MỤC VỤ LÃNH ĐẠO TINH THẦN

 

LÃNH ĐẠO LÀ MỘT ƠN GỌI

 


DẪN NHẬP

 

Công Đồng Vat. II định nghĩa: Giáo Hội là Dân Thiên Chúa. Giáo Hội là Gia Đình của Chúa.

Như thế, Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo và là Cha. Giáo Hội là Dân và Con của Người.

 

Do đó, Giáo Hội cơ cấu (Kim tự tháp) chuyển thành Giáo Hội hiệp thông (Vòng tròn). Sự thay đổi này, đã khiến thay đổi về cách thức lãnh đạo.

 

Lãnh đạo cơ cấu, dựa trên chức vụ và quyền hành. Người có chức vụ phải chu toàn trách nhiệm của mình bằng cách ra lệnh, điều khiển và sai khiến. Người đứng đầu trong hệ thống này gọi là người chỉ huy.

 

Lãnh đạo hiệp thông, là một thứ quyền vô hình, thực sự do uy tín tạo nên. Người có quyền uy hay uy đức chính là người lãnh đạo (leader/leadership) nhờ khả năng ảnh hưởng tới người khác bằng những gì mình có, nơi mình, do người khác nhìn thấy rồi tự nguyện chấp nhận, không bị ép buộc theo. Cho nên, người lãnh đạo hiệp thông không lãnh đạo bằng chức vụ mà lãnh đạo bằng khả năng thu hút người khác qua hành động và bằng sự hiểu biết của mình. Nói cách khác, đó là phương thức lãnh đạo bằng “Uy đức hay Quyền uy[1].”

 

Giáo Hội hôm nay cần người lãnh đạo như thế để xây dựng Nước Trời và thay đổi thế giới.

 

NHẬN THỨC

 

1. Ý nghĩa

Có hàng ngàn định nghĩa khác nhau về lãnh đạo.

Dựa vào Kinh Thánh, xin nêu lên hai.

 

1.1. Lãnh đạo là một ơn gọi

Người lãnh đạo là người thực sự được Thiên Chúa tuyển chọn. Đó là một ơn gọi.

 

Ơn gọi trở thành người đầy tớ, người phục vụ.

Thiên Chúa can thiệp vào đời sống của người lãnh đạo. Đào luyện họ. Đặt họ trong một đội ngũ lãnh đạo tài ba. Ngài trao ban Thánh Thần. Thánh Thần trao ban tầm nhìn.

 

Vì thế, người ta có thể trở thành người lãnh đạo. Nhưng không thể trở thành người lãnh đạo tinh thần, nếu không có Chúa Thánh Thần. Ngài tiếp tục sắp đặt chương trình cho đời sống của người lãnh đạo và trao việc cho họ.

 

Như gương tổ phụ Abraham, Môisê trong Cựu Ước.

Như gương Chúa Giêsu tuyển chọn tông đồ và các môn đệ trong Tân Ước.

 

1.2. Lãnh đạo là dẫn dắt Dân Chúa đạt tới chương trình của Ngài[2].

Đây là một định nghĩa, mới, ngắn, về lãnh đạo. Nhưng mô tả cốt lõi về tinh thần lãnh đạo. Nó hàm chứa năm sự thật:

 

Một là bổn phận của người lãnh đạo là dẫn dắt Dân Chúa từ nơi mà họ đang ở tới nơi mà Thiên Chúa muốn họ tới.

 

Hai là họ phải tin vào Chúa Thánh Linh, vì Thiên Chúa kêu gọi họ, nhưng Chính Thánh Linh của Ngài mới có thể thực hiện được điều mà Thiên Chúa muốn.

 

Ba là họ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về việc dẫn dắt Dân Chúa tới nơi theo ý định của Ngài.

 

Bốn là họ có thể ảnh hưởng tới toàn dân chứ không chỉ là Dân Thiên Chúa, như trường hợp Giuse, thủ tướng Ai Cập trong thời Cựu Ước.

 

Năm là họ làm việc xuất phát từ chương trình của Chúa: “Đây là Con Ta, Người Ta tuyển chọn; hãy nghe Lời Người”[3].

