả rõ nhất của Hiến chế là thúc đẩy việc thực hiện các bản dịch tiếng Việt. Trong 6 bản dịch toàn bộ Kinh Thánh do các tác giả Công Giáo ấn hành từ đầu thế kỷ 20 đến này, có đến 4 bản được in sau năm 1964. Đó là các bản dịch của cha Trần Đức Huân (1970), của cha Nguyễn Thế Thuấn (1976), của Hồng Y Trịnh Văn Căn (1985) và của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Nhóm này bắt đầu dịch Kinh Thánh từ năm 1971 và cho đến nay đã ấn hành được 200.000 cuốn Kinh Thánh trọn bộ và 1.285.000 cuốn Tân Ước; hiện Nhóm đang làm công việc hiệu đính toàn bộ bản dịch và các chú thích.

 

Ngoài ra, nhiều sách vở tài liệu khác giúp học hỏi và suy niệm Lời Chúa cũng được ấn hành. Sau cùng, cũng nên nhắc tới sự kiện ngày càng có nhiều lớp học hỏi Kinh Thánh, nhóm chia sẻ Lời Chúa, v.v...

 

THAY LỜI KẾT

Qua cái nhìn sơ lược và chắc chắn còn thiếu sót trên đây, chúng ta thấy Hiến chế về Mặc khải đã mở đầu một giai đoạn mới cho vai trò của Kinh Thánh trong mọi mặt của đời sống Giáo Hội, và ước nguyện của Hiến chế cho “kho báu mặc khải đã được trao gửi cho Giáo Hội ngày càng đổ đầy tâm hồn con người” (số 26), đang dần dần thực hiện.

 

Tuy nhiên, còn quá nhiều công việc phải làm trong một thế giới đang biến chuyển từng ngày, với bao vấn đề được đặt ra, như : môi trường và thiên tai, toàn cầu hoá, sự cách biệt giàu - nghèo, bạo lực và khủng bố, khủng hoảng của các Giáo Hội, đối thoại liên tôn và liên văn hoá, v.v. Các tín hữu làm thế nào để thấy được trong Lời Chúa những đường hướng giúp suy nghĩ và tìm ra câu trả lời cho các vấn đề của thế giới hôm nay ?

01-07-2005
 

Lm A. Trần Phúc Nhân(VietCatholic News 10/09/2005)

 

[Sưu tầm của GDHT]

 

 

 

 

 

 


TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÁNH KINH       TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI & KI-TÔ HỮU

[Chương VI Hiến Chế Mạc Khải của Công Đồng Va-ti-can II]

 

21. Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Kinh Thánh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Kinh Thánh phân phát cách bất di bất dịch Lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Tiên Tri cùng các Tông Đồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Kinh Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực thế, trong các sách Thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cưông Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội. Bởi thế, lời nói sau đây thật xứng hợp cho Kinh Thánh: «Thực vậy, Lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm» (Dt 4,12), «Có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hóa» (Cv 20,32; x.  1Tx 2,13). 

22.  Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các Kitô hữu.  Chính vì thế mà từ buổi đầu, Giáo Hội đã công nhận như của riêng mình bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy lạp, một bản văn rất cổ và được gọi là bản dịch do 70 người.  Ngoài ra Giáo Hội còn luôn tôn trọng các bản dịch của Đông Phương hay các bản dịch La-tinh, nhất là bản thường gọi là bản «Phổ Thông». Vì phải đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại, Giáo Hội như một người mẹ ân cần lo liệu cho các Sách Thánh được dịch ra các thứ tiếng thích hợp và đứng đắn, đặc biệt dịch từ nguyên bản.  Mọi Kitô hữu có thể sử dụng những bản dịch được thực hiện chung với cả những anh em ly khai trong trường hợp thuận tiện và được giáo quyền chấp nhận.

