BỐN ĐỀ TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Gm Gio-an Baotixia Bùi Tuần

 

Dịp Tĩnh Tâm tháng này, tôi xin trình bày mấy nét chính của nội dung Công đồng Vatican II. Tôi chọn đề tài trên vì 3 lý do:

 

* Lý do thứ nhất là vì tháng vừa qua, khi nghe rao ý chỉ cầu nguyện tháng 3 in trong lịch công giáo là: “Cầu cho mỗi người Kitô hữu cũng như các Giáo hội địa phương biết luôn luôn theo tinh thần Công đồng Vatican II”  thì nhiều giáo dân và có cả người ngoại đã hỏi: “Tinh thần Công đồng Vatican II là gì?” Thực là bất ngờ nhận thấy không thiếu người, kể cả linh mục, tu sĩ đã không trả lời được.

 

*  Lý do thứ hai là vì tháng vừa qua, một Tổng Giám Mục nổi tiếng cực kỳ bảo thủ, không chịu tuân thủ Công đồng Vatican II đã từ trần. Đó là Đức Cha Marcel Lefèvre. Nhìn ngài, rồi lại nhìn vào chính mình ta, chúng ta nên tự xét mình, ta có thực sự tuân thủ Công đồng Vatican II không?  

 

* Lý do thứ ba là vì tháng vừa qua, tôi nghe có một linh mục ngoại quốc, sau khi đã tiếp xúc với một số Giám mục, Linh mục, tu sĩ và tham dự nhiều cuộc lễ tại Việt Nam, đã có cảm tưởng là: sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam rất sinh động, nhưng tiếc là chưa có bề sâu của Công đồng Vatican II. 

 

Ba lý do trên đây thiết tưởng đủ mạnh để thúc giục tôi nói để thôi thúc anh chị em lắng nghe, và để mời gọi chúng ta cùng suy nghĩ.

 

Tôi sẽ vắn gọn.

         

 Công đồng Vatican đưa ra bốn đề tài chính:

 * Đề tài thứ nhất là Hội Thánh thao thức với sứ mệnh Truyền Giáo.

 

 Truyền Giáo là bản chất của Hội Thánh. Thế nhưng, sau gần 20 thế kỷ, ngay khi lúc Công đồng đang họp, thì nhiều nơi trên thế giới không hề biết gì đến Tin Mừng cứu độ. Thí dụ: trong năm châu thì châu Á đông dân nhất, sắp chiếm gần nửa dân số nhân loại. Nhưng hiện nay số người công giáo chưa tới 4 phần trăm. Rồi trên năm châu hiện nay, có nhiều loại người mà người ta gọi là thuộc những thế giới chuyên môn, thí dụ thế giới khoa học, thế giới văn học, thế giới nghệ thuật, thế giới chính trị, thế giới kinh tế; các thế giới này hoạt động hầu như không hề biết đến Tin Mừng cứu độ.

 

Trong tình hình như trên, Hội Thánh không thể chỉ lo quy tụ những người đã rửa tội, mà cũng phải lo đi rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết Tin Mừng như lời Đức Kitô đã truyền. Khi nhận thức được tiếng gọi đó, thì Bí tích Truyền Chức nên được nhấn mạnh đến ý nghĩa là dụng cụ và dấu chỉ của sự sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Tin Mừng. Do đó, linh mục phải coi việc rao giảng Lời Chúa là thừa tác vụ ưu tiên hàng đầu.

 

Tình hình hiện nay kêu gọi mọi người trong Hội Thánh phải thao thức đến việc truyền giáo. Tất cả mọi thành phần Dân Chúa đều có trách nhiệm phục vụ cộng đoàn Hội Thánh đã thành hình, đồng thời cũng có trách nhiệm xây dựng những cộng đoàn Hội Thánh đang sinh ra.

 

Đừng cho rằng: Hoàn cảnh hiện nay không thuận lợi, nên không thể nghĩ đến việc truyền giáo. Xin thưa: Hoàn cảnh hiện nay tuy khó khăn, nhưng cũng có nhiều mặt thuận lợi cho những ai có tinh thần truyền giáo, khôn khéo và năng động. Hoàn cảnh thời các tông đồ còn khó gấp bội. Hoàn cảnh Việt Nam thời cha Alexandre de Rhodes cũng khó khăn gấp bội. Thế mà các ngài đã hoạt động truyền giáo không ngơi nghỉ. Và kết quả không phải là nhỏ. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho ta hôm nay là: “ta có thực sự quan tâm đến việc truyền giáo không?”