 

2. Mục đích: Xây dựng Nước Trời và thay đổi thế giới. Xin nhấn mạnh đến “Thay Đổi.”

2.1. Xây dựng Nước Trời

2.1.1. Tìm kiếm và khám phá chương trình của Chúa

 

Thiên Chúa dùng đời sống của người lãnh đạo như dụng cụ của Ngài để xây dựng Nước Trời và thay đổi thế giới. Vì thế người lãnh đạo tinh thần tiên vàn phải tìm kiếmvà khám phá ra chương trình của Chúa để dẫn dắt Dân Chúa tới mục tiêu của Ngài.

 

2.1.2. Dẫn dắt Dân Chúa

Phải hiểu chương trình của Thiên Chúa và biết làm thế nào để dẫn Dân Chúa tới con đường của Ngài. Dân Chúa chỉ tin vào người lãnh đạo khi họ thấy người lãnh đạo tin vào Thiên Chúa và làm điều Thiên Chúa dạy[4].

 

2.2. Nhận thức về “Thay Đổi.”

Người lãnh đạo được Chúa đào luyện cùng với sự cộng tác của con người, để đáp ứng sứ vụ hành động then chốt của người lãnh đạo: “Đổi Mới.”

Elmer L.Towns nhận định rằng, “Trước hết phải đổi mới bản thân.

Thứ đến là ước muốn những người theo mình được thay đổi. Sau cùng là ước muốn đối diện với những vấn đề đổi thay.”

 

Sự thay đổi trước hết là người lãnh đạo phải lớn lên trong sự hiểu biết và trong đời sống tinh thần. Muốn được như vậy, người lãnh đạo phải là người luôn học tập và học tập suốt đời, phải lớn lên suốt đời[5].

 

Nhưng cần phân biệt những gì cần thay và những gì không bao giờ được đổi. Chúng ta không bao giờ được thay đổi đạo lý, vì đạo lý đến từ Lời Chúa và là sự thật đời đời. Những nguyên tắc Kinh Thánh đến từ sự thật, chúng ta không bao giờ thay đổi nguyên tắc.

 

Như thế, phương pháp áp dụng có thể thay, còn nguyên tắc không bao giờ đổi. Phương pháp lệ thuộc văn hoá. Khi văn hoá thay đổi, chúng ta cần thay đổi phương pháp, để áp dụng nguyên tắc có hiệu quả hơn.

 

Khi đổi mới, cần lưu ý tới hai yếu tố chìa khoá: “Luật thời điểm” và “Luật can đảm”[6] . Theo một nghĩa nào đó, thì đổi mới có nghĩa là thay đổi. Doug Murren rất thích câu nói: “Lãnh đạo - người thay đổi.”

 

Thực ra “Thay đổi” là Lời chung trong Kinh Thánh. Thay đổi bắt nguồn từ lý tưởng Kinh Thánh “Tiến tới trời mới đất mới.” Hơn nữa, thay đổi còn là qui luật cuộc sống: “Sống là thay đổi.” Và “ Một là thay đổi hay là chết.” Người lãnh đạo cần đào sâu thêm về những yếu tố, giúp thay đổi đúng ý Chúa và mưu ích cho con người[7].

 

Theo quan điểm hành động Phương Đông, muốn thành công, người ta phải chú ý tới ba yếu tố tương tác, hoà quyện này: “Thời, Thế, Cơ.” Sứ mệnh của lãnh đạo là “Đổi Mới và Thay Đổi,” nhưng cần có “Thời” (Luật thời điểm nói trên) và “Thế” (phương thế.)

 

Phương thế thứ nhất, “Xây dựng một đội ngũ để làm việc,” Tom Phillips cho biết, “Lãnh đạo theo Kinh Thánh bao giờ cũng có một đội ngũ đi theo lãnh đạo.” Quả thực, bất cứ người lãnh đạo nào muốn thành công, đều phải nghĩ tới việc xây dựng quanh mình một tập thể lãnh đạo. Thông qua tập thể lãnh đạo này, cùng nỗ lực và quyết sách để hoàn thành một loạt mục tiêu.

 

Vậy làm thế nào để xây dựng một đội ngũ lãnh đạo và duy trì đội ngũ đó?