23.  Hiền thê của Ngôi Lời nhập thể, tức Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, hằng cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày càng sâu rộng hơn, hầu không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình.  Do đó, Giáo Hội có lý khi khuyến khích việc học hỏi các thánh Giáo Phụ Đông Phương và Tây Phương cũng như các Phụng Vụ thánh. Phần các nhà chú giải Kinh Thánh công giáo và những người chuyên về Thần Học Thánh phải ân cần lo lắng, dưới sự trông nom của Quyền Giáo Huấn thánh, và dùng những phương thế thích hợp, để nghiên cứu và trình bày Kinh Thánh, để cung ứng nhiều Thừa Tác Viên Lời Chúa hết sức có thể, hầu lương thực Kinh Thánh được dồi dào ban bố cho dân Chúa, để soi sáng trí khôn, kiên trì ý trí và nung đốt lòng người yêu Chúa.  Thánh Công Đồng khuyến khích các con cái Giáo Hội đang chuyên cần học hỏi những khoa học Kinh Thánh, hãy tiếp tục theo đuổi công trình đã khởi sự cách tốt đẹp với những năng lực ngày được đổi mới, và tất cả hăng say hợp với cảm thức của Giáo Hội.  

24. Khoa thần học dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền như dựa vào một nền tảng vĩnh viễn.  Trên nền tảng này, thần học  được củng cố hết sức chắc chắn và mãi mãi được trẻ trung trong khi tìm kiếm, dưới ánh sáng đức tin, mọi chân lý tiềm ẩn trong mầu nhiệm Chúa Kitô.  Kinh Thánh chứa đựng Lời Chúa và thực sự là Lời của Chúa, vì được linh ứng. 

Nên nghiên cứu Kinh Thánh phải là linh hồn của khoa Thần Học thánh.  Thừa tác vụ Lời Chúa – nghĩa là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lý và huấn dụ Kitô giáo, trong đó bài giảng phụng vụ phải chiếm một chỗ quan trọng – phải được nuôi dưỡng cách an lành và gia tăng sinh lực cách thánh thiện nhờ lời Kinh Thánh.

25. Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Kinh Thánh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành «Kẻ huênh hoang rao giảng lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe lời Thiên Chúa trong lòng». Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy năng đọc Kinh Thánh để học biết «khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô» (Ph 3,8).  «Vì không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô». Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Kinh Thánh, nhờ Phụng Vụ Thánh dồi dào Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ sốt sắng đọc Kinh Thánh hay nhờ những tổ chức học hỏi thích hợp, hoặc bất cứ phương thế nào mà ngày nay đã được các Chủ Chăn trong Giáo Hội chấp thuận và ân cần phổ biến khắp nơi. Nhưng mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì «Chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh». 

Các Giám Mục là những người «gìn giữ giáo lý tông truyền» có bổn phận tùy nghi dạy các tín hữu đã được ủy thác cho các Ngài, cho biết cách sử dụng đúng đắn sách thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên các sách Phúc Am, nhờ các bản dịch, và các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ,để con cái Giáo Hội có thể sử dụng Kinh Thánh cách bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Kinh Thánh. 

Hơn nữa, cũng cần thực hiện những ấn bản Kinh Thánh với lời chú giải thích hợp cho cả những người ngoài Kitô giáo và thích hợp với hoàn cảnh của họ.  Các vị Chủ Chăn linh hồn cũng như các Kitô hữu, dù trong bậc sống nào, cũng phải ân cần lo lắng phổ biến các ấn bản ấy. 

26.Vì thế, ước gì nhờ việc đọc và học hỏi sách thánh, «Lời Thiên Chúa được trôi chảy và sáng sủa» (2 Th 3,1), và ước gì kho tàng Mạc Khải, đã được ủy thác cho Giáo Hội, ngày một tràn ngập tâm hồn con người.  Nếu đời sống Giáo Hội được tăng triển nhờ năng nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể, cũng thế, cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ thêm lòng sùng kính Lời Chúa, là lời «hằng tồn tại muôn đời» (Is 10,8 ; 1Pr 1,23-25).  