 

* Đề tài thứ hai là Hội Thánh tập trung vào Đức Kitô là trung tâm điểm.

Sách Tông Đồ Công Vụ và các thánh thư cho thấy sự thực quan trọng đó. Thế nhưng, dần dà trung tâm điểm là Đức Kitô đã bị lu mờ. Có nơi đức tin được tập trung vào sự thuộc lòng các kinh, các chân lý đức tin và luân lý. Có nơi đức tin được tập trung vào sự vâng phục các kỷ luật chung của Hội Thánh và riêng của cộng đoàn. Có nơi đức tin được tập trung vào việc tôn sùng vị thánh này đấng thánh nọ.

 

Đang khi đó, đức tin đích thực phải là tin vào Đức Kitô chiụ nạn và phục sinh. Đức Kitô không phải chỉ là gương mẫu, là Thầy dạy mà còn là chính sự sống của người tin. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta là Đàng, là Sự Thực và là Sự Sống”. Tin Đức Kitô là tham dự  vào sự sống của Ngài, là thông hiệp mật thiết với Ngài, như hình ảnh cành cây với thân cây: “Ta là cây nho, chúng con là nhành”. Tin Đức Kitô là có Đức Kitô trong mình, như Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng là chính Đức Kitô sống trong tôi”.

 

Để tập trung vào Đức Kitô, chúng ta cần tăng cường cầu nguyện, suy gẫm đời sống Đức Kitô và học hỏi Mặc Khải của Đức Kitô.

 

Tôi nghĩ rằng: Tín hữu nào và cộng đoàn đức tin nào không đi vào chiều sâu của trung tâm điểm đó, sẽ khó tránh được suy thoái mặc dù được sống trong những hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế thuận lợi. Dù sao câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay, là ta có thực sự tập trung tu đức và mục vụ của ta vào Đức Kitô không?

 

* Đề tài thứ ba là Hội Thánh gồm toàn thể Dân Thiên Chúa.

Trước Công đồng Vatican II, người ta có thói quen nhìn Hội Thánh chỉ là Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục và các linh mục. Thấy cái nhìn nhu vậy là không đúng, Công đồng Vatican II đã xác định Hội Thánh là toàn thể Dân Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa là mọi người đã được rửa tội và tin vào Đức Kitô. Tất cả mọi người ấy đều có giá trị như nhau, đó là giá trị làm con Chúa. Tất cả mọi người ấy đều có tự do như nhau, đó là sự tự do mà Chúa Thánh Thần ban cho. Tất cả mọi người ấy đều có một ơn gọi như nhau, đó là ơn gọi nên thánh. Tất cả mọi người ấy đều có sứ mệnh như nhau, đó là sứ mệnh xây dựng Hội Thánh.

 

Tuy nhiên, trong Dân Chúa phải có những thừa tác vụ, đó là các Đức Giám Mục, các linh mục và các Thày Sáu. Các vị ấy là những người phục vụ, những người đưộc sai đi, những người nhận lãnh trách nhiệm quan trọng. Các ngài là những dụng cụ, những dấu chỉ. Các vị ấy cũng như toàn Dân Chúa đều phải trung thành, gắn bó với Phúc Âm, với bí tích Thánh Thể và với Chúa Thánh Thần.

 

Trong quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng đề cao vai trò giáo dân và muốn cho vai trò giáo dân được phát huy mạnh mẽ. Cũng do quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng Vatican II khuyến khích tinh thần đại kết giữa các Hội Thánh cùng tin vào Đức Kitô và cổ võ tinh thần đối thoại với các tôn giáo khác và nững người không tin.

 

Một quan niệm như thế về Hội Thánh sẽ không phù hợp với quan niệm về Hội Thánh khép kín hình Kim Tự Tháp. Theo đó, Đức Giáo Hoàng truyền xuống cho các Đức Giám Mục, các Đức Giám Mục truyền xuống cho các linh mục, các linh mục truyền xuống cho các giáo dân. Đó là con đường mòn mà Công đồng Vatican II không còn thừa nhận.

