ĐÀO LUYỆN LINH ĐẠO

Áp Dụng Trong Môi Trường Văn Hóa Việt  Nam

 
1. NHẬN THỨC
 
1.1. Linh đạo là thức tỉnh và đáp trả thời đại, tuỳ theo môi trường văn hóa.
 
Thời đại hôm nay, có hai khuynh hướng chuyển dịch.
 
- Thứ nhất, thế giới chuyển từ “Tĩnh” sang “Động.”
 
Quả thực, thế giới hôm nay chuyển động, năng động và sôi động. Sự chuyển động này khiến con người hôm nay rất khó tập trung tư tưởng và hay phóng tâm, rất trở ngại cho việc đào luyện nội tâm.
 
1.2. Minh họa
 
Như trong câu chuyện của Thiền Sư Osho:
 
“Một buổi chiều nọ, lúc mặt trời đang lặn, bà Rabia ra đường lục lọi tìm kiếm gì đó. Bà đã già, mắt đã yếu, hàng xóm đổ xô ra giúp bà.
 
Họ hỏi:
 
‘‘Bà tìm gì vậy?’’
 
Bà nói:
 
‘‘Hỏi cũng chẳng ích gì. Tôi đang tìm, nếu quí vị giúp được thì giúp.’’
 
Họ phá lên cười và nói rằng:
 
‘‘Bà điên rồi sao, nhưng nếu không biết bà đang tìm gì, sao chúng tôi có thể
 
giúp được?’’
 
Bà trả lời:
 
‘‘Tôi đánh mất cái kim.’’
 
Họ xúm nhau đi tìm, nhưng lập tức họ nhận ra rằng con đường thì quá lớn mà chiếc kim thì quá nhỏ.
 
Họ hỏi lại:
 
‘‘Bà đánh mất ở đâu vậy? Nếu không biết rõ ở đâu thì khó mà tìm được, con đường thì quá lớn, có thể tìm hoài mà chẳng thấy.’’
 
Bà nói:
 
‘‘Thôi được, để làm hài lòng quí vị, tôi đánh rớt trong nhà.’’
 
Họ hỏi:
 
‘‘Thế thì sao lại tìm ở đây ?’’
 
Bà nói:
 
‘‘Bởi vì ở đây có ánh sáng, mà bên trong nhà thì tối om.’’
 
 
Câu chuyện diễn tả sự “Phóng Tâm” và “Định Tâm.”
 
 
2.KINH NGHIỆM
 
 
Theo Khổng Tử:
 
“Có Định mới có Bình An”.
 
Và theo Phật Giáo:
 
“Có Định mới cảm nhận được sự Sáng Suốt.”
 
Khuynh hướng thế giới hiện nay quá “Động” nên rất khó “Bình An và Sáng Suốt.”
 
Phương pháp linh đạo hôm nay phải thức tỉnh và đáp trả điều đó. Hơn nữa, linh đạo còn tuỳ thuộc môi trường văn hóa. Văn hóa Việt Nam mang tính “Cộng Đồng” và tính “Tự Trị.”
 
Triết lý người Việt là sống “Hài Hoà.” Hài hoà được thể hiện qua biểu tượng “Lưỡng Long chầu nguyệt.” Thế nên, tính cách người Việt vừa động lại vừa tĩnh, vừa tập thể vừa cá nhân. 
 
Đặc biệt con người Việt Nam trọng “Tình Cảm” hơn trọng “Lý trí”. Và trọng “Tập Thể” hơn trọng “Cá Nhân.”
 
Do đó, trong phần ứng dụng này chỉ đề cập tới hai đặc tính linh đạo thức tỉnh đáp trả xu hướng thế giới và văn hóa Việt Nam.  Đó là thức tỉnh đáp trả tính “Động” của thế giới; tính “Cộng Đồng” và tính trọng “Tình” của con người theo văn hóa Việt Nam, như là minh họa tiêu biểu.  
 