Trước hết cần một người có tố chất lãnh đạo xuất sắc. Người đó biết chia sẻ mục đích chung và biết tôn trọng bổn phận riêng; biết tham gia và hoàn tất nhiệm vụ chung. Họ nhận biết và tôn trọng kỷ luật tập thể. Sau đó, họ phải có nghệ thuật và biện pháp vận hành, phát huy và kiểm tra, suy nghĩ để tìm phương hướng thích hợp hơn mãi[8].

 

Phương thế thứ hai: “Xung đột.” Một tổ chức mà không có xung đột, đó là một tổ chức không có sức sống. Là người lãnh đạo, nên dám đối mặt với xung đột và mâu thuẫn. Jim Van Yperen cho biết xung độ là điều cần thiết và có trong Kinh Thánh. Người lãnh đạo không sợ đối mặt với xung đột, vì không có xung đột nào mà không có cách giải quyết. Điều then chốt là chúng ta có tìm ra con đường ngắn nhất để giải quyết xung đột đó hay không.

 

3. Đặc điểm

3.1. Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo

Ngài có cái nhìn của Ngài về điều Ngài muốn làm. Ngài không đòi hỏi những nhà lãnh đạo mơ những ước mơ lớn cho Ngài hay giải quyết những vấn đề trước mắt. Ngài chỉ xin các nhà lãnh đạo đồng hành một cách khắng khít với Ngài. Hầu khi Ngài mạc khải chương trình của Ngài, thì họ cảm thấy ngay, phải thay đổi cuộc sống theo ý muốn của Ngài. Và kết quả sẽ mang lại vinh quang cho Thiên Chúa.

Vậy hành động, lời nói của người lãnh đạo đều do Thiên Chúa?

Vâng[9].

Đúng theo lời kinh mà Chúa Giêsu đã dậy các tông đồ:

“Xin cho Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”[10].

 

3.2. “Tuyệt đối vâng theo Ý Chúa Cha”[11]

Chính Chúa Giêsu đã xác minh Mẫu Gương cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo:

“Tuyệt đối vâng theo Ý Chúa Cha”[12].

 

Người lãnh đạo hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng lãnh đạo của mình. Vì thế, bí quyết lãnh đạo tinh thần mà Chúa Giêsu cung cấp cho chúng ta: “Ngài vâng lời và tuân giữ mọi điều mà Chúa Cha mạc khải.”

 

ỨNG DỤNG

 

1. Ơn gọi Lãnh đạo: Bổn phận của tất cả mọi người Kitô hữu

 Lãnh đạo hôm nay, là bổn phận của tất cả mọi người Kitô hữu. Họ là những người Thiên Chúa dùng để biến đổi thế giới. Thách đố cho những nhà lãnh đạo hôm nay là phải biết phân biệt: “Ghế lãnh đạo không làm nên người lãnh đạo.”

 

Người Kitô hữu là người được Thiên Chúa gọi trở thành những nhà lãnh đạo:

“Là vì Thiên Chúa có mắt rảo quanh khắp cả thiên hạ, để làm cho những kẻ thành tâm với Ngài được vững mạnh”[13]. Mắt biểu tượng của sự chăm sóc. Mắt của Thiên Chúa chính là những người lãnh đạo.

 

Do đó những nhà lãnh đạo Kitô giáo là những người hiểu và biết lãnh đạo theo phương thức, không những có kỹ năng, phẩm chất tốt nhất mà còn cùng với sự lãnh đạo của Thiên Chúa nữa[14].

 

2. Cursillo

2.1. Trường Lãnh Đạo

2.1.1. Nhận thức

 

Phong trào bắt nguồn từ một tập hợp những người lãnh đạo, tạm gọi là Trường Lãnh Đạo. Trường ở đây không có nghĩa là nơi huấn luyện hay đào tạo cấp lãnh đạo; chỉ có nghĩa là một tập hợp những người lãnh đạo cùng chí hướng và sinh hoạt với nhau; chữ “School” trong ấn bản Anh Ngữ có ý nghĩa như “School of fish” – một đàn cá, và nhờ cố gắng liên lỉ và hòa hợp của các thành viên lãnh đạo mà Phong Trào được thành hình, cũng như được thôi thúc phát triển vả cải tiến. (530)

 

Trường Lãnh Đạo từ trước đến nay vẫn mãi là một yếu tố thiết yếu để Phong Trào được tiếp tục và phát triển. (531)