 

Thế nhưng, trong cách đối xử và làm việc, không thiếu người vẫn bảo vệ con đường mòn đó. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay là: Chúng ta có xây dựng những mối liên đới đúng đắn trong phạm vi Hội Thánh chúng ta, hợp với định nghĩa Hội Thánh là Dân Thiên Chúa không?

 

* Đề tài thứ bốn là Hội Thánh nhận thức về mối tương quan mật thiết giữa Hội Thánh và thế giới.

Hội Thánh và thế giới cùng xuất phát từ một nguồn mạch, đó là Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc. Hội Thánh và thế giới cùng được hướng dẫn về cùng một mục đích, đó là sống hạnh phúc do có công lý, bình an, yêu thương đoàn tụ trong gia đình một cha chung trên trời. Hội Thánh và thế giới cùng có các thành viên như nhau đó là những con người, vừa là dân Chúa, vừa là công dân một nước.  Như vậy, một cách huyền nhiệm, thế giới đã thuộc về Chúa, về Đức Kitô và về Hội Thánh của Ngài. Do đó, mọi người trong thế giới và mọi giá trị của họ, bất cứ có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, bất cứ thuộc tôn giáo nào, đều có quyền được Hội Thánh kính trọng, và Hội Thánh cần có liên hệ tốt với họ. Cũng vậy, các vấn đề của thế giới, như nền hòa bình, sức khỏe, tình yêu, lao động, khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao….đều là những thực tại trần thế làm nên một cánh đồng mênh mông của cuộc sống, mà Hội Thánh không có quyền làm ngơ.

 

Hội Thánh là một mảng của nhân loại được đặc ân có Tin Mừng cứu độ, thì Hội Tháni đem Tin Mừng ấy tưới cho cánh đồng muôn mầu đó. Hội Thánh phải cởi mở dấn thân vào các thực tại trần thế. Các vấn đề của cuộc sốngphải được Hội Thánh quan tâm. Hội Thánh phải có mặt và góp phần giải quyết các vấn đề đang là những trăn trở của con người hôm nay. Không phải chỉ ra khỏi nhà thờ, người Kitô hữu mới nghĩ đến việc dấn thân như vậy, mà ngay trong các lời kinh, các bài thánh ca, cả đến phụng vụ cũng không được quên những nhịp đập của dân tộc mình, của đồng bào địa phương mình, với những niềm vui nỗi buồn của họ.

 

Về điểm này, tôi thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã rất cởi mở và sâu sắc. Trong dịp tiếp hàng giáo sĩ Roma ngày 14.2.1991 Đức Thánh Cha nói: “Hội Thánh phải nhìn mình trong thế giới, và Hội Thánh phải nhìn thế giới qua sứ mệnh của mình”. Trong tinh thần ấy, anh chị em và tôi phải nhìn giáo xứ và giáo phận của ta trong các tương quan với đồng bào của ta và với Tổ Quốc Việt Nam của ta. Ta sống đức tin là sống với và sống trong địa phương này, đất nước này. Đức Thánh Cha kêu gọi ta hãy để ý cái từ với và cái từ trong.

 

Trên đây là những đề tài chính của Công đồng Vatican II. Tôi tóm lại, theo nội dung trong cuốn “Préparer aujourd’hui l’Eglise de demain” của Đức Cha Gabriel Matagrin, Giám Mục Grenoble.

 

Tôi vẫn dùng 4 đề tài trên đây như thước đo, để đánh giá một giáo sĩ, một giáo xứ, một giáo phận. Và tất nhiên, đó cũng là những hướng đi mà tôi cố gắng theo đuổi.

 

[Bài nói chuyện của Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần, Giám Mục Phó Giáo phận Long Xuyên, với các linh mục, tu sĩ dịp Tĩnh Tâm tại Long Xuyên ngày 01 tháng 4.1991].

 

 

BA THAO THỨC XUẤT PHÁT TỪ CÔNG ĐỒNG VATICAN II  & HOÀN CẢNH VIỆT NAM

Gm Gio-an Baotixia Bùi Tuần

 

Lời đầu tiên tôi muốn nói ở đây là lời cám ơn tất cả anh em. Cám ơn vì anh em đã có mặt ở đây, cám ơn vì những tình cảm tốt lành anh em đã dành cho tôi và cho địa phận. Cám ơn vì những đóng góp thân tình và tích cực anh em dành cho Hội Thánh nói chung và giáo xứ mình nói riêng.