Trước hết là đáp trả tính “Động” của thế giới và tính “Cộng Đồng” theo văn hoá Việt Nam. Như chúng ta biết, mục tiêu của Linh Đạo Mục Vụ là “Kinh Nguyện, Hiệp Thông và Phục Vụ,” như chiếc kiềng ba chân. Mà Chúa Kitô là Trung Tâm cho sự Hiệp Thông này: “Ta là cây nho, các con là cành.” [1] “Hiệp Thông với Chúa và Hợp Nhất với anh chị em.”[2] Kết quả “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi.” Cao hơn trong đời sống nội tâm là đi vào chiêm niệm để thực hành mục vụ trong một thế giới mang chiều kích toàn cầu hóa, với những thách đố linh đạo trong một thế giới đa văn hóa.
 
 
3. ỨNG DỤNG
 
 
Sau đây là mô hình áp dụng
 
1. Những kinh mở đầu
 
1.1. Cầu xin Chúa Thánh Linh
 
1.2. Kinh sám hối
 
2. Nội dung
 
2.1. Cầu nguyện theo phương pháp “Cầu Nguyện - Cảm Nghiệm.”(1) Có thể sử dụng thêm, một trong các số 2.2; 2.3.; 2.4; số 2.5. bắt buộc.
 
2.2. Suy niệm Thánh Kinh, đọc gương các Thánh, tiếp thu giáo huấn của Giáo hội (đánh động trí)
 
2.3. Hát thánh ca, thánh vịnh (đánh động tâm)
 
2.4. Lần Hạt (Có suy niệm): Yêu mến Chúa Giêsu bằng trái tim của Mẹ.
 
2.5. Dâng lời nguyện tự phát (dung hòa cả tâm cả trí, thành ý chí hành động)
 
3. Kết thúc (Theo trong phương pháp “Cầu nguyện - Cảm nghiệm.”)
 
Đáp trả văn hóa trọng “Tình”.
 
- Khuynh hướng thứ hai, thế giới chuyển dịch từ văn hóa “Nước” qua văn hoá “Lửa.” Và từ “Tình” sang “Lý.”
 
Thế giới Văn minh đang lấn cả thế giới văn hoá.
 
Văn hoá Kitô giáo là văn hóa “Tình Yêu - Sự Sống” đang bị văn hoá “Sự Chết” lấn át.
 
Đức Thánh Cha Benedictô XVI, đáp trả thời đại qua thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu.”
 
Khi đào luyện linh đạo cho người Việt Nam, chúng ta có thuận lợi, vì văn hoá Việt Nam rất trọng tình: “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.”
 
Quả thực Thiên Chúa là Tình Yêu, và Ngài hiện diện ở nơi, mặc dầu chúng ta không biết Ngài.
 
Đức Giáo Hoàng G.P.II diễn tả nơi đó như hạt giống đời đời. Hạt giống ấy, khi gặp Lòng Thương Xót, nó có thể trổ sinh mạnh mẽ và tươi tốt như kinh nghiệm linh đạo mục vụ của Thánh Phanxicô khó khăn.
 
Tôi thường hay kể câu chuyện về Thánh Phanxicô. Câu chuyện đề cập tới ba “Tên Trộm” khét tiếng, đã trở nên ba “Thầy Dòng” nổi tiếng , chỉ vì cách xử sự khiêm nhường và giàu tình thương của Ngài. Ngài đã truyền cho Thầy Dòng coi hầm rượu phải tìm cho bằng được ba tên trộm mà thầy đã xỉ nhục và đuổi đi khi chúng đến xin của ăn và rượu uống. Khi tìm thấy, theo lệnh của thánh Phanxicô, thầy này phải quì xuống xin lỗi và trao bị bánh và rượu của thánh Phanxicô cho chúng. Sau đó, ba tên trộm khét tiếng vùng đó đã đến gặp Phanxico. Và rồi tình nguyện xin nhập dòng tu. Sau này đã trở thành những thầy dòng nổi tiếng.
 
Hạt giống đức tin trong cõi thẳm sâu của lòng con người, mà Thiên Chúa gieo từ thủa đời đời, đã mọc lên. Chúng đã gặp được Thiên Chúa ở Lòng Xót Thương.
 
Linh đạo của Phanxicô là “Linh đạo - Mục vụ,” bắt nguồn từ lòng thương cảm, bao gồm tinh thần nghèo khó, kính trọng tạo vật và chú tâm tới nhu cầu con người.
 