Trường Lãnh Đạo giúp họ khám phá, chấp nhận và thăng tiến trong ơn gọi của họ, đem họ đến với nhau để có thể cùng nhau nhận lấy trách nhiệm làm những người Lãnh Đạo trong Giáo Hội, trong Phong Trào và trong Môi Trường Thế Tục riêng biệt của họ. (532)

 

Một giáo phận có thể bắt đầu hình thành một Phong Trào Cursillo khi nơi đó có một nhóm lãnh đạo nòng cốt của phong trào Cursillo. Họ là những thành phần lãnh đạo đã chọn phục vụ Phong Trào như một ơn gọi tông đồ của họ. Thêm vào đó, nhóm người này phải là một cộng đồng phục vụ gương mẫu trong cả ba giai đoạn của Phong Trào. Phong Trào Cursillo đã được khai sinh, hình thành và tiến triển từ chính nhóm này.

Một Phong Trào chỉ khả quan khi có nhóm lãnh đạo tốt. Không thể có một Phong Trào Cursillo trung thực và hữu hiệu thực sự nếu Phong Trào không được phục vụ bởi một nhóm người sẵn sàng thể hiện tất cả nhũng gì mà Phong Trào đòi hỏi. “Vì là một cơ cấu hoạt động của Phong Trào cho nên Trường còn là một cộng đồng những Kitô hữu hiệp nhất trong bầu khí Hội Nhóm, mỗi ngày tìm cách tập trung hơn, cam kết hơn và hiệp nhất với nhau hơn, để gia tăng việc sống những điều căn bản để trở nên Kitô hữu đích thực, ngay trong chính con người của họ, trong Phong Trào và trong môi trường của họ."

 

Trường Lãnh Đạo là nơi tập hợp tất cả các thành phần lãnh đạo. Đây là một ơn gọi cá biệt. Một người không phải là lãnh đạo chỉ vì có tham dự Trường Lãnh Đạo; người ta ở trong Trường Lãnh Đạo bởi vì họ là người lãnh đạo của Kitô Giáo. Trường Lãnh Đạo làm nổi bật phong trào Cursillo bởi vì các thành phần lãnh đạo là những người lãnh đạo tự nhiên của Kitô giáo.

(Cẩm nang lãnh đạo, tr. 75, 2012)

2.1.2. Kinh nghiệm về Lãnh Đạo

John C. Maxwell đã đào luyện hàng trăm ngàn người về lãnh đạo trong nhiều năm. Ông quả quyết, “Mọi sự lên hay xuống tùy thuộc lãnh đạo”[15].

 

3. Ứng dụng

3.1. Lãnh Đạo trong môi trường Văn Hóa Việt Nam

3.1.1. Lãnh đạo “Trọng Dân”

Quan điểm văn hóa Việt Nam về lãnh đạo: “Trọng Dân”

Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa Việt Nam, lớp văn hóa Bản Địa là Tính Cộng Đồng. Lớp thứ hai, giao lưu với văn hóa khu vực, nhất là với Trung Hoa, chịu ảnh hưởng Nho Giáo. 

 

Theo quan điểm Nho Giáo về “Trọng Dân,” Đức Khổng Tử viết trong Kinh Thi rằng: “Dân duy Bang bản.” Có nghĩa là: “Dân là gốc của Nước.” 

Khi nhìn thấy sức mạnh như nước lũ của “Người Nông Dân” lật đổ nhà Tùy, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) đã dạy con mình rằng: “Thuyền ví với Vua, nước ví với Dân. Nước có thể chở thuyền, mà cũng có thể lật thuyền.” 

 

Sách Mạnh Tử dậy: “Dân vi quí, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh.” Có nghĩa là: “Dân là quí nhất, rồi đến Quốc Gia, Vua được xem nhẹ.” Quan niệm như thế vì hai lẽ. Thứ nhất, nếu không có Dân và Quốc Gia, thì cũng chẳng có Vua. Thứ hai, Dân và Quốc Gia tồn tại muôn đời, còn Vua chỉ tồn tại nhất thời. 