 

Tôi coi cuộc gặp gỡ hôm nay là cuộc gặp gỡ gia đình, một cuộc gặp gỡ hiếm có. Vì thế, tôi muốn lợi dụng cuộc gặp gỡ gia đình này để tâm sự với anh em.

 

Tôi xin chia sẻ một số thao thức của tôi, những thao thức ngày đêm như những hòn than cháy bỏng âm ỉ trong lòng tôi.

 

1/ Thao thức thứ nhất của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống.

Khi nhìn về tương lai, tôi thấy trong những năm sắp tới, cái sẽ nắm quyền chỉ huy con người Việt Nam không còn là ý thức hệ nữa, mà sẽ là văn hoá đời sống. Anh em chỉ cần nhìn qua bầu khí tâm lý lúc này của những người chung quanh và của chính chúng ta, thì sẽ hiểu được điều tôi nói. Cái gì đang điều khiển con em chúng ta? Cái gì đang hướng dẫn những người chung quanh chúng ta trong những lựa chọn, trong những sắp xếp, trong các chương trình, trong các kế hoạch? Thưa là những gì nhìn thấy ở tivi, ở video, những gì nhìn thấy ở những tiệm bày bán, những gì nhìn thấy ở các mẫu mã, những gì nhìn thấy ở trên con người, những gì nhìn thấy ở các đồ vật bày trong mỗi gia đình. Rồi ngoài những cái nhìn thấy như vậy, còn là những gì đọc được trên các sách , các báo, trong các dư luận thu tập được qua những cuộc dối thoại trao đổi. Thêm vào đó còn là những gì nghe được qua đài này đài nọ.

 

Tất cả những cái đó đang mở ra một chân trời mới về lãnh vực khoa học, về lãnh vực kỹ thuật, về lãnh vực mỹ thuật, về lãnh vực tư tưởng. Nó cung cấp cho con người bây gìơ những giá trị mới. Chẳng hạn như cái gía trị bây giờ người ta cho là rất quan trọng – mà trước đây ta không để ý – đó là sự chính xác.  Đồng hồ tốt là đồng hồ phải chính xác, đúng giờ. Hoạt động tốt là hoạt động phải chính xác, đúng việc, đúng nội dung, đúng thời, đúng nơi. Người tốt là người phải chính xác, nói đúng làm đúng. Tất cả những gía trị như thế đang dần dần tạo ra một thứ tòa nhà vô hình để che chở cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một vườn hoa vô hình để làm đẹp cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một dòng sông vô hình để phát triển cuộc sống. Cuộc sống nào cũng phải dính vào đó, kể cả cuộc sống đức tin. Ví dụ như cuộc lễ hôm nay, nội dung thuần túy đức tin, nhưng phải dựa vào văn hóa cuộc sống. Nếu hệ thống âm thanh không tốt, thì cuộc lễ hôm nay sẽ không thành công. Nếu không có những vẻ đẹp của cung thánh, vẻ đẹp của những mầu hoa mầu áo, thì chưa chắc cuộc lễ tôn giáo sẽ thành công. Nếu những bài thánh ca của ca đoàn, của cộng đoàn không có kỹ thuật, tinh thần dân tộc thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu thiếu một chút kinh tế, thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu bài giảng của tôi không có tính cách hệ thống rõ ràng, chính xác, cuộc lễ chưa chắc sẽ thành công.

 

Tôi gọi tất cả những gía trị ấy là văn hóa cuộc sống. Văn hóa cuộc sống chính là trình độ, cái đúng, cái thực, cái hay, cái đẹp, cái thiện trong tư tưởng, trong lời nói, trong việc làm, trong các tương quan.

 

Văn hóa cuộc sống ví như chiếc xe. Ta phải chuyên chở đức tin nhờ chiếc xe đó. Nếu thiếu văn hóa cuộc sống, đức tin sẽ khó diễn tả được, sẽ khó vận chuyển được, sẽ khó hấp dẫn được.

 

Văn hóa cuộc sống dần dần trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá một con người, đánh gía một họ đạo, đánh gía một Hội Thánh, đánh gía một dân tộc. Nếu người ta đến xứ đạo chúng ta, thấy nhà thờ rất lớn, nhưng khi gặp cha xứ, tu sĩ, hội đồng giáo xứ, giáo dân, người ta thấy văn hóa cuộc sống của ta quá thấp, quá thiếu, tôi e rằng người ta sẽ chê cười.