Áp dụng đào luyện linh đạo cho người làm mục vụ hôm nay, trong môi trường văn hóa Việt Nam có nhiều thuận lợi, vì những đặc tính văn hóa ấy rất gần với linh đạo mục vụ thời nay.
 
Nhận thức như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy phấn khởi và không mệt mỏi truyền bá lối linh đạo này một cách tự tin và hữu hiệu.
 
Tuy nhiên, chúng ta cũng ý thức trở ngại về mặt coi nhẹ cá nhân của văn hoá Việt Nam:
 
“Ai sao tôi vậy; nước trôi thì bèo trôi; nước nổi thì thuyền nổi.”
 
Khuyết điểm này được chủ nghĩa tự do cá nhân hỗ trợ, càng dẫn đến sự khó khăn cho việc đào luyện linh đạo cá nhân. Trong khi việc đào luyện linh đạo cá nhân là rất quan trọng cho sự trưởng thành trong đời sống đạo.
 
 
Kinh nghiệm cho thấy, khi người Việt Nam sống trong cộng đồng xứ đạo thì đời sống đạo tỏ ra rất sinh động. Nhưng khi phải rời đi vào trong môi trường thành phố, họ bắt đầu lúng túng và khi có cơ hội tự do cá nhân là có thể nguy hiểm tới đức tin. Nhất là giới trẻ nông thôn Việt Nam về thành phố học hiện nay.
 
Đào luyện linh đạo cho cá nhân và nhất là cho giới trẻ hôm nay, cần đầu tư và đào sâu chuyên môn hơn nữa. Đây cũng là nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo tinh thần, có tâm có tầm, có văn hóa và có nghệ thuật lãnh đạo.
 
 
4. Kết luận
 
 
Chúng ta thường nghe nói: “Biết người biết ta.”
 
Khôn ngoan trong nghệ thuật ứng xử là phải hiểu biết về thời đại mình đang sống. Nhận thức trên đây, đã cho chúng ta hiểu biết linh đạo và linh đạo Kitô giáo thời nay như thế nào?
 
Có thể tóm tắt đó là con đường thiêng liêng dẫn chúng ta đi vào Vinh Quang Thiên Chúa.  Vinh quang thiên Chúa không phải ở đời sau, nhưng phải tìm kiếm ngay ở đời này, qua việc nỗ lực phấn đấu đạt “Chân thiện Mỹ” và loại trừ sự dữ.
 
Hầu đạt tới sự hiệp thông với Chúa và với toàn thể nhân loại. Điều đó có nghĩa là nên thánh. Theo gương Chúa Giêsu. Dưới sự thúc đẩy của chúa Thánh Thần. Hiệp nhất với Giáo Hội, trong thực tại của mỗi con người, ở vào thời đại hôm nay. Theo nguyên tắc “ Khôn ngoan - Mục vụ” của Công Đồng Vat. II. Theo định hướng: “Ân sủng và Thực tại.”  
 
Đó là mối tương quan chặt chẽ giữa linh đạo và mục vụ. Như thế, linh đạo có đặc điểm tập trung vào Chúa Kitô và Phúc Âm của Người trong tinh thần đại kết, dung hòa cả Đông cả Tây, cả lý cả tình, cả động cả tĩnh, cả nội tâm cả phục vụ bác ái xã hội.
 
 
Điểm nhấn của linh đạo hôm nay là Tình Yêu. Tình Yêu Thiên Chúa và Yêu Thương Con Người. Sử dụng phương pháp, “Cầu nguyện - Cảm nghiệm.” Phương pháp này vừa hiện đại vừa phù hợp với đặc tính con người Việt Nam: “Động và Tĩnh.”  
 

Hy vọng phương pháp đào luyện như thế sẽ thuận lợi, vượt qua cả ý thức trở ngại trong xu thế chủ nghĩa tự do cá nhân. Đó cũng là thách đố cho các nhà lãnh đạo tinh thần mà chúng ta sẽ đề cập tới trong chương sau.

 
Lm. Gioankim Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)


[1]
Jn 15:5a.
[2] Robert J. Wicks, Handbook of  Spirituality for ministers,  Paulist Press, 1995, 142. 

Bài viết khác