 

Những tư tưởng “Trọng Dân” này đã ảnh hưởng tới quan điểm lãnh đạo “Trọng Dân” của Việt Nam. Nguyễn Trãi, một danh nhân văn hoá Việt Nam, khi tiễn Cha là Nguyễn Phi Khanh qua Tàu, đến Ải Nam Quan, ông có làm bài thơ tựa đề là “Quan Hải,” trong đó có câu: “Phúc thủy tín Dân do thủy.” Có nghĩa là “(Thuyền) bị nước lật mới tin câu nói Dân như nước.” Hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam sau này, đều có chủ trương trọng Dân: “Dĩ Dân chi tiên hay lấy Dân làm gốc.”

 

Vì thế, nếu muốn phát triển Giáo Hội và Dân Tộc, người làm mục vụ không nên bỏ qua quan điểm “Trọng Dân.” Hơn nữa quan điểm này cũng là hướng đi của Công Đồng Vat. II, khi định nghĩa “Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.” 

 

Nhận thức được như thế, chúng ta sẽ không ngần ngại đầu tư vào việc đào tạo “Dân.” Nguồn nhân lực cho tương lai lâu dài của Đất Nước và Giáo Hội.

 

3.1.2. Đào luyện “Chim Đầu Đàn”

Như chúng ta đã biết, tính “Cộng Đồng” và tính “Trọng Dân” trong Văn hóa Việt Nam rất phù hợp với tinh thần Công Đồng Vat. II, khi định nghĩa: “Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.” Trọng Dân cũng chính là trọng Anh Tài trong Dân, vì Dân tin vào Anh Tài. Người ta thường coi Anh Tài là “Nguyên Khí dựng Nước.” Anh Tài trong Giáo Hội ví như “Tông Đồ Giáo Dân;” như “Người Giáo Dân Lãnh Đạo.” Vì thế, chúng ta có thể nói: “Tông Đồ Giáo Dân, Người Giáo Dân Lãnh Đạo là Nguyên-Khí-Thiêng cùng góp phần dựng nên Mùa Xuân Hội Thánh.”

 

Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X, trong buổi triều yết, Ngài đã hỏi các Hồng Y: “Hiện nay, điều gì là cần thiết hơn cả, để cứu vãn tình trạng suy sụp của Hội Thánh và thế giới?

Lần lượt các Hồng Y trả lời, người thì nói là cần xây dựng nhiều trường học; xây thêm thánh đường; khuyến khích công việc tuyển trạch hàng giáo sĩ…”

Đức Thánh Cha trả lời: “Tất cả đều không đúng.”

 

Và Ngài nói: “Điều cần thiết nhất trong lúc này, là mỗi xứ đạo, phải có một nhóm giáo dân, vừa đạo đức vừa khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng, cương quyết và có tinh thần tông đồ thực thụ”[16].

Hơn nữa, “Giáo Hộichưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó ngay từ khi thiết lập Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành[17].

 

Sau đây, xin thử phác họa một trong ba mô hình đào luyện Giáo Dân phục vụ trong môi trường xứ đạo Việt Nam. Ba Mô Hình này là do sự tích hợp từ Kinh Thánh, Công Đồng Vat. II, văn minh Hiện Đại và văn hoá Dân Tộc. 

 

Mô hình: “Làm Người” theo gương Chúa Giêsu.

Gồm ba chiều kích: “Thể Chất, Tinh Thần, Tâm Linh;” Văn Hóa Á Đông “Tài, Đức, Sức”

Về Thể Chất: Mạnh mẽ

Về Tinh Thần: Khôn ngoan

Về Tâm Linh: Đầy Ân Sủng, tràn đầy Tình Yêu. Gắn kết với Chúa Giêsu, đón nhận nhựa sống. Đó là Thần Khí, Thánh Thần trong tâm hồn.

 

Về Tài

Cần đào luyện “Khôn ngoan - Mục vụ.” Biết bám sát thực tế. Hầu có thể phân định như Salômôn. Khả năng xem xét và săn sóc, như mục tử săn sóc đàn chiên. Khả năng hiểu biết con người và xã hội. Có tri thức. Có kinh nghiệm thực tế. Biết làm việc chung và làm được việc. Khả năng xây dựng hiệp thông với Chúa và mọi người. Đây là một trong những chức năng bản chất của lãnh đạo tinh thần.