 

Nền văn hóa cuộc sống như tôi vừa nói, đang làm nên gía trị của con người, nhất là khi chúng ta nhìn về tương lai, một tương lai sẽ được hướng dẫn bởi văn hóa, chứ không bởi chính trị.

 

Trên đây là cái nhìn của tôi về năm 2000. Xây dựng nhân sự linh mục, tu sĩ, hội đồng giáo xứ và quảng đại quần chúng công giáo là phải để ý xây dựng nền văn hóa cuộc sống. Mỗi người phải nâng cao trình độ tư tưởng lên, trình độ kỹ thuật lên, trình độ khoa học lên, trình độ nhân bản lên.

 

Nói như vậy để anh em hiểu thiện chí không đủ. Tôi biết là anh em đầy thiện chí. Nhưng nếu chúng ta không để ý đến vấn đề xây dựng thêm văn hóa cuộc sống, tôi sợ rằng tương lai đang mở ra, nhưng chúng ta sẽ lại lỡ chuyến tầu lịch sử, sẽ lại lỡ chuyến xe lịch sử, vì chúng ta không biết đi vào đúng tuyến đường lịch sử, đó là văn hoá.

 

2/ Thao thức thứ hai của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin           

Tôi cũng đang nhìn về năm 2000. Tương lai trước mặt là một thời điểm mở ra. Mà khi mở ra thì các trào lưu văn minh sẽ tràn vào. Cái tốt cũng tràn vào, cái xấu cũng tràn vào. Cái tốt cũng hấp dẫn, cái xấu nhiều khi hấp dẫn hơn.

 

Trong thời điểm mở ra như vậy, nếu đức tin không vững, không sâu, không thực chất, mà chỉ là cái hình thức bên ngoài, thì phong trào văn minh tự do đang tới sẽ lôi cuốn những cái vỏ đức tin ấy như những chiếc bèo trên sông. Vì thế mà tôi muốn rằng bây giờ còn thời giờ thì phải xây dựng nội dung đức tin cho sâu, cho trúng, cho vững.

 

Nội dung đức tin mà tôi thấy cần thông báo cho anh em, đó là sự gặp gỡ đức Kitô sống động. Khi tôi thấy các trẻ đọc giáo lý rất thuộc tôi vẫn nghĩ rằng thuộc giáo lý vẫn chưa phải là đức tin. Đức tin là đón gặp được Đức Kitô sống động. Ngài đến với ta, Ngài ở trong ta, Ngài chia sẻ sự sống của Ngài với ta. Sống đức tin là một cuộc trao đổi tình yêu với Chúa như trao đổi tình yêu giữa hai người thương nhau sống động.

 

Rồi sống đức tin là nhận ra dung mạo thực của Chúa. Quen gặp Chúa rồi, ta sẽ nhận ra khuôn mặt của Chúa. Cái đẹp nhất của Ngài là tình yêu. Không phải gặp được ở sách giáo lý, mà do tiếp xúc với Ngài nhiều lần. Sống với Ngài, nên thấy khuôn mặt của Ngài có nét đặc biệt đó là tình yêu thương xót.

 

Rồi sống mật thiết với Đức Kitô, sẽ dần dần nhận ra chữ ký của Chúa Kitô. Tôi dùng từ đó để anh em hiểu. Khi tôi gặp một người, tôi để ý xem người ấy có chữ ký của Chúa Kitô trên đời sống của họ không. Có những mét của Chúa Kitô rất dễ nhận ra. Thí dụ nét khiêm nhường. Đức Kitô quì xuống rửa chân cho các môn đệ. Đó là sự khiêm nhường trên mọi sự khiêm nhường. Ai có nét đó thì như mang nét chữ ký của Đức Kitô trong đời sống mình. Rồi một nét nữa của Đức Kitô là quên mình. Trên Thánh Gía, Chúa Giêsu chết mà không lo cho mình, chỉ lo cho người khác. Ngài quên mình vì phục vụ. Rồi một nét khác của Đức Kitô là sự hiền lành yêu thương. Khi nhìn một cuộc sống, khi nhìn một gia đình, khi nhìn một nhà xứ, một nhà tu nếu tôi cảm thấy có một cái gì là quên mình hy sinh có một cái gì là khiêm nhường hiền lành, tôi sẽ cho rằng Đức Kitô đã ký trên cuộc sống đó. Cái đó chỉ nhận ra được qua cuộc sống đức tin. Chứ nếu đức tin chỉ là học cho thuộc bài giáo lý thì không thấy được.

