CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

KHÓA IIB: TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN THỰC HÀNH

ĐÔI LỜI CUỐI KHÓA

Chắc hẳn các học viên tham dự Khóa Tông Đồ Giáo Dân Thực Hành cũng như các độc giả đọc Tập Tài Liệu này đều có cảm tưởng chung là không dễ dàng gì mà thực hiện được những điều được trình bày trong Khóa/Tập Tài Liệu này. Chính bản thân tôi cũng cảm nhận điều ấy, một cách sâu sắc hơn ai hết.  Thế nhưng có việc gì có gía trị mà dễ dàng đâu?

Có một câu nói được nhiều người ưa thích mà tôi xin nhắc lại ở đây: “Biết nguyên nhân mới là biết”.  Vì có biết tường tận nguyên nhân của sự việc, thì chúng ta mới có thể tìm ra những giải pháp cần thiết và thích hợp để giải quyết vấn đề. Chúng ta cần phải biết tại sao mọi người đều có chung một cảm nhận là Khóa/Tài Liệu và các Phương Pháp được trình bày trong Khóa/Tài Liêu này quả là KHÓ!

Trước hết tôi xin đưa ra nhận định cá nhân của mình: Trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng nói chung và trong giáo dục Đức Tin nói riêng, đáng lẽ ra người giáo dân Việt Nam phải được trang bị đầy đủ trong cả ba lãnh vực Mộ Đạo, Hiểu Đạo và Hành Đạo (theo cách nói của Phong Trào Cursillo). Nhưng trong thực tế chúng ta thấy chỉ có một trong ba lãnh vực nêu trên được nhấn mạnh mà thôi: đó là Mộ đạo. Còn Hiểu Đạo và nhất là Hành Đạo là hai lãnh vực rất bị coi nhẹ. Rất ít giáo xứ hay hội đoàn tổ chức được những khóa huấn luyện, đào tạo từ căn bản đến nâng cao. Số các giáo xứ hay hội đoàn có các khóa huấn luyện thực hành việc tông đồ thì lại càng ít hơn. Tại sao vậy? Thiết nghĩ có những nguyên nhân khách và chủ quan sau đây:

(1)  Đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên chúng ta sẽ nhận ra rằng: Xây dựng lòng Mộ Đạo cho người giáo dân thì dễ dàng hơn nhiều so với việc xây dựng sự Hiểu Đạo. Và xây dựng việc Hành Đạo lại càng khó khăn hơn gấp bội so với việc xây dựng sự Hiểu Đạo. Muốn giáo dân Việt Nam Hiểu Đạo và biết cách Hành Đạo thì ngoài các bài giảng Chúa nhật,  các giáo xứ và hội đoàn cần phải có các khóa/đợt huấn luyện đào sâu và nâng cao cả về giáo lý cả về thực hành đời sống Đức Tin. Kinh nghiệm mục vụ cho thấy rằng bài giảng của các linh mục có rất ít tác dụng đối với giáo dân. Vì ba lý do sau đây: (1o) Đại đa số giáo dân không đủ khả năng để hiểu đúng và hiểu hết những lời giảng của các linh mục. Có nhiều người còn hiểu sai hoặc hiểu ngược nữa là đàng khác. (2o) Có nhiều giáo dân ngồi nghe giảng trong nhà thờ nhưng lòng trí để đâu đâu, không tập trung vào việc lắng nghe thì làm sao hiểu được? (3o) Các bài giảng của các linh mục thường nặng về luân lý và chỉ dừng ở phạm vi lý thuyết mà thiếu hướng dẫn và phương pháp cụ thể, nên nhiều giáo dân không biết cách áp dụng vào thực tế như thế nào.

Vì thế mà trong sinh hoạt tôn giáo và tâm linh, rất cần có những khóa, những đợt bồi dưỡng đào sâu và nâng cao cả về giáo lý cả về thực hành đời sống Đức Tin.

(2) Để làm được việc này chúng ta lại gặp phải những khó khăn lớn lao khác: hoặc các giáo sĩ không quan tâm đến việc giúp giáo dân Hiểu và Hành Đạo hoặc các giáo sĩ không đủ khả năng trí thức và kinh nghiệm thực tế để giúp giáo dân Hiểu và Hành Đạo. Giảng một bài trên tòa thì tương đối dễ, nhưng soạn cả một giáo trình có đầu có đuôi có tính lô gích và liên kết chặt chẽ với nhau thì không phải linh mục nào cũng làm được. Dành mười lăm hai chục phút mỗi ngày Chúa nhật, thậm chí mỗi ngày trong tuần cho một bài giảng cũng là chuyện tương đối dễ. Nhưng hằng tuần có những lớp, những khóa học hay huấn luyện thì không phải linh mục nào cũng muốn làm và đủ khả năng làm.