 

Về Đức

Trước hết là Đức Tin kiên định, vì “Nhân bất tín bất lập;” “Dân bất tín bất lập.” Có nghĩa là làm người không có niềm tin hay không được người khác tin sẽ không làm nên cơ đồ. Đức ái - Mục vụ: yêu thương và thực tiễn. Làm người rất mực khiêm nhường, trung thành, chí công, không bè phái, không cục bộ địa phương. Có ý thức. Có tinh thần trách nhiệm. Có khí phách. Yêu tổ quốc. Có lòng tự tôn Dân Tộc.

 

Về Sức

Làm người trẻ trung, khoẻ, nhiệt tình, kiên trì. Đủ sức chịu đựng những áp lực trong vòng 8 tiếng đồng hồ từ gia đình, cộng đồng Dân Chúa, trong nội bộ giáo xứ... Đúng như câu ngạn ngữ Latin: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện.”

 

Nhận định về tài, đức và sức:

Đức Tài, cả hai là thể thống nhất. Người ta thường chọn người có đức và dùng người có tài: “Chọn người hiền đức, dùng người tài năng;” “Tùy tài mà sử dụng;” “Vì việc mà chọn người.” 

Hiểu đúng về Đức: là người có kiến giải, có năng lực, dám đấu tranh phê bình. Họ có khi bị coi là những người kiêu căng, tự mãn, thiếu đức. Ngược lại, có người gọi dạ bảo vâng, không có chính kiến, chẳng làm nên trò trống gì, có khi cũng vẫn được coi là có đức. 

Sức, rất quan trọng trong thời hoà bình. Có trí thức, có đạo đức, mà không có thể lực tốt, cũng đành chịu bỏ đi.

 

4. Gương lãnh đạo

4.1. Abraham

Một con người bình thường, nhưng ông đã biết từ bỏ chương trình của mình để theo ý Thiên Chúa, nên ông đã được Thiên Chúa chúc phúc.

 

4.2. Đào luyện

4.2.1. Nhân Bản và Đạo Đức

Ngài đào luyện Abraham trưởng thành về các đức tính tốt trong sự tương quan với Ngài, như: sự khôn ngoan, chính trực, lương thiện và thanh khiết. Mối tương quan cần phải tin vào Thiên Chúa, vâng phục Ngài và tình yêu dành cho Ngài. Và “Abraham tin Thiên Chúa nên ông đã được kể là người công chính và ông đã được gọi là bạn của Thiên Chúa”[18].

 

4.2.2. Tâm

Mặc dầu Abraham còn xa sự thánh thiện, vì Ông có nhiều lỗi lầm, nhưng Thiên Chúa chọn ông vì ông có “Tâm”: tấm lòng. Điều cốt lõi ở đây là ông hiểu biết Thiên Chúa và ông đã để cho Thiên Chúa biến đổi ông trở thành người lãnh đạo nhờ vâng phục Ngài: “Tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và vâng phục Thánh Ý Ngài.”

Thiên Chúa dùng mọi biến cố hàng ngày, cả tốt cả xấu để hình thành người lãnh đạo. Thường những biến cố này là những tình huống ngoài sự kiểm soát của con người vì những biến cố ấy đòi hỏi con người đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa[19].

 

4.2.3. Tầm

Điều quan trọng đòi hỏi người lãnh đạo: phải có “Tầm.

Cái “Tầm.” Theo nhận xét của Vua Salômon: “Ở đâu không có Tầm Nhìn (linh thị) thì DânChúa sẽ bị diệt vong”[20]. Ngài có ý nói đến “Tầm Nhìn” của người lãnh đạo.

 

Tầm nhìn có liên quan tới cộng đồng. Căn nguyên của tầm nhìn là do mạc khải của Thiên Chúa. Người lãnh đạo thành công là khi truyền đạt tầm nhìn cho dân mà người dân hiểu rằng đó là chương trình của Chúa cho cộng đồng chứ không phải cho người lãnh đạo[21].

 

Người lãnh đạo tinh thần phải kể lại những điều Thiên Chúa đã làm, đang làm và sẽ làm. Qua đó Dân Chúa sẽ nhìn thấy Ngài là Đấng đã dẫn dắt họ, đang lãnh đạo họ và Ngài đã có một chương trình cho tương lai[22].