 

Rồi một khi đã quen sống với Đức Kitô đức tin là gặp gỡ Ngài, sống với Ngài thì chúng ta cũng dễ nhận ra hương thơm của Đức Kitô. Đó là Tám Mối Phúc Thật. Tám Mối Phúc Thật là một thư hương thơm thiêng liêng tuyệt vời, chỉ những người sống đức tin sâu sắc, thực sự mới có, và mới cảm thấy được.

 

Rồi sống đức tin còn là chia sẻ những tâm tình, thao thức của Đức Kitô. Thật sự khi nhìn các sinh hoạt về ngoài của một giáo xứ, tôi thấy hoạt động bên ngoài có vẻ rầm rộ. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nội dung đức tin chưa sâu. Nhất là khi tôi nhìn những thao thức của họ. Ít người có những thao thức của Chúa Kitô. Thao thức của Chúa Kitô là đi cứu độ mọi anh em, người lương người giáo. Ngài yêu thương tất cả, cứu độ tất cả. Khi nhìn sinh hoạt dân Chúa tại các giáo xứ, tôi thấy ít có những thao thức ấy lắm. Tôi cảm thấy như thể nhiều nơi mắc một chứng bệnh mất máu thiêng liêng. Đức tin nghèo nàn, xanh nhợt, chỉ là cái vỏ thôi. Bởi vì đã không có những thao thức với Đức Kitô. Ngày đêm chỉ thao thức về tiền của, rồi cạnh tranh nhau chuyện này chuyện nọ, chứ không phải là thao thức như Đức Kitô suốt ngày suốt đêm, lo phục vụ loài người, đi tìm loài người.

 

Điều mà tôi rất thao thức đó là xây dựng nhân sự sao cho có một nội dung đức tin cho thực đẹp. Cần phải sống đức tin, nhận ra chữ ký của Đức Kitô, nhìn rõ khuôn mặt thực sự của Đức Kitô, chia sẻ những thao thức của Đức Kitô trong từng thời điểm, nhận ra được những gía trị thực sự mà Đức Kitô muốn đem lại cho Việt Nam hôm nay.

 

3/ Thao thức thứ ba của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt đổi mới con người theo tinh thần Công Đồng Vatican II           

Như tôi vừa nói, tương lai sẽ là một tương lai cởi mở. Nhà Nước sẽ cởi trói chúng ta, cởi trói về pháp luật. Còn Hội Thánh đã cởi trói cho chúng ta từ lâu rồi qua Công Đồng Vatican II. Thế nhưng, khi nhìn vào các nếp sống đạo, tôi thấy chúng ta tự trói mình nhiều quá. Chúng ta không những là không chịu cởi trói ra, mà lại còn tự trói mình lại.

 

Trước hết, Công Đồng Vatican II mở trói cho chúng ta bằng cách khuyên chúng ta hãy tập trung vào Đức Kitô và Phúc âm của Người. Điều này có nghĩa là đừng trói mình vào các tập tục nghịch với Phúc âm Đức Kitô. Chúng ta thử nhìn xem các tập tục trong các kênh, các xứ. Nhiều tập tục là những cái dây, những cái xiềng xích trói buộc con người. Mà đó là tự ta trói mình và trói nhau. Đức Kitô bảo mở ra. Công Đồng nói mở ra. Hãy nhìn Đức Kitô và Phúc âm của Người. Căn bản cốt cách của Đạo là công bình bác ái. Tập trung vào đó thì tự nhiên Đạo của ta sẽ mở ra.

 

Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi vẫn còn trói mình trong các bờ cõi chật hẹp của họ đạo mình. Đang khi đó Công Đồng Vatican II đã mở trói cho chúng ta, bảo chúng ta rằng hãy nhìn về phía các nơi truyền giáo, hãy biết nhìn đến những người ngoài công giáo ngoài Hội Thánh chúng ta.