Mặt khác, trong Giáo hội Việt Nam thành phần trí thức về Đạo thì ngoài hàng giáo sĩ làm gì có ai khác. Một Giáo hội còn mang nặng tính giáo sĩ (clericalism) như Giáo hội Việt Nam ta thì mọi việc đều “phải” xuất phát và được đặt dưới sự “kiểm soát” của hàng giáo sĩ. Trong một bối cảnh Giáo hội như thế thì người giáo dân dù có khả năng, trình độ và tâm huyết đến mấy cũng không thể làm được gì mà không qua các linh mục.

(3)  Có một nguyên nhân nữa giải thích tại sao Giáo hội chúng ta ít hoặc không quan tâm đến việc Hiểu Đạo và Hành Đạo: đó là vì chúng ta chỉ quan tâm và quá nhấn mạnh đến các Bí tích và lễ nghi phụng tự. Bí tích là một thành phần hết sức quan trọng trong đời sống Đức Tin. Lễ nghi phụng tự là điều không thể thiếu đối với đời sống tôn giáo tín ngưỡng. Thế nhưng giới hạn đời sống Đức Tin chỉ vào các bí tích và lễ nghi phụng tự thì e rằng không ổn. Chinh vì hiểu sai như thế mà đại đa số giáo dân Việt Nam chỉ chịu học giáo lý để chuẩn bị đón nhận các bí tích. Người giáo dân học giáo lý để được rửa tội, thêm sức và kết hôn trong nhà thờ. Còn nếu không để nhận một bí tích nào thì không cần học giáo lý. Đáng lẽ ra học giáo lý là để Hiểu Đạo và Sống (Hành) Đạo một cách đầy đủ hơn thì người giáo dân Việt Nam lại giới hạn mục đích của việc học giáo lý chỉ là để nhận bí tích!

(4) Còn một nguyên nhân khách quan và có tính lịch sử tạo không ít khó khăn lớn cho chúng ta: Phong Trào Công Giáo Tiến Hành chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỷ trước. Còn Công đồng Va-ti-can II cũng mới chỉ được 40 năm (1965-2005). Phong Trào Công Giáo Tiến Hành xuất phát từ ý thức và trách nhiệm truyền giáo của thành phần giáo dân trong các Giáo hội từ trước và nhất là sau Công đồng Va-ti-can II.  Phong trào này trả lại cho giáo dân “quyền chủ động và quyết định”  trong hoạt động tông đồ. Các Giám mục và linh mục chỉ đóng vai trò linh hướng và đồng hành bên trong và bên cạnh Phong Trào. Đóng vai trò linh hướng để giúp giáo dân đi đúng tinh thần và đường hướng của Giáo hội. Đóng vai trò đồng hành để hỗ trợ và cảm thông với giáo dân trong nỗ lực loan báo Tin Mừng cho các môi trường trần thế của họ. Tuyệt đối hàng giáo sĩ  không làm thay, không quyết định giùm hàng giáo dân. Thế nhưng thử hỏi Giáo hội Việt Nam đã thấm nhuần được bao nhiêu tinh thần và cung cách mới ấy của Phong Trào Công Giáo Tiến Hành và của Công đồng Va-ti-can II? Công đồng Va-ti-can II bế mạc ngày 08 tháng 12 năm 1965 thì ngày 30 tháng 04 năm 1975 chế độ Cộng Sản được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam với bao nhiêu thành kiến và biện pháp cũng như luật lệ hạn chế, cấm cản khiến cho rất nhiều hoạt động của Giáo hội Công giáo nói chung và của Công Giáo Tiến Hành Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng trầm trọng. Đã có thời chỉ cần nhắc đến các tổ chức Công giáo Tiến Hành Chuyên Biệt như Thanh Lao Công, Thanh Sinh Công, nhất là Trí Thức Công Giáo (Pax Romana) là đủ vào tù rồi!

Vì những lý do nêu trên và vì nhiều lý do khác mà mọi người chúng ta (học viên cũng như độc giả và cả bản thân tôi) đều cảm thấy KHÓ mà thực hiện được những điều được chủ trương và chia sẻ trong Khóa/Tập Tài Liệu TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN THỰC HÀNH này! Thật ra không phải chúng ta chỉ bắt đầu lại công việc mà là chúng ta phải bắt đầu từ đầu (to begin  from the begin-ning). Vì thế mà KHÓ. Vì thế mới cần đến sự QUAN TÂM VÀ NỖ LỰC MỚI của mọi thành phần Dân Chúa, cách riêng của Hàng Giáo Phẩm và Hàng Giáo Sĩ  Việt Nam! Có thế thì việc kết thúc NĂM TRUYỀN GIÁO mới trở thành khởi điểm của MỘT QUÁ TRÌNH MỚI trong công cuộc LOAN BÁO TIN MỪNG của toàn Giáo hội Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ III, thiên niên kỷ truyền giáo của Giáo hội Á châu và của hàng giáo dân.

Sài gòn ngày 18 tháng 02 năm 2004

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Bài viết khác