 

Người lãnh đạo tinh thần như thế ắt hẳn phải có nét đặc trưng nào? Hay một đời sống khả dĩ có thể dẫndắt người khác theo. Vì người lãnh đạo mà không có người theo không phải là người lãnh đạo.

 

4.2.4. Những nét đặc trưng khác

- Trước hết, phải là người được Thiên Chúa xác nhận, như Môisê, Joshua, Samuel trong Cựu Ước hay Chúa Giêsu trong Tân Ước: “Đây là ConTa, Người Ta tuyển chọn; hãy nghe Người”[23]. Khi được xác nhận bởi Thiên Chúa, người đó sẽ được hướng dẫn bởi Thánh Thần và nhất là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi người lãnh đạo sẽ làm thay đổi cuộc đời của họ. Họ cảm thấy kinh nghiệm về Thiên Chúa trong một chiều kích mới. Họ tin tưởng tuyệt đối vào Chúa sẽ thực hiện điều mà Ngài hứa. Một người lãnh đạo tinh thần thật sự khi những người khác được dẫn dắt trở nên giống Chúa Kitô hơn[24].

 

- Thứ đến, phải là người gặp gỡ Thiên Chúa một cách thân mật và được biến đổi, như Môisê gặp Thiên Chúa. Ngoài ra người lãnh đạo tinh thần phải tỏa ra một số đức tính nhân bản, đặc biệt là chính trực và đáng tin. Ngày nay hầu hết các nhà lãnh đạo xuất sắc đều đồng ý rằng“chính trực, đáng tin,” là những nền tảng cho sự thành công trong thương nghiệp và lãnh đạo[25].

 

- Sự thành công trong tinh thần lãnh đạo phải được ghi dấu bởi Thiên Chúa: “Tốt! Người đầy tớ chính trực và trung tín; ngươi trung tín trong việc nhỏ, Tasẽ đặt ngươi coi sóc nhiều sự”[26]. Tuy nhiên, tất cả những điều này không phải ngẫu nhiên mà có, chúng phải được đào luyện.

 

Người lãnh đạo tốt cũng cần chuyên cần tập luyện để phục vụ Thiên Chúa. Tắt một lời, lãnh đạo tinh thần có thế lực hay không, tùy thuộc vào sự hiện diện của Chúa. Và Thiên Chúa có xuất hiện trong người đó hay không[27].

 

4.2.5. Lãnh đạo phải có mục tiêu.

- Ba mục tiêu không xứng với người lãnh đạo tinh thần, cần tránh. Trước hết là mục tiêu “Hiệu Quả.” Không nên vì hiệu quả mà đánh mất con người. Thứ đến là mục tiêu “Toàn Hảo.” Thiên Chúa cần điều làm tốt nhất của bạn chứ không phải chúng ta cho Ngài điều tốt nhất. Sau cùng là mục tiêu “To Hơn, Nhanh Hơn, Hơn Hơn.”

 

Trong khi tiêu chuẩn Phúc Âm chỉ là những việc nhỏ, những người nhỏ nhất. Thiên Chúa có chương trình đặc biệt cho mỗi người và cho mỗi cộng đoàn. Người lãnh đạo chỉ có thể khám phá ra ý muốn của Ngài khi Ngài mạc khải nó cho họ qua sự tương quan cá nhân giữa họ với Ngài.

 

- Tuy nhiên ba mục tiêu tinh thần cần hướng dẫn mỗi người lãnh đạo. Một là dẫn đưa Dân Chúa tới sự trưởng thành tinh thần. Hai là phát triển lãnh đạo. Và sau cùng, quan trọng nhất là “Mang Vinh Quang” tới Thiên Chúa phải là đối tượng khách quan của mỗi người lãnh đạo[28].

 

4.2.6. Cầu nguyện

- Câu hỏi nền tảng cho các nhà lãnh đạo là, “Làm thế nào tôi có thể dẫn dắt Dân Chúa làm điều cần phải làm?” Để thực hiện được câu hỏi này, nhà lãnh đạo tinh thần cần biết chương trình của Chúa, học biết nghe từ Thiên Chúa và điều quan trọng hơn cả là biết cầu nguyện. Vì chính Chúa Giêsu đã dạy: “Không có Thầy các con không làm được gì”[29].