 

 

Câu hỏi gợi ý suy tư và chia sẻ của GDHT :

1. Bạn có tôn kính Thánh Kinh là Lời Chúa giống như tôn kính Thánh Thể là Mình Chúa không ?

2. Bạn có siêng năng rước Lời như rước Mình Chúa mỗi ngày, mỗi tuần không ?

3. Công đồng Vatican II kêu gọi Giáo Hội «Hãy mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các Ki-tô hữu.» Có nhiều lối vào Thánh Kinh như : Nghe, Đọc, Suy Niệm, Cầu Nguyện, Chia  Sẻ, Học Hỏi, Giảng Dậy và nhất là Sống Lời Chúa, Bạn thường dùng những lối nào để thâm nhập vào kho tàng cao quý và phong phú ấy?

 

 


 THƯ MỤC VỤ NĂM 2005

CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

SỐNG LỜI CHÚA

    

Kính gửi: Các linh mục,

                            Các tu sĩ, chủng sinh,

                               và anh chị em giáo dân

1- Lời mở đầu

          Anh chị em thân mến,

          Được quy tụ bên Đức Kitô Phục Sinh, Đấng đã đích thân giải thích lời Thánh Kinh và bẻ bánh để chia sẻ Sự Sống của Người cho các môn đệ, đồng thời dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng ngỏ lời với các Hội Thánh (Kh 2-3), chúng tôi các Hồng Y, Giám Mục tham dự hội nghị thường niên tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu Vũng Tàu từ ngày 5 đến ngày 9 tháng 9 năm 2005, xin gửi đến anh chị em lời chào thân ái và lời cầu chúc bình an của Thiên Chúa.

          Với tâm tình tạ ơn, chúng tôi vui mừng nhìn lại những hoạt động phong phú trong Năm Thánh Thể. Mỗi người chúng ta đã và đang cảm nghiệm dồi dào tình yêu thương của Thiên Chúa qua Đức Giêsu, Đấng phó mình làm lương thực thiêng liêng và hiện diện giữa chúng ta trong Bí Tích kỳ diệu. Xin cám ơn anh chị em đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của chúng tôi qua việc siêng năng đến với bàn tiệc Thánh Thể và đã có những cố gắng thiết thực nhằm “thắp sáng lên niềm tin Thánh Thể, hâm nóng thêm lòng yêu mến Thánh Thể, khơi dậy niềm hy vọng hồng phúc nơi mỗi người” (Thư Chung năm 2004, số 13).

          Ngoài bàn tiệc Thánh Thể, người Kitô còn được mời gọi tham dự  bàn tiệc thứ hai là bàn tiệc Lời Chúa. Thật ra cả hai bàn tiệc đều diễn tả cùng một mầu nhiệm, mầu nhiệm Sự Sống. Chính vì thế, sau khi đã cùng với anh chị em sống mầu nhiệm Thánh Thể trong năm vừa qua, năm nay chúng tôi mời gọi anh chị em đào sâu ý nghĩa và vai trò của LỜI CHÚA. Hơn nữa, năm nay kỷ niệm 40 năm Hiến Chế Tín Lý của Công Đồng Vatican II về Mạc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum), một trong những văn kiện quan trọng nhất của Công Đồng về giáo lý cũng như về mục vụ. Về giáo lý, Hiến Chế nhắc nhở chúng ta nội dung đức tin hết sức phong phú và sống động của Giáo Hội về Mạc Khải của Thiên Chúa hoàn tất trong Đức Kitô. Về mục vụ, Hiến Chế đã khẳng định chỉ có Lời đến từ Thiên Chúa, được thông truyền và diễn tả qua chính đời sống Giáo Hội cũng như qua chứng tá của mỗi Kitô hữu mới có thể đem lại ánh sáng và niềm vui cho một thế giới đang khắc khoải tìm kiếm con đường về với Sự Thật và Sự Sống (x. MK 21).

          Vì thế, với Thư mục vụ này, trước tiên chúng tôi muốn cùng với anh chị em ôn lại giáo huấn của Công Đồng về Lời Chúa, sau đó cùng suy nghĩ về phương cách sống Lời Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội Việt Nam hôm nay.

    

I.  THIÊN CHÚA NGỎ LỜI VỚI NHÂN LOẠI

 

2-Lời yêu thương từ Chúa Cha

    

Bài viết khác