 

Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi còn trói mình vào một hình ảnh phiếm diện của Hội Thánh. Cứ cho Hội Thánh chỉ là các Đức Cha, các linh mục, đang khi Công Đồng Vatican II nói rằng Hội Thánh là tất cả Dân Thiên Chúa. Ai cũng có bổn phận trong Hội Thánh. Ai cũng có quyền trong Hội Thánh. Những cái đó thực sự Công Đồng đã mở ra rồi. Nhưng chúng ta cứ tự trói lại.

 

Rồi nhìn vào các giáo xứ, tôi lại thấy nhiều người tự trói mình vào một thói quen hẹp hòi cho rằng sống đạo là chỉ cần những việc của tôn giáo, rồi coi thường những gía trị trần thế, đang khi đó Công Đồng Vatican II nói rằng không những phải lo việc đạo, mà cũng phải dấn thân phát triển những gía trị trần thế, chính trị, khoa học, mỹ thuật, cuộc sống…

 

Phải mở ra. Hãy cởi trói. Đừng trói mình. Đừng trói nhau. Đó là tinh thần của Công Đồng Vatican II mà tôi thấy nhiều nơi chưa hiểu, chưa thấm nhuần.

 

Thưa anh em,

Tôi vừa nói với anh em về ba thao thức của tôi:

Thao thức thứ nhất là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống,

Thao thức thứ hai là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin, 

Thao thức thứ ba là công việc xây dựng nhân sự về tinh thần Công Đồng Vatican II đổi mới.

 

Xin anh em nhớ ít ra ba thao thức đó, để anh em thông cảm với tôi nhiều hơn, để anh em cùng thống nhất với tôi trong đường lối xây dựng nhân sự, và để anh em biết rằng nếu không đạt được lý tưởng mình mong muốn thì ít ra cũng cố gắng góp phần vào bằng cách cầu nguyện cho chương trình mà tôi vừa chia sẻ.

 

Năm 2000 là năm thị trường cạnh tranh mạnh. Cạnh tranh hàng hóa, cạnh tranh người giỏi, cạnh tranh người tài, cạnh tranh người có đức.

 

Cạnh tranh quan trọng nhất chính là cạnh tranh con người. Nếu chúng ta, gia đình ta có con em tốt, có một nền văn hóa cuộc sống cao, có một nội dung đức tin vững, sâu, có một tinh thần đổi mới của Vatican II, chúng ta đi đâu cũng sẽ được kính trọng. Chúng ta có thể đối thoại với Phật Giáo, với anh em Cộng Sản, với Tin Lành, với bất cứ ai.  Còn trái lại, nếu chúng ta kém về văn hóa cuộc sống, nếu chúng ta nông cạn về đời sống đức tin, nếu chúng ta cứ  tự trói mình vào nếp sống cũ ngược lại Công Đồng Vatican II, thì tôi sợ rằng càng đi vào tương lai năm 2000, chúng ta càng sẽ yếu, chúng ta sẽ tự mình làm nô lệ cho người khác, họ đạo chúng ta sẽ không thể so sánh được với ai, người ta sẽ không kính trọng chúng ta, người ta sẽ không cần chúng ta. Và như vậy, không những chúng ta thiệt, mà Đạo chúng ta cũng thiệt, Hội Thánh chúng ta thiệt, Đất Nước chúng ta thiệt.

 

Tóm tắt một lời, vấn đề xây dựng nhân sự là rất quan trọng. Văn hóa cuộc sống, nội dung đức tin và tinh thần Công Đồng Vatican II. Cứ ba hướng đó mà đi, nếu chúng ta biết lo cho con em mình, lo cho họ đạo mình.

 

Hãy cố gắng. Tôi nghĩ rằng công việc không phải dễ đâu. Nhưng nếu chúng ta có hướng đi, có kế hoạch, có thiện chí. Và nếu chúng ta biết cùng làm với nhau thì địa phận chúng ta sẽ lên, giáo hạt chúng ta sẽ lên, giáo xứ chúng ta sẽ lên, gia đình chúng ta sẽ lên và bản thân chúng ta sẽ có gía trị trong tương lai của Đất Nước đang mở ra.

              

Xin cám ơn anh em.

 

[Bài nói chuyện của Đức Cha G.B. Bùi Tuần, giám mục phó Long Xuyên tại Nhà Thờ Thạnh An, ngày 14.4.1992,với các Ban Hành Giáo giáo hạt Thốt Nốt]

Bài viết khác