 

- Cầu nguyện chính là hoạt động chủ yếu của lãnh đạo. Cầu nguyện mang tràn đầy Thánh Linh. Cầu nguyện dẫn đến uy quyền Thiên Chúa. Cầu nguyện làm giảm những căng thẳng và cầu nguyện mạc khải chương trình của Thiên Chúa.

 

4.2.7. Làm việc

Nhà lãnh đạo không chỉ là nhà cầu nguyện mà còn là những người lãnh đạo làm việc cực nhọc, một nhà truyền thông không mệt mỏi, truyền thông một cách khoa học và nghệ thuật. Không dài dòng mà rõ ràng, ngay cả thinh lặng. Từ thinh lặng dẫn đến khôn ngoan, từ diễn thuyết tới sám hối. Nhà lãnh đạo phải là những sinh viên ngữ văn và truyền thông[30].

 

Có lẽ ảnh hưởng Kitô giáo lớn nhất là thuyết “Lãnh Đạo Phục Vụ.” Gương Chúa Giêsu rửa chân đã trở thành gương mẫu cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo[31]. Sau cùng nhà lãnh đạo tinh thần luôn giữ vững niềm tin, thể hiện qua thái độ vui tươi, tích cực[32].

 

4.2.8. Ra quyết định

Là một trách nhiệm căn bản của người lãnh đạo. Vì thế khi ra quyết định người lãnh đạo phải theo Thánh Thần hướng dẫn. Muốn được hướng dẫn người lãnh đạo phải trở nên dễ dạy. Đồng thời cũng cần hiểu biết về lịch sử, vì Thiên Chúa có mặt trong lịch sử và lịch sử chính là bài học khôn ngoan.

 

4.2.9. Trách nhiệm

Sau cùng, nhà lãnh đạo tinh thần phải luôn biết điều này là những quyết định có liên quan tới Thiên Chúa vì chính Ngài là Lãnh Đạo[33]. Sau khi ra quyết định, người lãnh đạo chấp nhận hậu qủa, thừa nhận những thiếu sót và kiên định về những quyết định. Và vì ra quyết định là sản phẩm của lãnh đạo, nó hết sức quan trọng, nên nhà lãnh đạo tinh thần luôn phải thăng tiến việc ra quyết định. Luôn cần đánh giá về những quyết định đã làm. Vun trồng mối tương quan giữa quyết định với Thiên Chúa. Luôn tìm kiếm viễn ảnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa[34].

 

4.2.10. Thời khóa biểu

- Bí quyết lãnh đạo thành công là hãy duy trì chương trình của Chúa. Vì thế trong thời khoá biểu của nhà lãnh đạo phải biết làm điều gì quan trọng nhất. Nhưng trước hết họ phải biết điều khiển thời giờ. Nhà lãnh đạo phải tránh trở nên nô lệ thời giờ. Họ phải biết tìm kiếm để hiểu về Thánh Ý Chúa. Họ phải biết cương quyết nói “Không,” với những gì đi ngược lại với mục đích ban đầu.

 

- “Thời giờ là vàng.” Vì thế nhà lãnh đạo phải biết dùng thời giờ vào những việc quan trọng nhất. Tránh làm hấp tấp vội vàng những thời giờ dành cho Thiên Chúa, cho gia đình, cho sức khỏe và cho con người. Tránh phí phạm thời giờ, nhất là vào những công việc không cần thiết hoặc thái quá trong những việc bình thường. Nói chung, phải dùng thời giờ, nhất là những thời gian thặng dư, một cách khôn ngoan.

 

Thực vậy, không ai có thể xác định được chương trình của nhà lãnh đạo ngoại trừ chính họ với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa hướng dẫn họ. Họ phải biết ý muốn của Thiên Chúa và phải biết tiên liệu. Nhà lãnh đạo khôn ngoan biết lược bớt những chương trình không cần thiết. Biết uỷ nhiệm và học biết nói “Không.” Biết chuộng thời giờ[35].

 

4.2.11. Ủy nhiệm

Ngoài ra cần vun trồng đời sống lành mạnh thông thường. Chú ý tới người lãnh đạo uỷ nhiệm, như lời chỉ dạykhôn ngoan của bố vợ Môisê. Hầu có thể đủ sáng suốt tập trung vào những điều trung tâm nhất[36].

 

4.2.12. Cạm bẫy

Bài viết khác